Đình thần Nguyễn Trung Trực
Ngôi đình thờ cá Ông của ngư dân Rạch Giá trở thành nơi thờ và đặt mộ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, nơi mở Lễ hội 26–28 tháng 8 âm lịch.
Heritage spaces · Rạch Giá
South · Province
From Sam Mountain and the Tra Su cajuput forest to the sea at Ha Tien and Phu Quoc island, where Kinh, Khmer, Chinese and Cham people live side by side.



10.39°N · 104.98°E
where it sits in VietnamBackground: A Phu Quoc beach at sunset
A sketch of where the places sit relative to each other, on a kilometre grid. 4 places have no coordinates yet, so they are not on the sketch.
Ngôi đình thờ cá Ông của ngư dân Rạch Giá trở thành nơi thờ và đặt mộ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, nơi mở Lễ hội 26–28 tháng 8 âm lịch.
Heritage spaces · Rạch Giá
Cụm hơn 20 hang trong núi đá vôi Mo So ở Kiên Lương, căn cứ cách mạng hai thời kỳ kháng chiến, di tích lịch sử và thắng cảnh quốc gia từ 1995.
Nature & seasons · Kiên Lương
Trại giam tù binh ở An Thới từng giam giữ khoảng 40.000 lượt người giai đoạn 1967–1973, di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2014.
Heritage spaces · Phú Quốc
Miếu thờ Bà và Cậu của ngư dân Phú Quốc trên ghềnh đá cửa sông Dương Đông, xây kiên cố năm 1937, lễ hội 15 và 16 tháng 10 âm lịch.
Heritage spaces · Phú Quốc
Chợ đêm du lịch bên sông Dương Đông, họp trên đường Bạch Đằng từ 2016; đã dừng hoạt động từ tháng 3/2026, chính quyền đặc khu đang tìm địa điểm mới.
Local markets · Phú Quốc
Đảo núi lớn nhất đặc khu Kiên Hải, có đỉnh Ma Thiên Lãnh khoảng 450 m, đường vòng quanh đảo nối các bãi biển và nghề nước mắm Hòn.
Nature & seasons · Kiên Hải
Chùa Phật giáo Nam tông Khmer giữa trung tâm Tri Tôn, xây lại năm 1896, giữ hơn 100 bộ kinh lá buông, di tích quốc gia năm 1986.
Heritage spaces · Tri Tôn
Ngọn đồi đá của núi Cô Tô với hệ thống hang đá từng là căn cứ Tỉnh ủy An Giang, di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia từ năm 1985.
Heritage spaces · Ô Lâm
Ngôi miếu dưới chân núi Sam thờ Bà Chúa Xứ, nơi diễn ra Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được UNESCO ghi danh năm 2024.
Heritage spaces · Vĩnh Tế
Nhà sàn năm 1887 nơi Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ra, cùng đền tưởng niệm và nhà trưng bày trên cù lao Ông Hổ, di tích quốc gia đặc biệt.
Heritage spaces · Mỹ Hòa Hưng
Nơi tưởng niệm 3.157 người dân Ba Chúc bị quân Pol Pot sát hại tháng 4/1978, lưu giữ 1.159 bộ hài cốt, di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1980.
Heritage spaces · Ba Chúc
Chợ trung tâm phường Châu Đốc bên sông Châu Đốc, có khu mắm, khô bày hàng chục loại mắm cá, tôm, ba khía của vùng biên An Giang.
Local markets · Châu Đốc
Ngôi chùa khai sơn năm 1845 trên triền núi Sam, dựng quanh hang đá nơi ni sư Diệu Thiện ẩn tu, một trong năm di tích quốc gia của Khu du lịch quốc gia núi Sam.
Heritage spaces · Vĩnh Tế
Cơ sở Long Xuyên của Bảo tàng tỉnh An Giang, nơi có phòng 6 bảo vật quốc gia văn hóa Óc Eo, trưng bày lịch sử cách mạng và văn hóa bốn dân tộc.
Museums · Long Xuyên
Cụm đá vôi giữa biển sau chùa Hang ở Hòn Chông, Kiên Lương; hòn Phụ (cha) gãy đổ đêm 9/8/2006, nay chỉ còn hòn Tử.
Nature & seasons · Kiên Lương
Đảo lớn nhất Việt Nam trong vịnh Thái Lan, nay là đặc khu Phú Quốc; có vườn quốc gia hơn 36.000 ha, nhiều bãi biển và cụm đảo An Thới.
Nature & seasons · Phú Quốc
Quần đảo 21 hòn đảo trong vịnh Thái Lan thuộc đặc khu Kiên Hải, có làng chài, lồng bè nuôi cá và các bãi tắm nước trong; đi bằng tàu cao tốc từ Rạch Giá hoặc Phú Quốc.
Nature & seasons · Kiên Hải
Nay là cơ sở 1 của Bảo tàng tỉnh An Giang, đặt trong ngôi nhà cổ xây 1911–1920 ngoài Pháp trong Việt, trưng bày khoảng 3.000 hiện vật về Kiên Giang cũ.
Museums · Rạch Giá
Rừng tràm ngập nước trên đất than bùn, khu Ramsar và Vườn di sản ASEAN; vùng lõi tạm ngưng đón khách trong cao điểm mùa khô để phòng cháy.
Nature & seasons · U Minh Thượng
Di tích khảo cổ đặc biệt quan trọng của văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam, rộng khoảng 433 ha quanh núi Ba Thê và cánh đồng Óc Eo; đang lập hồ sơ Di sản thế giới.
Heritage spaces · Óc Eo
Lăng mộ dưới chân núi Sam của Thoại Ngọc Hầu, người chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế, an táng cùng hai phu nhân và hơn 50 dân phu vô danh.
Heritage spaces · Vĩnh Tế
Ngôi chùa Tổng đốc Doãn Uẩn dựng năm 1847 dưới chân núi Sam, ba cổ lầu nóc tròn dáng Ấn Độ, nơi an táng Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên.
Heritage spaces · Vĩnh Tế
Đầm nước mặn hơn 1.384 ha giữa phố Hà Tiên và núi Tô Châu, cảnh "Đông Hồ ấn nguyệt" trong Hà Tiên thập cảnh của Mạc Thiên Tích.
Nature & seasons · Hà Tiên
Chợ vùng biên sát Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, bán mắm, khô, sản phẩm thốt nốt cùng quần áo, thực phẩm nguồn gốc Thái Lan, Campuchia.
Local markets · Tịnh Biên
Nhà thờ giáo xứ bên sông Tiền do linh mục Gazignol xây cuối thế kỷ XIX, phong cách Roman, tháp chuông 35 m, vẫn là nơi sinh hoạt của giáo dân.
Heritage spaces · Cù Lao Giêng
Làng mộc và chạm khắc gỗ ven sông Tiền ở xã Long Điền, dãy cửa hàng đồ gỗ hơn 4 km, nghề truyền qua nhiều đời từ chợ của người làm nghề thủ công.
Craft villages · Long Điền
Ngọn núi cao hơn 700 m của vùng Bảy Núi, trên đỉnh có tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m, hồ Thủy Liêm và nhiều chùa; lên núi bằng đường bộ hoặc cáp treo.
Nature & seasons · Núi Cấm
Thánh đường Hồi giáo mái vòm trắng – xanh ngọc của người Chăm Islam ở xã Châu Phong, trong làng Chăm có nghề dệt thổ cẩm bên ngã ba sông Châu Đốc.
Heritage spaces · Châu Phong
Hồ nước xanh hình thành từ hố khai thác đá cũ bên đồi Tà Pạ, gần chùa Khmer Phnom Ta Pa, nhìn ra cánh đồng lúa và hàng thốt nốt Tri Tôn.
Nature & seasons · Tri Tôn
Bảo tàng tư nhân mở năm 2009 ở Dương Đông, tòa nhà năm tầng kể tự nhiên, lịch sử và đời sống đảo Phú Quốc qua khoảng 2.000 hiện vật.
Museums · Phú Quốc
Chợ họp trên sông Hậu lúc sáng sớm, ghe chở dừa, khóm, khoai treo hàng trên cây bẹo; khách thuê đò ăn sáng giữa sông.
Local markets · Long Xuyên
Di tích lịch sử văn hóa tưởng niệm hai thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết, do chính nữ sĩ Mộng Tuyết xây dựng năm 1994 bên dòng Đông Hồ, dưới chân núi Tô Châu.
Heritage spaces · Hà Tiên
Cổ tự dưới chân núi Bình San, tương truyền gắn với giai thoại thứ phi Nguyễn Thị Xuân thời Tổng trấn Mạc Thiên Tích, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ 2004.
Heritage spaces · Hà Tiên
Núi đá vôi cao khoảng 100m với 14 hang động nối liền nhau bằng hệ thống cầu thang dài 3.200m, di tích thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 2007.
Heritage spaces · Hà Tiên
Cổ tự mang tên "Sắc Tứ Tam Bảo Tự", gắn với Thái Thái Phu Nhân, thân mẫu Tổng trấn Mạc Cửu, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ 2004, từng được vịnh trong Hà Tiên Thập Vịnh.
Heritage spaces · Hà Tiên
Ngôi đình cổ hơn 250 năm tuổi thờ ba vị tiền nhân dòng họ Mạc, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, người có công khai phá và bảo vệ vùng đất Hà Tiên.
Heritage spaces · Hà Tiên
Khối đá vôi cao khoảng 101m, di tích thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 1989, tương truyền là nơi Thạch Sanh giết đại bàng tinh cứu công chúa Quỳnh Nga.
Heritage spaces · Hà Tiên
Ngôi chùa Khmer sát biên giới Việt Nam – Campuchia, phế tích được giữ nguyên hiện trạng làm chứng tích chiến tranh biên giới Tây Nam 1977–1978, di tích lịch sử cấp tỉnh từ 2003.
Heritage spaces · Hà Tiên
Ngọn núi giữa lòng Hà Tiên với đền thờ và khu lăng mộ hơn 60 ngôi mộ cổ của dòng họ Mạc, dòng họ khai lập vùng đất Hà Tiên, danh thắng cấp quốc gia từ 1989.
Heritage spaces · Hà Tiên
Bãi biển hình cánh cung rộng khoảng 17ha, một trong mười cảnh đẹp Hà Tiên xưa, nổi tiếng với những buổi hoàng hôn vì quay mặt về hướng Tây Nam.
Nature & seasons · Hà Tiên
Xứ lụa bên sông Tiền, quê của lãnh Mỹ A dệt từ tơ tằm và nhuộm đen bằng trái mặc nưa; nay chỉ còn vài cơ sở gia đình giữ nghề.
Craft villages · Long Phú
Làng phụ nữ Khmer dệt lụa thổ cẩm bằng khung cửi ở ấp Srây Skoth, xã An Cư, được khôi phục từ năm 1998, nay còn 63 thành viên hợp tác xã.
Craft villages · An Cư
Hội đua bò trên ruộng nước của người Khmer vùng Bảy Núi dịp lễ Sene Dolta, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2016.
Festivals
Lễ hội tưởng nhớ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
Festivals · Rạch Giá
No places match these filters.
Heritage spaces
Ngôi đình thờ cá Ông của ngư dân Rạch Giá trở thành nơi thờ và đặt mộ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, nơi mở Lễ hội 26–28 tháng 8 âm lịch.
Đình thần Nguyễn Trung Trực nằm ở số 14 đường Nguyễn Công Trứ, phường Rạch Giá (trước là phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang). Đây là nơi thờ chính và nơi đặt mộ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực (1838–1868), người đốt tàu Espérance ở vàm Nhựt Tảo năm 1861, đánh chiếm đồn Kiên Giang năm 1868 và bị quân Pháp xử chém tại Rạch Giá ngày 27/10/1868.
Ngôi đình vốn thờ thần Nam Hải, tức cá Ông, của ngư dân làng Vĩnh Thanh Vân, được vua Tự Đức sắc phong năm 1852. Vì chính quyền Pháp cấm thờ ông, dân làng đặt bài vị ông chung trong đình và cúng vào ngày 26 đến 28 tháng 8 âm lịch, tránh ngày ông bị hành hình. Đình dời về chỗ hiện nay năm 1891 theo hồ sơ di sản (Ban Bảo vệ di tích ghi 1881), mang tên đình thần Nguyễn Trung Trực từ sau năm 1954.
Chánh điện hiện nay xây từ 1964 đến 1970 theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Văn Lợi: ba gian, mái ngói âm dương, nóc đắp lưỡng long tranh châu, hai bên là đông lang, tây lang. Theo Ban Bảo vệ di tích, di cốt ông được tìm thấy nhờ chỉ dẫn của nhà văn Sơn Nam; mộ trong khuôn viên đình đặt viên đá đầu tiên ngày 18/10/1986. Ngày 22/3/1988, Bộ Văn hóa công nhận "Mộ và đình Nguyễn Trung Trực" là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia (Quyết định 191/VHQĐ).
Vào đình, bạn thắp hương ở chánh điện, bàn thờ giữa thờ ông, bên hữu thờ Phó cơ Nguyễn Hiền Điều; viếng mộ phía trước tây lang; rồi sang nhà trưng bày thân thế, sự nghiệp khánh thành năm 2013, có mô hình trận đốt tàu Espérance và trận đánh đồn Kiên Giang. Câu đối "Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa, Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần" của Huỳnh Mẫn Đạt nhắc chính hai trận này.
Lễ hội đình thần Nguyễn Trung Trực diễn ra ngày 26, 27, 28 tháng 8 âm lịch, được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 151/QĐ-BVHTTDL ngày 2/2/2023; năm 2026 rơi vào 6 đến 8/10. Người dân nhiều tỉnh tự góp gạo, củi, công sức nấu cơm chay đãi khách miễn phí; mâm cúng có khoai lang, cua đồng, cá lóc nướng, nhắc thời nghĩa quân gian khổ.
Mặt hạn chế: di tích đón 2 đến 3 triệu lượt khách mỗi năm, ba ngày lễ rất đông, đường quanh đình phải phân luồng. Giờ mở cửa và vé chưa có công bố chính thức; ngày thường có thể gọi Ban Bảo vệ di tích để hỏi trước.
Người dân gọi ông là "Ông Nguyễn" và thờ như một vị thần, nên đây là nơi thờ tự đang hoạt động: mặc kín đáo, giữ trật tự, không chen vào khu tế khi ban tế làm các nghi thượng đại kỳ, phần hương, tế đàn cả, hỏi trước khi chụp bàn thờ hay người đang lễ.
Đình hợp với người muốn hiểu phong trào chống Pháp ở Nam Kỳ và cách người miền Tây tôn một anh hùng thành thần; thích không khí lễ hội thì đi đúng ba ngày lễ, muốn yên tĩnh thì đi ngày thường. Nơi diễn ra trận đốt tàu là Di tích Vàm Nhựt Tảo, xã Nhựt Tảo, tỉnh Tây Ninh; tư liệu về ông có ở chuyên đề Nguyễn Trung Trực của Bảo tàng tỉnh An Giang cơ sở 1, cùng phường.
Keywords
Nature & seasons
Cụm hơn 20 hang trong núi đá vôi Mo So ở Kiên Lương, căn cứ cách mạng hai thời kỳ kháng chiến, di tích lịch sử và thắng cảnh quốc gia từ 1995.
Mo So là khối núi đá vôi rộng khoảng 23,5 ha ở ấp Ba Núi, cách trung tâm xã Kiên Lương khoảng 3 km, trên đường ra Hà Tiên (còn khoảng 20 km). Theo tiếng Khmer, Mo So nghĩa là núi vôi, đá trắng. Gọi là "hang Moso" nhưng trong núi có hơn 20 hang thông nhau. Khu này được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử và thắng cảnh cấp quốc gia theo Quyết định 188 ngày 13/2/1995.
Theo VietnamPlus, năm 1947 Công binh xưởng 18 của Quân khu 9 được lập trong hang để sửa và sản xuất vũ khí. Sáng 4/3/1951 quân Pháp tấn công; trong trận này anh Thạch Xiêm, một chiến sĩ người Khmer, hy sinh để bảo vệ đồng đội và công binh xưởng. Thời chống Mỹ, từ tháng 7/1969 các cơ quan huyện Hà Tiên chuyển về đây, và Mo So là một điểm trên tuyến đường 1C chuyển vũ khí về U Minh Thượng. Các năm 1969–1970 căn cứ bị bao vây, đánh phá và rải chất hóa học. Các hang mang tên đơn vị từng trú ở đó: Quân y, Kinh Tài, Huyện ủy.
Điểm chính là hang Quân y - Kinh Tài, sâu hơn 100 m, thông lên đỉnh núi theo đường gấp khúc nên có ánh sáng và gió lọt vào; trên vách còn khẩu hiệu bộ đội viết. Trong hang có giếng trời, thạch nhũ như ở hang Hai Vòi Rồng, dòng suối ngầm và vũng nước ngọt quanh năm. Núi có hình vành khăn, giữa là một thung lũng nhỏ bao quanh bởi vách đá. Trước cửa hang Quân y có bia tưởng niệm, khách thường dừng thắp hương. Lối đi đã có đèn, cầu và đường nội bộ.
Nói thẳng về hạn chế: Mo So nằm sát khu công nghiệp. Theo quy hoạch tỉnh phê duyệt năm 2024, phía nam, tây nam khu di tích giáp nhà máy xi măng, phía tây giáp dự án nhiệt điện. Khai thác đá vôi đã lấy đi một phần núi; lãnh đạo huyện nói với SGGP năm 2022 rằng Mo So "giữ lại được một nửa". Năm 2014, Sở Văn hóa Kiên Giang thừa nhận khói bụi, tiếng ồn, rung chấn ảnh hưởng tới di tích. Quy hoạch 136 ha giai đoạn 2024–2030 đang được triển khai.
Giá vé và giờ mở cửa chưa có công bố chính thức, bạn nên hỏi UBND xã Kiên Lương hoặc tại chỗ. Trong hang có đoạn tối, nền đá ẩm, có nước chảy; mang giày đế bám, đèn pin, đi theo lối đã có đèn và cầu, không tự vào ngách chưa có lối. Đi cùng người địa phương rành đường là cách an toàn hơn.
Đây là nơi nhiều người đã hy sinh, có người vẫn chưa tìm được hài cốt. Bàn thờ bên vách núi do người dân lập sau khi phát hiện hài cốt liệt sĩ. Giữ giọng nhỏ, không ngồi lên bia, không viết vẽ lên vách hang, không đùa giỡn ở nơi tưởng niệm. Dịp 27/7, xã tổ chức lễ tưởng niệm và cầu siêu tại bia trong khu di tích.
Mo So hợp với người quan tâm lịch sử kháng chiến vùng Hà Tiên, Kiên Lương, đoàn học sinh, và người thích hang đá vôi có giếng trời. Không hợp với người sợ không gian tối, người đi lại khó. Kết hợp với hòn Phụ Tử và chùa Hang trên cùng cung đường; muốn hang động gắn truyện dân gian hơn là chiến tranh, hãy lên Thạch Động ở Hà Tiên.
Keywords
Heritage spaces
Trại giam tù binh ở An Thới từng giam giữ khoảng 40.000 lượt người giai đoạn 1967–1973, di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2014.
Di tích Nhà tù Phú Quốc, tên xếp hạng là Di tích lịch sử Trại giam Phú Quốc, còn gọi là nhà lao Cây Dừa, nằm ở khu vực An Thới phía nam đảo, nay thuộc đặc khu Phú Quốc (trước tháng 7/2025 là phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang). Ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng nơi này là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định 2408/QĐ-TTg); trước đó từ năm 1993 đã là di tích quốc gia.
Khu đất này được dùng làm nơi giam giữ qua ba giai đoạn: Căng Cây Dừa do Pháp lập năm 1953, giam khoảng 14.000 tù binh đến tháng 7/1954; Trại huấn chính Cây Dừa từ cuối năm 1955; và Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc từ tháng 6/1967 đến tháng 3/1973. Trong gần 6 năm cuối, trại giam giữ khoảng 40.000 lượt tù binh, phần lớn là cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, cùng cán bộ dân chính và người dân; khoảng 4.000 người bị giết hại, hàng chục nghìn người mang thương tật.
Theo hồ sơ di tích, trại rộng khoảng 400 ha, gần 500 ngôi nhà, chia thành 12 khu. Mỗi phân khu dài 150 m, rộng 50 m, có 9 phòng giam 20 m x 5 m, lúc cao điểm nhồi 120 đến 180 người một phòng; vách và mái bằng tôn, nền tráng xi măng để tù binh không đào hầm được, ngoài cùng là 7 đến 10 lớp kẽm gai. Dù vậy, tù binh đã tổ chức 45 cuộc vượt ngục thành công; sáng 21/1/1969, 21 người thoát ra qua đường hầm dài 120 m đào trong 6 tháng (Báo Nhân Dân).
Các điểm hiện còn nằm rải rác. Nên bắt đầu ở nhà trưng bày (sa bàn toàn trại, ảnh tư liệu, hiện vật, phim giới thiệu). Sau đó sang phân khu B2 được phục dựng: vọng gác, hàng rào kẽm gai, chuồng cọp, 18 dãy nhà có mô hình tù binh tái hiện sinh hoạt, đấu tranh và tra tấn, phòng 14 còn một đoạn hầm vượt ngục dài khoảng 25 m. Cuối cùng là nghĩa trang tù binh trên đồi 100 với tượng đài nắm tay và bia ghi danh liệt sĩ, cách phân khu B2 khoảng 1 km, và đài tưởng niệm Đồi Sim.
Các điểm cách nhau nên cần xe để đi hết. Các mô hình tù binh tái hiện cảnh tra tấn có thể quá nặng nề với trẻ nhỏ và người dễ xúc động. Giờ mở cửa và phí tham quan chưa có công bố chính thức; Cổng Du lịch An Giang ghi số điện thoại Ban quản lý di tích là 0297 3844 578, nên gọi hỏi trước. Dịp lễ như 2/9 khách đến đông.
Nhiều cựu tù binh và thân nhân vẫn trở lại nơi này; năm 2013 hơn 1.200 cựu tù họp mặt kỷ niệm 40 năm ngày trở về và làm lễ giỗ tưởng niệm những người đã mất. Mặc trang phục lịch sự, giữ yên lặng, không tạo dáng cười đùa cạnh mô hình, thắp hương ở nghĩa trang và đài tưởng niệm nếu muốn.
Nơi này hợp với người muốn hiểu chế độ nhà tù thời chiến qua chứng tích, đoàn học sinh có người dẫn giải, cựu chiến binh và gia đình. Nếu đi cùng trẻ nhỏ, bạn có thể chỉ xem nhà trưng bày và viếng đài tưởng niệm Đồi Sim; muốn tìm hiểu đời sống cư dân đảo ở một di tích khác loại, hãy chọn Dinh Cậu ở Dương Đông.
Keywords
Heritage spaces
Miếu thờ Bà và Cậu của ngư dân Phú Quốc trên ghềnh đá cửa sông Dương Đông, xây kiên cố năm 1937, lễ hội 15 và 16 tháng 10 âm lịch.
Dinh Cậu là ngôi miếu dựng trên ghềnh đá nơi cửa sông Dương Đông đổ ra biển, cách trung tâm Dương Đông khoảng 200 m về phía tây, nay thuộc đặc khu Phú Quốc (trước tháng 7/2025 là phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang). Đây là nơi ngư dân Phú Quốc thờ Bà và Cậu, đến thắp hương cầu bình an trước những chuyến ra khơi. Theo Báo Kiên Giang, UBND tỉnh Kiên Giang xếp hạng Dinh Cậu là di tích cấp tỉnh, loại hình danh lam thắng cảnh, năm 2012.
Lịch sử Dinh Cậu không được ghi chép thống nhất. Theo lời kể được báo chí ghi lại, tín ngưỡng thờ Bà và Cậu do ngư dân miền Trung mang theo khi đến đảo khoảng cuối thế kỷ XVII; người Phú Quốc gọi nghề chài lưới là "nghề Bà - Cậu". Tương truyền sau nhiều chuyến ngư dân gặp nạn, một mũi đá nổi lên ở cửa biển, dân làng cho là điềm linh nên lập miếu. Miếu ban đầu làm bằng cây lá, đến năm 1937 được xây kiên cố; VnExpress ghi năm 1997 trùng tu.
Từ đường bê tông ven cửa sông, bạn bước lên 29 bậc đá có lan can để vào dinh. Dinh xây theo hình chữ Đinh, mặt hướng ra biển, phía trước có bình phong và mô hình tàu cá hướng ra khơi. Trong chánh điện, Chúa Ngọc Nương Nương được thờ ở giữa, Cậu Quý bên phải, Cậu Tài bên trái, cùng Tả Ban, Hữu Ban, Sơn thần, Thần Tài, Thổ địa.
Lễ hội Dinh Cậu diễn ra ngày 15 và 16 tháng 10 âm lịch, thực chất là lễ cầu ngư. Ngày 15, lễ Nghinh Cậu rước kiệu Hai Cậu qua các tuyến đường chính khu vực Dương Đông, khách có thể đi theo đoàn rước; tiếp theo là lễ Yết Cậu, và lễ Chánh Tế vào đêm 15 với heo, gà, hoa quả. Phần hội có bắt vịt trên bãi biển, đua thuyền, đi cà kheo, đập nồi. Khi cầu khấn Bà và Cậu, lễ vật quan trọng nhất là cặp gà, cặp vịt theo lệ "ông cúng gà, bà cúng vịt".
Ngày thường, khách thắp hương rồi đứng trên ghềnh nhìn ra biển; hoàng hôn khoảng 17 đến 18 giờ tùy mùa. Năm 1927, thi sĩ Đông Hồ đã tả cảnh cửa Dương Đông với một bên bãi cát trắng, một bên ghềnh đá chắn ngang vàm sông. Buổi tối có thể đi bộ sang chợ đêm gần đó.
Dinh nằm trên mỏm đá nhô ra cửa biển, lối lên chỉ có bậc đá; Tết và ngày lễ lớn rất đông. Công trình hiện nay là bản xây năm 1937, đã qua nhiều lần trùng tu. Giờ mở cửa, phí tham quan chưa có công bố chính thức. Đá quanh dinh có thể trơn; khi sóng lớn, đừng ra mép ghềnh ngoài lan can để chụp ảnh.
Dinh Cậu là nơi thờ tự đang hoạt động của ngư dân: mặc kín đáo khi vào chánh điện, không chạm vào ban thờ, hỏi trước khi chụp người đang khấn vái. Trong lễ hội, các nghi thức do ban quản trị, chức sắc và bô lão thực hiện; khách đứng ngoài khu hành lễ.
Nơi này hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng của cư dân biển đảo. Nếu muốn tìm hiểu lịch sử Phú Quốc thời chiến, hãy dành một buổi cho Di tích Nhà tù Phú Quốc ở An Thới; muốn xem thêm một nơi thờ tự khác của ngư dân ở Dương Đông, có Dinh Bà.
Keywords
Local markets
Chợ đêm du lịch bên sông Dương Đông, họp trên đường Bạch Đằng từ 2016; đã dừng hoạt động từ tháng 3/2026, chính quyền đặc khu đang tìm địa điểm mới.
Chợ đêm Phú Quốc, còn gọi là chợ đêm Bạch Đằng hay chợ đêm Dương Đông, là khu chợ đêm dành cho khách du lịch ở trung tâm Dương Đông cũ, trải dọc đường Bạch Đằng bên bờ sông Dương Đông, nay thuộc đặc khu Phú Quốc. Điều bạn cần biết trước tiên: chợ đã dừng hoạt động ở vị trí này. Hợp đồng thuê mặt bằng hết hạn ngày 31/12/2025, chính quyền đặc khu cho tiểu thương buôn bán qua Tết đến hết ngày 28/2/2026, mặt bằng được bàn giao cuối tháng 3 và các gian hàng bị tháo dỡ từ tháng 4/2026.
Chợ ra đời để thay chợ đêm Dinh Cậu, chợ đêm cũ của Dương Đông, vốn hoạt động gần 10 năm và dừng từ tháng 7/2016 vì rác thải, vệ sinh và mỹ quan. Các quầy hàng dời sang hành lang đường Bạch Đằng, nơi một doanh nghiệp du lịch thuê mặt bằng tổ chức phố đi bộ và chợ đêm theo hợp đồng 10 năm ký tháng 9/2015.
Gần mười năm sau, đây là chợ đêm quen thuộc nhất ở trung tâm đảo: dài khoảng 500 m, 5 lối vào, khoảng 100 ki-ốt, họp từ chiều tối đến khuya, đông nhất sau 19 giờ. Khách phần lớn là người nước ngoài. Quầy hải sản tươi sống để khách tự chọn, giá niêm yết, thực đơn in tiếng Việt, tiếng Hàn, tiếng Nga; ngoài hải sản chế biến tại chỗ còn có ngọc trai, hải sản khô, áo sơ mi đi biển, đồ ăn vặt. VnExpress dẫn điểm 3,5/5 trên Tripadvisor: phần lớn đánh giá ít gặp chuyện chặt chém, nhưng trải nghiệm ở mức trung bình, nán lại chừng 45 phút là đủ.
Chợ cũng có những bất cập mà cả chính quyền lẫn doanh nghiệp đều nêu: chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, nước thải xả ra sông Dương Đông, lấn chiếm lòng lề đường, thiếu bãi đỗ xe, câu kéo điện sai quy định. Rạng sáng 3/7/2017, một vụ cháy nghi do chập điện đã thiêu rụi 9 gian hàng.
Ngày 1/4/2026, Chủ tịch UBND đặc khu Phú Quốc khẳng định không dẹp bỏ chợ đêm, vì chợ đêm nằm trong định hướng kinh tế ban đêm của đảo, và chính quyền đang khảo sát vị trí mới. Đến cuối tháng 9/2026 chưa có công bố chính thức về địa điểm mới. Bản đồ có thể vẫn chỉ về đường Bạch Đằng, nên hãy hỏi lại nơi lưu trú trước khi đi.
Trong lúc chờ, VnExpress gợi ý ba chợ đêm khác trên đảo: chợ đêm Bãi Trường ở phố đi bộ Sonasea dọc đường Trần Hưng Đạo, họp 16h–23h; VUI-Fest Bazaar ở Thị trấn Hoàng Hôn phía nam đảo; và chợ đêm Grand World ở Bắc đảo. Đó là những chợ khác, không phải chợ đêm Phú Quốc cũ bên sông Dương Đông.
Dù đi chợ đêm nào, hãy hỏi giá trước khi gọi hải sản; phần lớn gian hàng nhận tiền mặt; mặc cả nhẹ nhàng với đồ lưu niệm. Với ngọc trai và nước mắm, kiểm tra nguồn gốc; ngọc trai chính gốc Phú Quốc nên mua ở cơ sở nuôi cấy uy tín thay vì quầy giá rẻ.
Chợ đêm Dương Đông hợp với người muốn một buổi tối ăn hải sản, mua quà giữa khu trung tâm cũ, gần Dinh Cậu. Nó không phải chợ dân sinh: theo một người làm ảnh địa phương được VnExpress dẫn, chợ hoạt động như một điểm du lịch.
Keywords
Nature & seasons
Đảo núi lớn nhất đặc khu Kiên Hải, có đỉnh Ma Thiên Lãnh khoảng 450 m, đường vòng quanh đảo nối các bãi biển và nghề nước mắm Hòn.
Hòn Sơn, còn gọi Hòn Sơn Rái, là đảo nằm giữa Hòn Tre và quần đảo Nam Du, cách Rạch Giá khoảng 60–65 km về phía tây. Trước tháng 7/2025 đảo là xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang; nay thuộc đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang. Đảo rộng khoảng 11,5–11,7 km², có khoảng 8.000 dân (năm 2019), sống chủ yếu bằng đánh bắt, nuôi hải sản lồng bè, làm khô mực và nước mắm.
Khác cụm 21 đảo Nam Du, Hòn Sơn là một đảo lớn có bảy ngọn núi nối nhau, cao nhất là Ma Thiên Lãnh, khoảng 450 m theo báo chí (cẩm nang du lịch của tỉnh ghi "khoảng hơn 400 m"). Người dân lâu năm kể núi vốn tên Mai Thiên Lãnh vì nhiều mai rừng. Đảo có nghề nước mắm Hòn làm từ cá cơm than, được công nhận nghề truyền thống của tỉnh Kiên Giang, và Lăng Ông Nam Hải ở bãi Thiên Tuế giữ bộ xương cá Ông.
Tàu cao tốc từ Rạch Giá chạy chừng một tiếng rưỡi, cập cầu cảng Bãi Nhà; chợ Bãi Giếng gần cảng đông nhất lúc sáng sớm khi tàu cá về. Một đường vòng quanh đảo nối các bãi, khách thường thuê xe máy. Bãi Bàng cát trắng, nước êm, được người địa phương gọi là bãi đẹp nhất đảo; Bãi Xếp có cây dừa mọc nghiêng vắt qua hai tảng đá; qua đỉnh Yên Ngựa là Bãi Bấc với những dãy phơi cá khô; Bãi Đá Chài có đá phẳng trải ra mép biển, hợp ngắm hoàng hôn.
Leo Ma Thiên Lãnh là hoạt động chính. Cung quen thuộc đi từ Bãi Nhà theo đường ven biển về Bãi Xếp rồi lên bậc thang, khoảng 3 km, mất 2–3 tiếng; lối tắt ngắn hơn nhưng dốc và nhiều đá. Gần đỉnh có đoạn chui hang đá hẹp và tối, nên mang đèn pin đội đầu, đi chậm, không chen lấn. Đường xe máy lên núi rất dốc, cua gấp; không quen tay lái thì nên đi bộ hoặc đi xe ôm.
Cần biết trước: lưu trú chủ yếu là homestay, nhà nghỉ nhỏ, chưa có nghỉ dưỡng cao cấp. Báo An Giang (1/2026) nhận xét du lịch ở đây còn tự phát, rác thải là bài toán khó, và cuối tuần vé tàu có lúc bị gom bán lại giá cao. Tàu phụ thuộc thời tiết: ngày 25/8/2026, bão số 4 làm các chuyến Rạch Giá đi Hòn Sơn tạm ngưng. Nên chừa một ngày dự phòng; giá và giờ tàu chưa có công bố chính thức, hãy hỏi hãng tàu.
Lăng Ông Nam Hải, miếu Bà Cố Chủ, đình thần Nguyễn Trung Trực là nơi thờ tự đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, không chạm vào xương cá Ông, hỏi trước khi chụp gian thờ. Lễ Nghinh Ông ngày 14–16 tháng 10 âm lịch có hàng trăm tàu kết cờ diễu quanh đảo; khách đứng xem, không chen vào đoàn lễ. Đảo có hồ chứa nước ngọt và lò đốt rác riêng, nên dùng nước tiết kiệm và mang bớt rác nhựa về đất liền.
Hòn Sơn hợp với người thích leo núi vừa sức, tắm biển, ăn hải sản và ở homestay vài ngày; không hợp với người cần resort, lịch trình cứng hoặc dễ say sóng. Muốn đi thuyền qua nhiều đảo nhỏ và chấp nhận đường xa hơn, hãy chọn quần đảo Nam Du cùng đặc khu; chỉ có ít thời gian thì Hòn Tre, cách Rạch Giá khoảng 28 km, gần hơn nhiều.
Keywords
Heritage spaces
Chùa Phật giáo Nam tông Khmer giữa trung tâm Tri Tôn, xây lại năm 1896, giữ hơn 100 bộ kinh lá buông, di tích quốc gia năm 1986.
Ngay giữa trung tâm xã Tri Tôn (thị trấn Tri Tôn cũ), chùa Xvay Ton, người Việt quen gọi là chùa Xà Tón, là ngôi chùa Phật giáo Nam tông của đồng bào Khmer vùng Bảy Núi. Theo lời kể, thuở vùng này còn rừng rậm, từng đàn khỉ chuyền cành, níu kéo người qua lại; tiếng Khmer "xvay" là khỉ, "ton" là kéo, về sau đọc trại thành Xà Tón.
Theo ghi chép của nhà chùa, chùa được dựng từ cuối thế kỷ XVII (Báo An Giang ghi năm 1696), ban đầu bằng gỗ, mái lá trên nền đất. Năm 1896 chùa được xây lại kiên cố: nhà chùa và người dân đào hồ phía trước lấy đất tôn nền, nền xây đá xanh, vôi, ô dước, cột gỗ căm xe, mái ngói. Ngày 12/12/1986, Bộ Văn hóa công nhận chùa là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định 235/VH-QĐ.
Chánh điện đặt trên nền cao, quay về hướng mặt trời mọc, mái tam cấp lợp ngói đỏ, xanh, vàng, nóc nhọn với hình tượng rắn thần Naga; tượng rắn Neak bảy hoặc chín đầu chạy dọc lan can bậc lên chánh điện. Quanh chánh điện là các tháp đựng tro cốt, trên đỉnh chạm thần Bayon bốn mặt. Bên trong, tường phủ tranh kể cuộc đời Đức Phật và truyện tiền thân Jataka, gian giữa có nhiều tượng Phật Thích Ca ở các tư thế đứng, nằm, ngồi.
Điều ít chùa còn giữ được là kho kinh lá buông: hơn 100 bộ kinh chép tay bằng chữ Pali và chữ Khmer cổ. Năm 2006, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục cho chùa về số bộ kinh lá lưu giữ. Kinh là tài sản của nhà chùa, dùng cho việc tu học; muốn xem cần xin phép các vị sư.
Chùa là nơi đồng bào Khmer quanh vùng tổ chức các lễ lớn trong năm: Tết Chôl Chnăm Thmây giữa tháng 4 dương lịch, lễ Sene Dolta cúng ông bà, lễ Phật đản, lễ Dâng y. Dịp Dâng y, bà con tụ họp ở chùa làm bánh gừng. Trong ba tháng nhập hạ, từ rằm tháng 6 đến rằm tháng 9 âm lịch, các sư không ra khỏi chùa. Vào các ngày lễ, bà con đến chùa lễ Phật rất đông.
Cần biết trước: đây là chùa đang có sư sãi tu học, không phải khu du lịch. Giờ đón khách, thuyết minh, phí chưa có công bố chính thức; nên đến ban ngày, tránh giờ lễ, hỏi người trong chùa trước khi vào chánh điện.
Khi vào chùa, cởi giày dép trước chánh điện, mặc trang phục kín vai và gối, nói nhỏ, không trèo lên tháp cốt hay các tượng. Phụ nữ không chạm vào người hoặc y áo của sư; khi muốn trao vật cúng dường, hãy đặt xuống hoặc nhờ người trong chùa. Hỏi trước khi chụp ảnh sư sãi và nghi lễ, không chen vào khu hành lễ của bà con.
Chùa hợp với người quan tâm kiến trúc chùa Khmer Nam Bộ và đời sống tôn giáo của người Khmer Bảy Núi; ít phù hợp nếu bạn tìm điểm check-in nhiều dịch vụ. Nằm ngay trung tâm nên chùa dễ ghép với hồ Tà Pạ và chùa Phnom Ta Pa trên đồi Tà Pạ, cách chưa đầy 1 km, nơi có tầm nhìn ra cánh đồng Tà Pạ; nếu muốn tìm hiểu lịch sử kháng chiến, đi tiếp khoảng 8 km tới đồi Tức Dụp ở xã Ô Lâm.
Keywords
Heritage spaces
Ngọn đồi đá của núi Cô Tô với hệ thống hang đá từng là căn cứ Tỉnh ủy An Giang, di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia từ năm 1985.
Từ trung tâm Tri Tôn đi khoảng 8 km là tới đồi Tức Dụp, một ngọn đồi nhỏ ở phía tây núi Cô Tô trong vùng Bảy Núi, nay thuộc xã Ô Lâm, tỉnh An Giang. Người Khmer gọi nơi này là Tức Chúp, nghĩa là ngọn đồi có nước chảy về đêm. Đồi cao khoảng 200 đến 300 m tùy nguồn, do hàng nghìn khối đá granite chồng lên nhau, bên trong là những hang thông nhau mà người địa phương gọi là lò ảng.
Chính cấu trúc đó khiến Tức Dụp thành căn cứ kháng chiến từ năm 1956; năm 1965 cơ quan Tỉnh ủy An Giang đóng tại đây. Mốc được nhắc nhiều nhất là cuộc chiến đấu 128 ngày đêm, theo Địa chí An Giang từ 17/11/1968 đến 24/3/1969, khi lực lượng giữ đồi chưa tới một trăm người bám trụ trong các lò ảng. Báo An Giang giải thích cái tên "ngọn đồi 2 triệu đô la" theo hai cách: số tiền bom đạn phía Mỹ đổ xuống đồi, hoặc khoản tiền treo thưởng cho đơn vị chiếm được đồi. Ngày 1/4/1985, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng nơi đây là di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia (Quyết định 666/VH-QĐ).
Một vòng tham quan thường bắt đầu ở Nhà Truyền thống và phòng sa bàn dưới chân đồi, nơi trưng bày hình ảnh, hiện vật và mô hình diễn biến trận đánh. Sau đó bạn lên Đền tưởng niệm thắp hương cho các liệt sĩ, rồi theo bậc thang lên những hang mang tên chức năng cũ: Hội trường C6, hang Tỉnh ủy, hang Quân y, hang Tuyên huấn, hang Dân y. Các hang chính đã lát sàn ván, có điện chiếu sáng; Hội trường C6 dựng lại cảnh họp bàn tác chiến.
Cần biết trước: Tức Dụp hôm nay vừa là di tích vừa là khu du lịch do Công ty Cổ phần Du lịch An Giang (thuộc Tập đoàn Sao Mai) khai thác, có thu phí vào cổng. Quanh chân đồi có nhà hàng, hồ chèo thuyền, vườn thú, tiểu cảnh hoa và khu bắn súng đạn thật kiểu thể thao quốc phòng, dễ làm loãng không khí nếu bạn đến vì lịch sử; đầu năm 2025 chính quyền huyện Tri Tôn cũ từng đề xuất tách riêng phạm vi di tích để quản lý. Mức phí, giờ mở cửa chưa có công bố chính thức, nên hỏi trước.
Lò ảng vốn nhỏ hẹp, thiếu sáng; nên đi giày đế bám, chú ý đầu ở chỗ trần thấp, người đi lại khó khăn chỉ nên xem khu chân đồi. Đường tỉnh 959 và 955B trong vùng được báo tỉnh phản ánh là xuống cấp (9/2025).
Đây là nơi tưởng niệm những người đã hy sinh: ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng ở đền và trong các hang, không leo trèo, khắc vẽ lên đá. Ô Lâm có hơn 65% dân số là người Khmer; khi ghé chùa Khmer quanh vùng, hãy cởi giày trước chánh điện và hỏi trước khi chụp ảnh.
Tức Dụp hợp với người quan tâm lịch sử kháng chiến vùng Bảy Núi, đoàn học sinh, cựu chiến binh, gia đình muốn ghép tham quan với vui chơi. Nếu bạn muốn một căn cứ kháng chiến do chính quyền địa phương trùng tu làm điểm du khảo về nguồn, hãy đến căn cứ Ô Tà Sóc trên núi Dài, cùng xã Ô Lâm, di tích quốc gia từ năm 2001, cũng là căn cứ của Tỉnh ủy An Giang.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi miếu dưới chân núi Sam thờ Bà Chúa Xứ, nơi diễn ra Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam được UNESCO ghi danh năm 2024.
Miếu Bà Chúa Xứ nằm dưới chân núi Sam (cao 284 m), vùng Châu Đốc, nay thuộc phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang. Đây là nơi thờ Bà Chúa Xứ, một vị thánh Mẫu trong tín ngưỡng thờ nữ thần, và là nơi diễn ra Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, được UNESCO ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 4/12/2024. Cần nói rõ: UNESCO ghi danh lễ hội, không phải ngôi miếu.
Theo Ban Quản trị Lăng miếu núi Sam, miếu được dựng bằng tre lá khoảng năm 1820, xây lại bằng gạch năm 1870, tu sửa bằng đá và ngói âm dương năm 1962. Diện mạo bạn thấy hôm nay có từ đợt xây mới năm 1972: mặt bằng hình chữ "Quốc", mái ba tầng lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao. Qua các lần sửa, bức tường phía sau tượng Bà và bốn cột trước chánh điện vẫn giữ hình dáng cũ.
Giữa chánh điện là tượng Bà bằng đá cao 1,48 m. Tương truyền người dân thỉnh tượng từ đỉnh núi Sam xuống, đến chỗ miếu bây giờ thì tượng nặng không khiêng tiếp được, nên lập miếu tại đây. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây vốn là một tượng thần Vishnu tạc khoảng cuối thế kỷ VI; nguồn gốc tượng đến nay chưa có kết luận. Hai bên có bàn thờ Cậu với một linga bằng đá và bàn thờ Cô với tượng gỗ hình yoni. Bệ đá nơi tượng ngự xưa trên đỉnh núi vẫn được giữ và là một không gian của lễ hội.
Lễ hội chính diễn ra từ 22 đến 27 tháng 4 âm lịch, với cộng đồng Việt, Chăm, Khmer, Hoa cùng tham gia. Các nghi lễ gồm rước tượng Bà, lễ tắm Bà, thỉnh sắc Thoại Ngọc Hầu từ lăng về miếu, túc yết, xây chầu, chánh tế và hồi sắc. Mùa đông khách kéo dài hơn mấy ngày vía: Báo An Giang ghi từ sau Tết Nguyên đán đến tháng 4 âm lịch, núi Sam đón hàng triệu lượt người, đường Châu Thị Tế và chánh điện chen chân.
Vậy nên nếu bạn muốn xem kiến trúc và tượng Bà cho kỹ, hãy đi ngày thường ngoài mùa lễ, buổi sáng. Việc thu phí tham quan quanh miếu từng gây tranh cãi; từ đầu tháng 1/2026 các chốt thu phí đã dừng hoạt động, nhưng quy định chính thức vẫn đang chờ tỉnh quyết, nên hỏi lại trước khi đi. Tỉnh đã có chủ trương cấm bán hàng rong, nhang đèn và chèo kéo khách quanh các di tích; nếu gặp người mời mua lễ vật, bạn cứ từ chối nhẹ nhàng.
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, giữ trật tự, không chen lấn, xin phép trước khi chụp ảnh người đang khấn vái. Các nghi lễ trong mùa vía do ban tổ chức và cộng đồng thực hành; khách đứng xem theo hướng dẫn, không vượt dây, không chen vào đoàn rước.
Miếu Bà hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ và sự giao thoa Việt, Chăm, Khmer, Hoa. Người sợ đông nên tránh tháng Giêng đến tháng 4 âm lịch. Gần đó có chùa Tây An và Lăng Thoại Ngọc Hầu, cùng là di tích quốc gia trong Khu du lịch quốc gia núi Sam; tỉnh có chủ trương làm tuyến phố đi bộ nối miếu Bà với hai di tích này.
Keywords
Heritage spaces
Nhà sàn năm 1887 nơi Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ra, cùng đền tưởng niệm và nhà trưng bày trên cù lao Ông Hổ, di tích quốc gia đặc biệt.
Từ bến phà Ô Môi ở trung tâm Long Xuyên, đi khoảng 3 km đường thủy qua sông Hậu là tới cù lao Ông Hổ, quê của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888–1980). Khu lưu niệm ở ấp Mỹ An 2, xã Mỹ Hòa Hưng; ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng nơi đây là Di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định 548/QĐ-TTg).
Hạt nhân của khu là ngôi nhà sàn do thân sinh của ông, cụ Tôn Văn Đề, dựng năm 1887 trên đất hương hỏa họ Tôn, một năm trước khi ông chào đời tại đây ngày 20/8/1888. Nhà theo kiểu nhà sàn Nam Bộ ba gian hai chái, gỗ thao lao, cột gỗ tràm, lợp ngói âm dương, rộng khoảng 156 m². Bên trong còn ảnh song thân, bộ ngựa gõ, tủ thờ cẩn xà cừ và tấm ảnh gửi về từ chiến khu Việt Bắc năm 1951 có chữ ký. Ông sống ở đây đến năm 1906 thì lên Sài Gòn học nghề; ngôi nhà được công nhận di tích từ năm 1984.
Theo tài liệu thuyết minh của Khu lưu niệm, suốt hơn 70 năm hoạt động, ông chỉ về thăm nhà hai lần: năm 1945 ngủ lại một đêm, và tháng 10/1975 ở lại khoảng 45 phút, vừa tới đã hỏi "Ủa, cây xoài đâu?". Khu mộ của cha mẹ và vợ chồng người em trai Tôn Đức Nhung nằm sau nhà khoảng 50 m.
Các công trình còn lại xây theo những dịp kỷ niệm ngày sinh: nhà trưng bày và cầu tàu năm 1988, đền tưởng niệm khánh thành ngày 20/8/1998 với tượng bán thân bằng đồng nặng 310 kg. Nhà trưng bày giữ 36 hiện vật gốc, có đôi hài hàm ếch ông tự khâu thời đi học; phòng chuyên đề 15 năm tù Côn Đảo phục dựng hầm xay lúa để khách thử xay. Ngoài trời có ca nô Giải phóng và máy bay YAK-40 số 452 từng đưa ông vào Sài Gòn ngày 11/5/1975.
Khu mở cửa tất cả các ngày, sáng 7h30–11h, chiều 13h30–17h. Nên xem nhà sàn và khu mộ trước, rồi đền, nhà trưng bày, phòng Côn Đảo, cuối cùng là khu ngoài trời; khách đi đoàn được thuyết minh viên giới thiệu tại đền. Phí tham quan chưa có công bố chính thức; đoàn đông nên gọi trước số 02963 851 310 của Khu lưu niệm.
Điểm bất tiện là đường vào phụ thuộc sông nước. Cách nhanh nhất là qua phà Ô Môi rồi đi thêm khoảng 1 km đường xã, hoặc thuê đò máy cập thẳng cầu tàu của khu. Đi ô tô phải vòng lên bến phà Trà Ôn rồi chạy thêm khoảng 7 km đường xã. Khu nghỉ trưa từ 11h đến 13h30, nên tính giờ đò cho khớp.
Đền tưởng niệm và khu mộ là không gian tưởng niệm: ăn mặc lịch sự, nói nhỏ, hỏi nhân viên trước khi thắp hương hay chụp ảnh bên trong đền. Dịp 20/8 hằng năm, khu tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao mừng ngày sinh, nên đông hơn ngày thường.
Nơi này hợp với người muốn hiểu một nhân vật lịch sử qua ngôi nhà, đồ vật cụ thể, và với khách ở Long Xuyên có một buổi sáng: xem chợ nổi Long Xuyên lúc sớm ở khu phà Ô Môi rồi qua sông vào khu lưu niệm lúc mở cửa. Nếu bạn quan tâm lịch sử cổ hơn là lịch sử cận đại, Khu di tích Óc Eo - Ba Thê ở xã Óc Eo là lựa chọn phù hợp hơn.
Keywords
Heritage spaces
Nơi tưởng niệm 3.157 người dân Ba Chúc bị quân Pol Pot sát hại tháng 4/1978, lưu giữ 1.159 bộ hài cốt, di tích lịch sử cấp quốc gia từ năm 1980.
Nhà mồ Ba Chúc nằm giữa hai chùa Tam Bửu và Phi Lai, cách núi Tượng 100 m về phía đông, thuộc xã Ba Chúc (trước tháng 7/2025 là thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn), vùng Bảy Núi, cách biên giới Campuchia 7 km. Đây là nơi lưu giữ hài cốt và tưởng niệm 3.157 người dân Ba Chúc bị quân Pol Pot (Khmer Đỏ) sát hại tháng 4/1978. Nơi này là khu tưởng niệm, không phải điểm vui chơi.
Từ đêm 30/4/1977, quân Pol Pot tấn công 14 xã biên giới của An Giang. Ngày 18/4/1978 chúng tràn vào Ba Chúc; đến ngày 29/4, 3.157 thường dân bị giết, phần lớn là người già, phụ nữ, trẻ em, có gia đình không còn ai sống sót. Riêng ở chùa Tam Bửu, nơi người dân chạy vào tránh pháo, hơn 700 người bị bắt đưa đi, chỉ 2 người trở về. Ngày 1/1/1979, quân dân An Giang đánh bật quân Pol Pot khỏi biên giới tỉnh.
Năm 1979, tỉnh xây Nhà mồ để lưu giữ hài cốt và làm chứng tích. Ngày 10/7/1980, Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng quần thể Nhà mồ, chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai là di tích lịch sử cấp quốc gia (Quyết định 92/VH-QĐ). Nhà mồ ban đầu hình lục giác; năm 2013 khu di tích được xây mới trên khoảng 5 ha, nhà mồ đổi thành đóa sen trắng tám cánh, theo Bảo tàng An Giang là để giảm bớt cảnh tang thương.
Trong nhà mồ có 1.159 bộ hài cốt, hơn một phần ba số nạn nhân, vì nhiều gia đình đã đưa người thân về chôn cất. 1.017 hộp sọ đã được xác định tuổi và giới tính, xếp theo nhóm trong khung kính, trong đó có 29 trẻ dưới 2 tuổi và 264 trẻ từ 3 đến 15 tuổi. Nhà lưu niệm bên cạnh có ảnh tư liệu, tài liệu, hiện vật; đoàn tham quan có thể nghe thuyết minh.
Thứ tự gợi ý: nhà mồ, nhà lưu niệm, rồi chùa Phi Lai, nơi còn vết nứt và dấu tích trên tường, và chùa Tam Bửu, tổ đình đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa do ông Ngô Lợi dựng năm 1882, nơi Phật hội vẫn hành lễ.
Lễ giỗ tập thể diễn ra ngày 15 và 16 tháng 3 âm lịch; ngày 16/3 âm lịch ứng với 22/4/1978, cao điểm của vụ thảm sát. Chính quyền phối hợp Phật hội Tứ Ân Hiếu Nghĩa tổ chức cầu siêu, lễ ở chùa Tam Bửu, lễ cúng ở nhà mồ, thắp 3.157 ngọn nến. Báo Nhân Dân viết đây được xem là lễ giỗ tập thể lớn nhất Việt Nam. Năm 2026 lễ rơi vào đầu tháng 5.
Giờ mở cửa và phí tham quan chưa có công bố chính thức; hỏi Ban Quản lý di tích hoặc UBND xã. Hài cốt được trưng bày trực tiếp, ảnh tư liệu nặng nề; trẻ nhỏ có thể bị ảnh hưởng tâm lý, nên chuẩn bị trước hoặc để trẻ ở ngoài nhà mồ. Ăn mặc kín đáo, giữ im lặng, không chụp ảnh tạo dáng, không chạm vào khung kính; ngày giỗ, đứng ngoài khu hành lễ.
Nơi này hợp với người muốn hiểu chiến tranh biên giới Tây Nam qua chứng tích thật và đoàn học sinh có người dẫn giải. Đi cùng trẻ nhỏ, bạn có thể chỉ viếng chùa Tam Bửu và nhà lưu niệm; muốn tìm hiểu lịch sử An Giang ở một di tích khác loại, hãy chọn Khu di tích Óc Eo - Ba Thê.
Keywords
Local markets
Chợ trung tâm phường Châu Đốc bên sông Châu Đốc, có khu mắm, khô bày hàng chục loại mắm cá, tôm, ba khía của vùng biên An Giang.
Chợ Châu Đốc là chợ trung tâm của phường Châu Đốc (trước là phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc), nằm sát sông Châu Đốc, sạp hàng trải quanh các đường Bạch Đằng, Chi Lăng, Phan Đình Phùng, Trần Hưng Đạo. Người ta nhớ chợ này vì mắm: báo chí gọi đây là "thủ phủ mắm" miền Tây, du khách và người dân còn gọi vui là "vương quốc mắm".
Chợ có gốc từ đầu thời Nguyễn. Theo Báo Cần Thơ, năm 1818 trấn thủ Vĩnh Thanh vâng lệnh vua lấy một phần đất xây nhà phố để lập chợ Châu Đốc. Nghề mắm quanh chợ, theo lời các tiểu thương được báo dẫn, đã có hơn trăm năm: mùa nước nổi cá tôm nhiều, người ta ướp muối, rắc thính gạo rang, ủ trong lu, khạp hai, ba tháng để ăn dần rồi mang ra chợ bán. Nhiều gian mắm nay là cơ sở gia truyền ba, bốn đời.
Chợ hiện có hai khu. Khu nhà lồng hơn 300 sạp bán quần áo, mỹ phẩm, giày dép và khô, mắm; khu chợ cá ven sông hơn 1.100 sạp. Khu chợ cá được xây cùng bờ kè sông Châu Đốc; đến tháng 1/2021, 1.114 hộ từng buôn bán dưới lòng, lề đường đã dời vào đây, chia bốn khu: hoa tươi, trái cây; rau, thịt; quần áo, vải, chén dĩa; và khu mắm, khô, heo quay, hàng ăn uống.
Ở khu mắm, mắm cá lóc, cá linh, cá sặc, cá chốt, cá trèn, ba khía, mắm thái xếp cao trong thau, lọ. Mắm thái làm từ cá lóc bỏ xương xé nhỏ trộn đu đủ bào sợi, ăn với thịt ba rọi, rau sống. Người bán thường cho nếm thử và chỉ cách chưng, kho hay nấu lẩu mắm. Quanh đó là khô cá tra phồng, khô cá lóc, khô nhái; trái, nước, bánh bò thốt nốt; và các quán bún cá, bún nước lèo. Mùa nước nổi, khoảng tháng 9 đến 11, có thêm cá linh non, bông điên điển.
Chợ họp từ sáng sớm đến chiều tối; người địa phương đi chợ đông khoảng 6 đến 8 giờ sáng. Chợ đông nhất vào cuối tuần, lễ Tết và mùa Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam, từ tháng Giêng đến tháng 4 âm lịch. Các báo ghi nhận hàng mắm có niêm yết giá; giá đổi theo loại mắm và theo mùa, nên hỏi giá, nếm thử rồi mới cân.
Cần biết trước: đây là chợ dân sinh đông đúc chứ không phải khu mua sắm dành riêng cho khách. Vị mắm miền Tây không hợp khẩu vị mọi người; nếu chưa quen, hãy nếm một ít trước khi mua nhiều. Việc lấn chiếm lòng, lề đường quanh chợ vẫn là việc chính quyền phường phải chấn chỉnh trước mỗi mùa Tết, và chợ nằm trong nhóm chợ biên giới được kiểm tra chặt về hàng nhập lậu, nên hãy chọn hàng có nhãn, rõ nguồn gốc.
Hỏi trước khi chụp cận mặt người bán; nếm thử nhiều thì mua ủng hộ hoặc cảm ơn. Mắm là hàng ướt, mang đi xa thì nhờ đóng hũ, bọc kín.
Chợ hợp với người muốn mua mắm, khô làm quà sau khi viếng Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, hoặc muốn nếm các món mắm, bún cá của vùng biên. Muốn tìm hàng Thái Lan, Campuchia và đặc sản Bảy Núi, hãy đi tiếp chợ Tịnh Biên sát cửa khẩu; muốn xem cảnh mua bán trên sông, hãy đến chợ nổi Long Xuyên.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi chùa khai sơn năm 1845 trên triền núi Sam, dựng quanh hang đá nơi ni sư Diệu Thiện ẩn tu, một trong năm di tích quốc gia của Khu du lịch quốc gia núi Sam.
Chùa Hang, tên chữ Phước Điền tự, nằm lưng chừng sườn phía tây núi Sam, phường Vĩnh Tế (trước tháng 7/2025 là phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc), gần cụm miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An và lăng Thoại Ngọc Hầu. Đây là một trong năm di tích cấp quốc gia của Khu du lịch quốc gia núi Sam.
Theo Địa chí An Giang được Báo Cần Thơ dẫn lại, năm 1845, tỳ kheo ni Diệu Thiện, tên đời Lê Thị Thơ (1818–1899), người Chợ Lớn làm thợ may nên dân gian gọi là Bà Thợ, rời chùa Tây An lên núi, che mái lá trước một hang đá để tu. Bà vừa giảng đạo vừa bốc thuốc chữa bệnh, viên tịch ngày rằm tháng 6 năm Kỷ Hợi (1899).
Năm 1885, ông phán Thông ở Châu Đốc và người dân góp tiền xây lại am tre lá: nền gạch tàu, cột gỗ căm xe, lợp ngói móc. Hòa thượng Thích Huệ Thiện, trụ trì đời thứ hai, đặt tên Phước Điền, hiểu là mảnh đất gieo trồng phước lành; năm 1999 chùa hoàn thành thêm Thiền Đường, Giảng Đường, Tạng Kinh Các.
Cái hang làm nên tên chùa nằm sau chánh điện: miệng hang cao hơn 2 m, rộng 1,6 m, lòng hang sâu vào núi 12 m rồi hẹp dần. Vì địa hình dốc, đi từ dưới lên bạn gặp ngôi hậu tổ, nhà khói và các tháp trước, rồi mới tới chánh điện, ngược với bố cục chùa thông thường. Tương truyền trong hang từng có đôi rắn lớn được Bà Thợ cảm hóa, ăn chay và canh giữ chốn tu; hai tượng mãng xà ở hang đá gợi lại giai thoại này.
Từ cổng dưới chân núi, bạn leo khoảng 300 m bậc thang đá, qua hồ hoa súng, tượng Phật và các vị hộ pháp hướng về chân núi. Tháp Bà Thợ dựng cuối thế kỷ 19, bên phải hậu tổ. Chánh điện không lớn, thờ Phật Thích Ca. Từ hành lang hậu tổ nhìn về tây nam là vùng Bảy Núi, về đông bắc là kênh Vĩnh Tế; đi cáp treo núi Sam cũng thấy chùa từ trên cao.
Cần biết trước: đường lên là bậc thang đá, khó cho người đi lại hạn chế hay gia đình mang xe đẩy trẻ em. Chùa chưa công bố giờ mở cửa và phí riêng; ngày 22/10/2025 khu núi Sam công bố cách bán, soát vé mới, nên hỏi lại trước khi đi. Núi Sam đông nhất vào mùa lễ hội Vía Bà, tháng Giêng đến tháng 4 âm lịch; chùa có ngày cúng lớn vào rằm tháng Giêng, tháng Sáu (giỗ Bà Thợ), tháng Bảy và tháng Mười.
Chùa là nơi tu tập đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, nói nhỏ trong chánh điện và trong hang, không trèo lên tượng, tháp, hỏi trước khi chụp chư tăng hay người đang lễ Phật. Nhiều hộ dân quanh chân núi sống nhờ bán nước, đồ lưu niệm và giữ xe cho khách; cần mua gì, hãy mua của họ.
Chùa hợp với người đã viếng miếu Bà muốn thêm một điểm tĩnh hơn trên sườn núi, người đi được bậc thang và quan tâm lịch sử Phật giáo vùng Châu Đốc. Nếu không leo được, cụm miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu mà tỉnh chủ trương nối bằng phố đi bộ là lựa chọn dễ đi hơn; chùa Tây An cũng là nơi Bà Thợ quy y trước khi lên núi.
Keywords
Museums
Cơ sở Long Xuyên của Bảo tàng tỉnh An Giang, nơi có phòng 6 bảo vật quốc gia văn hóa Óc Eo, trưng bày lịch sử cách mạng và văn hóa bốn dân tộc.
Bảo tàng tỉnh An Giang ở Long Xuyên nằm tại số 11 đường Tôn Đức Thắng, phường Long Xuyên (trước là phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên). Sau khi An Giang và Kiên Giang hợp nhất năm 2025, bảo tàng tỉnh có hai cơ sở: cơ sở 1 ở phường Rạch Giá là Bảo tàng Kiên Giang cũ, còn tòa nhà ở Long Xuyên được Sở Văn hóa và Thể thao gọi là cơ sở 2. Bài này nói về cơ sở Long Xuyên.
Bảo tàng khởi đầu năm 1977 với tên Phòng Bảo tồn Bảo tàng, đặt trong ngôi nhà cổ của Hội đồng trên đường Thoại Ngọc Hầu; năm 1985 thành Nhà Bảo tàng tỉnh An Giang; năm 2005 dời về trụ sở hiện nay. Đây là bảo tàng hạng II.
Phần đáng xem nhất là phòng bảo vật quốc gia với 6 bảo vật văn hóa Óc Eo: tượng thần Brahma bốn mặt tìm thấy ở Giồng Xoài năm 1983; bộ linga-yoni Đá Nổi ghép từ vàng và đồng thau; bộ linga-yoni Linh Sơn bằng sa thạch, được ghép hoàn chỉnh trong hai năm 1986–1987; tượng Phật gỗ Giồng Xoài cao 2,7 m; tượng Phật đá Khánh Bình cao 71 cm; và Mukhalinga Ba Thê nặng 90 kg. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh, năm 2014 Bảo tàng Metropolitan (Hoa Kỳ) đề nghị mượn tượng Brahma sang trưng bày và định giá bảo hiểm 2 triệu USD.
Các phòng trưng bày cố định có trên 800 hiện vật gốc. Phòng văn hóa Óc Eo giới thiệu khu di tích Óc Eo - Ba Thê và khu mộ cổ Đá Nổi - Phú Hòa, nơi hai ngôi mộ M2, M4 cho 104 và 165 di vật, nhiều nhất là tranh vẽ trên lá vàng. Phòng lịch sử cách mạng đi từ các cuộc khởi nghĩa chống Pháp đến năm 1975. Các phòng khác dành cho văn hóa Kinh, Hoa, Chăm, Khmer và thành tựu của tỉnh. Bảo tàng còn làm trưng bày chuyên đề theo đợt, như "Sắc gốm Nam Bộ" từ 17/7 đến 31/8/2026.
Theo trang chính thức, bảo tàng mở cửa thứ Ba đến Chủ nhật, 7 giờ 30 đến 11 giờ và 13 giờ 30 đến 17 giờ, nghỉ thứ Hai, miễn phí vé. Đoàn đăng ký qua Phòng Nghiệp vụ Bảo tàng, số 02963 855 401. Website có bài thuyết minh kèm tệp nghe và mục tham quan 3D.
Hạn chế: các trang giờ, vé vẫn ghi địa chỉ trước hợp nhất, nên gọi lại để chắc lịch của cơ sở Long Xuyên; đến sát 11 giờ sẽ không kịp xem vì bảo tàng nghỉ trưa. Chưa có công bố chính thức về thuyết minh ngoại ngữ tại chỗ.
Linga-yoni, tượng Phật, tượng Brahma vốn là tượng thờ của cư dân Óc Eo theo đạo Bà la môn và đạo Phật; hãy xem với thái độ tôn trọng, không chạm tủ kính, hỏi nhân viên trước khi chụp ảnh. Phòng lịch sử cách mạng có nội dung chiến tranh, nên chuẩn bị nếu đi cùng trẻ nhỏ.
Bảo tàng hợp với người muốn thấy hiện vật gốc Óc Eo trước hoặc sau khi đi khu di tích Óc Eo - Ba Thê, với học sinh và gia đình cần một điểm trong nhà ở Long Xuyên. Muốn xem nhà cổ và chuyên đề họ Mạc, Nguyễn Trung Trực, cổ vật tàu đắm, hãy đến cơ sở 1 ở Rạch Giá; muốn đứng ở nơi phát hiện, hãy đến khu di tích Óc Eo - Ba Thê ở xã Óc Eo.
Keywords
Nature & seasons
Cụm đá vôi giữa biển sau chùa Hang ở Hòn Chông, Kiên Lương; hòn Phụ (cha) gãy đổ đêm 9/8/2006, nay chỉ còn hòn Tử.
Hòn Phụ Tử là cụm đá vôi nhô lên giữa biển, cách bờ khoảng 110 m, ngay phía sau chùa Hang ở vùng Hòn Chông, nay thuộc xã Kiên Lương (trước là xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang). Từ Hà Tiên đi hơn 35 km. Khu du lịch Chùa Hang - Hòn Phụ Tử nằm trong di tích danh thắng Hòn Chông, được xếp hạng cấp quốc gia năm 1989.
Cái tên đến từ hình dáng cũ: hai khối đá dính liền trên một bệ đá cao khoảng 5 m so với mặt biển, hòn Phụ (cha) cao khoảng 33,6 m, hòn Tử (con) khoảng 30 m, cùng nghiêng về phía đông. Tương truyền xưa vùng biển này có con thú dữ hại người đi biển; người cha tẩm thuốc độc vào mình làm mồi để giết nó, người con tìm thấy thi thể cha, ôm lấy khóc rồi cũng trúng độc chết, và nơi hai cha con nằm mọc lên hai hòn đá. Truyện có nhiều dị bản.
Hòn bạn thấy hôm nay chỉ còn hòn Tử. Rạng sáng 9/8/2006, trong đợt mưa dông và sóng lớn, hòn Phụ nặng hơn 1.000 tấn gãy thành nhiều đoạn, chìm xuống biển. Các nhà khoa học được Tuổi Trẻ dẫn nêu nguyên nhân là khe nứt nghiêng 30–35 độ dưới chân, đá vôi phong hóa và sóng xâm thực. Sau hội thảo của tỉnh Kiên Giang và Cục Di sản, quá nửa trong hơn 100 nhà khoa học, nhà văn hóa không tán thành phục dựng, và hòn được giữ nguyên hiện trạng. Năm 2026, chính quyền xã Kiên Lương cho biết vẫn tiếp tục kiến nghị xem xét phục dựng.
Lối vào đi qua chùa Hang, ngôi chùa nằm trong hang đá dưới chân núi; ra khỏi chùa là bờ kè nhìn thẳng ra hòn Tử. Quanh đó có Bãi Dương với hàng dương dài hơn 2 km và động Kim Cương, cả hai đều được tôn tạo lại; có cầu tàu cho du thuyền ra quần đảo Bà Lụa. Dọc bờ là các quầy hải sản như cua đá, ghẹ, tôm tích.
Mặt hạn chế: nhiều năm báo chí phản ánh sạp hàng tự phát kéo tới tận cổng chùa, rác dưới bờ kè. Tuổi Trẻ năm 2026 ghi nhận bãi biển đã sạch hơn, nhưng khu này vẫn nhộn nhịp kẻ bán người mua. Cổng khu du lịch từng thu phí (Nhân Dân 2019); mức phí và giờ mở cửa hiện hành chưa có công bố chính thức, bạn nên hỏi tại cổng.
Người dân địa phương kể với Znews (2023) rằng chân hòn xuất hiện thêm vết nứt mới và có lúc đá nhỏ bong rơi xuống biển. Đừng trèo lên bệ đá hay cho thuyền áp sát chân hòn; ngắm từ bờ kè là đủ.
Bạn đi qua chùa Hang, nơi thờ tự đang hoạt động, nên ăn mặc kín đáo và giữ yên lặng trong hang chùa. Một cụ ông sống cả đời ở Hòn Chông nói với Tuổi Trẻ rằng bà con coi hòn như báu vật.
Hòn Phụ Tử hợp với người muốn thấy biểu tượng du lịch một thời của Kiên Giang, kết hợp tắm Bãi Dương, ăn hải sản. Nếu bạn mong thấy hình hai cha con như ảnh cũ hoặc tìm bãi vắng, nơi này sẽ làm bạn hụt hẫng. Muốn hang động gắn với lịch sử, hãy ghé núi Mo So trên cùng cung đường; muốn cảnh Hà Tiên thập cảnh thì lên Hà Tiên với Thạch Động, đầm Đông Hồ.
Keywords
Nature & seasons
Đảo lớn nhất Việt Nam trong vịnh Thái Lan, nay là đặc khu Phú Quốc; có vườn quốc gia hơn 36.000 ha, nhiều bãi biển và cụm đảo An Thới.
Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, cách TP.HCM khoảng 400 km về phía tây. Từ ngày 1/7/2025, đảo là đặc khu Phú Quốc của tỉnh An Giang; trước đó là thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Vùng biển Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ; đảo chính dài khoảng 50 km, có 99 ngọn núi đồi, thoai thoải từ bắc xuống nam.
Đây là mục tổng quan cho cả hòn đảo, nên hãy hình dung theo vùng. Bắc đảo là rừng: Vườn quốc gia Phú Quốc rộng 36.262 ha, thuộc Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang được UNESCO công nhận năm 2006, có suối Tranh, suối Đá Bàn và đỉnh Núi Chúa cao 565 m. Cũng ở bắc đảo có làng chài Rạch Vẹm, nơi nước trong và dễ thấy sao biển nhất vào khoảng tháng 12 đến tháng 4. Trung tâm Dương Đông có Dinh Cậu trên mỏm đá ven biển và chợ đêm. Bờ tây có Bãi Trường dài khoảng 20 km, nơi nhiều người ra ngắm hoàng hôn. Nam đảo có Bãi Sao cát trắng, cảng An Thới để đi ca nô ra các hòn Móng Tay, Gầm Ghì, Mây Rút lặn ngắm san hô, và tuyến cáp treo vượt biển sang Hòn Thơm do doanh nghiệp vận hành.
Ở An Thới còn Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc (Nhà lao Cây Dừa), di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2014. Từ tháng 6/1967 đến tháng 3/1973, trại giam giữ khoảng 40.000 lượt tù binh, khoảng 4.000 người bị giết hại. Đây là nơi tưởng niệm, nên giữ thái độ trang nghiêm.
Phú Quốc đông khách: 9 tháng đầu năm 2025 đặc khu đón hơn 6,5 triệu lượt, trong đó hơn 1,2 triệu lượt khách quốc tế. Đảo sẽ đăng cai Tuần lễ cấp cao APEC 2027, và tỉnh đang đẩy nhanh nhiều công trình, dự án phục vụ sự kiện này. Một mặt hạn chế đáng biết: nhiều bãi đẹp bị khu nghỉ dưỡng và nhà hàng chiếm mặt tiền; ở Bãi Sao, các lối xuống biển phổ biến đều đi qua đất nhà hàng, có nơi thu phí. Cuối tháng 12 và đầu tháng 1, lục bình và rác thường dạt vào bãi Khem, Bãi Sao.
Mùa khô, ít mưa và biển lặng là khoảng tháng 11 đến tháng 4; tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, có lúc biển động. Đừng xuống tắm khi sóng lớn: ngày 20/5/2026, sóng lớn cuốn một nhóm khách ở bãi biển Dương Đông, một người tử vong. Sở Du lịch An Giang cũng yêu cầu các đơn vị không đưa khách đi tour đảo khi có sóng to, gió lớn. Nếu đi tàu cao tốc từ Rạch Giá (khoảng 2 giờ 30 phút) hoặc Hà Tiên (khoảng 1 giờ 30 phút) vào mùa mưa, hỏi lại lịch tàu và chừa ngày dự phòng trước chuyến bay về.
Dinh Cậu là nơi ngư dân đến cầu an, có lễ hội vào rằm tháng Giêng; ăn mặc lịch sự khi vào. Khi lặn ngắm san hô, không đứng lên, bẻ hay mang san hô về.
Phú Quốc hợp với gia đình nghỉ biển, người thích lặn ngắm san hô, đi rừng hay tìm hiểu lịch sử nhà tù. Nếu bạn muốn một quần đảo ít dịch vụ, nhịp sống làng chài là chính, quần đảo Nam Du ở đặc khu Kiên Hải là lựa chọn khác trong cùng tỉnh.
Keywords
Nature & seasons
Quần đảo 21 hòn đảo trong vịnh Thái Lan thuộc đặc khu Kiên Hải, có làng chài, lồng bè nuôi cá và các bãi tắm nước trong; đi bằng tàu cao tốc từ Rạch Giá hoặc Phú Quốc.
Quần đảo Nam Du nằm giữa vịnh Thái Lan, cách Rạch Giá khoảng 90-110 km tùy tuyến tàu và cách Phú Quốc khoảng 75 km. Quần đảo có 21 hòn đảo, 11 đảo có người ở, tổng diện tích khoảng 1.050 ha. Từ ngày 1/7/2025, cả huyện Kiên Hải cũ trở thành đặc khu Kiên Hải của tỉnh An Giang; Nam Du trước đó là hai xã An Sơn và Nam Du, tỉnh Kiên Giang.
Một chỗ dễ nhầm: đảo lớn mà khách gọi là "đảo Nam Du" (hòn Củ Tron, hòn Lớn) thuộc xã An Sơn cũ, còn xã Nam Du cũ đặt trung tâm ở hòn Ngang. Hòn Lớn rộng 771 ha, có đường chạy vòng quanh đảo, một bên vách đá một bên biển, các bãi Chệt, Đất Đỏ, Ngự, Cây Mến, Giếng, Sỏi và những rừng dừa có cây 70-80 tuổi. Hải đăng trên núi ở độ cao khoảng 300 m nhìn được toàn quần đảo. Hòn Ngang là làng nghề biển, người dân nuôi cá mú, cá bớp trong lồng bè; hòn Mấu có năm bãi, trong đó bãi Chướng và bãi Nam là bãi cát.
Nam Du làm du lịch dựa vào cộng đồng từ khi có tàu cao tốc nối Rạch Giá. Khách ở nhà nghỉ, homestay của người dân, theo ngư dân ra lồng bè, câu cá, ăn hải sản vừa đánh bắt. Năm 2017 tỉnh Kiên Giang cũ công nhận khu du lịch quần đảo Nam Du; đến năm 2025 quần đảo có gần 50 cơ sở lưu trú. Ban ngày bạn thuê xe máy chạy quanh hòn Lớn, đi thuyền nhóm ra các đảo nhỏ; buổi tối trên đảo vắng, gần như không có hoạt động giải trí.
Cần biết trước: điện và Internet có lúc không ổn định, tàu cao tốc thường cắt chuyến vào mùa thấp điểm, và chỉ có đường biển để ra vào. Giá tàu, giá phòng, giá tour đảo đổi theo mùa và chưa có biểu giá chính thức chung, nên hỏi lại hãng tàu và nơi ở.
Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 biển êm hơn; tháng 4 đến tháng 10 mưa nhiều. Tàu phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết: tháng 7/2024 Cảng vụ Hàng hải cho dừng tàu Rạch Giá - Nam Du từ ngày 13/7, khoảng 700 du khách kẹt lại đảo; tháng 9/2024 tàu ngưng vì bão Yagi; ngày 25/8/2026 các tuyến đi Nam Du tạm ngưng khi gió Tây Tây Nam giật cấp 7-8, sóng cao 1-2 m. Hãy chừa ít nhất một ngày dự phòng, mang đủ tiền và thuốc men, đừng xếp lịch về sát ngày bay hay ngày làm việc.
Nam Du là nơi ngư dân đang sống và làm việc: xin phép trước khi lên lồng bè, bến cá hay chụp cận người; ăn mặc lịch sự khi ghé miếu Bà Chúa Xứ trên hòn Lớn. Người làm du lịch ở đây nhắc nhau không vứt rác xuống biển, không bẻ san hô; bạn cũng nên mang rác về đất liền nếu được.
Nam Du hợp với người thích biển ít dịch vụ, nhịp sống làng chài và chịu được điện, Internet không lúc nào cũng ổn định. Nếu bạn cần sân bay, nhiều khu nghỉ dưỡng và lịch trình chắc chắn hơn, Phú Quốc là lựa chọn khác trong cùng tỉnh; nếu muốn một cụm đảo khác trong cùng đặc khu, nằm trên cùng tuyến tàu từ Rạch Giá trước khi tới Nam Du, Hòn Sơn là lựa chọn nên xem.
Keywords
Museums
Nay là cơ sở 1 của Bảo tàng tỉnh An Giang, đặt trong ngôi nhà cổ xây 1911–1920 ngoài Pháp trong Việt, trưng bày khoảng 3.000 hiện vật về Kiên Giang cũ.
Bảo tàng Kiên Giang, nay là cơ sở 1 của Bảo tàng tỉnh An Giang, nằm ở số 27 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường Rạch Giá (trước là phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang). Bảo tàng đặt trong một ngôi nhà cổ xây từ năm 1911 đến năm 1920, rộng khoảng 2.000 m², người Rạch Giá gọi là "Nhà Lớn" hay nhà ông Ba Chiêu; ngôi nhà được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1990.
Người dựng nhà là địa chủ Trần Nhuệ, sau truyền cho con thứ ba là bá hộ Trần Quang Chiêu. Theo tư liệu của bảo tàng do báo chí dẫn, gia chủ thuê thợ từ nhiều nơi, riêng phần nền nhà làm mất khoảng ba năm, móng bằng đá hộc, bên dưới từng có hầm chứa nước nay đã lấp.
Điểm đáng xem nhất là thế nhà mà lãnh đạo bảo tàng gọi là "nội công ngoại quốc". Nhìn từ ngoài, nhà giống biệt thự Pháp: ba lối tam cấp, hành lang nối các ô cửa vòm, trên mặt tiền có những đài vôi tạo hình đầu rắn, bên dưới là hoa cúc, hoa hồng, hoa sen. Bước vào trong là một ngôi nhà Việt ba gian hai chái, sáu hàng cột gỗ căm xe kê trên đá tảng, nền gạch bông, mái ngói âm dương; bao lam, liễn đối chạm rồng, phụng, nai, mai, sen, có chi tiết cẩn xà cừ.
Ngôi nhà đổi công năng nhiều lần: từ đường họ Trần, năm 1946 bị chính quyền Pháp dùng làm Tòa án tỉnh Rạch Giá, những năm 1970–1973 đoàn cố vấn Mỹ sử dụng, sau năm 1975 lần lượt là trụ sở Hội Phụ nữ tỉnh, đoàn văn công, rồi Bảo tàng tỉnh Kiên Giang (thành lập năm 1985).
Phần trưng bày có khoảng 3.000 hiện vật, hình ảnh, tài liệu, chia thành sáu chuyên đề: Kiên Giang vùng đất, con người; văn hóa Óc Eo trên địa bàn Kiên Giang; họ Mạc với công cuộc khai phá trấn Hà Tiên; thân thế, sự nghiệp Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; quân và dân Kiên Giang qua hai cuộc kháng chiến; hiện vật trục vớt ở vùng biển Kiên Giang. Chuyên đề Óc Eo thu hút nhiều người nhất, có khuôn đúc đồ trang sức và bình gốm; ngoài ra có xuồng độc mộc, nhạc cụ đờn ca tài tử, gốm Hòn Đất.
Mặt hạn chế: năm 2024 báo chí ghi ngôi nhà xuống cấp khá nặng, mái thấm dột, tường vôi bong tróc, gỗ có mối mọt; lần trùng tu gần nhất là năm 2009. Giờ mở cửa và giá vé chưa có công bố chính thức, bạn nên hỏi trước khi đi.
Đây là di tích kiến trúc, nên đừng chạm tay vào bao lam, liễn đối và đồ gỗ, không tựa vào cột; trong sân còn hai cây nhãn gia chủ trồng từ thuở dựng nhà.
Bảo tàng hợp với người thích nhà cổ Nam Bộ pha kiến trúc Pháp và muốn có cái nhìn tổng quan về Kiên Giang cũ trước khi đi Hà Tiên, Phú Quốc. Kết hợp tốt với đình thần Nguyễn Trung Trực và cổng Tam Quan năm 1961 cùng phường. Muốn xem di chỉ Óc Eo ngay tại chỗ, hãy đến Khu di tích Óc Eo - Ba Thê; cơ sở 2 của Bảo tàng tỉnh ở phường Long Xuyên là một entry riêng.
Keywords
Nature & seasons
Rừng tràm ngập nước trên đất than bùn, khu Ramsar và Vườn di sản ASEAN; vùng lõi tạm ngưng đón khách trong cao điểm mùa khô để phòng cháy.
Vườn quốc gia U Minh Thượng nằm ở xã U Minh Thượng, tỉnh An Giang (trước là hai xã An Minh Bắc và Minh Thuận, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang), cách Rạch Giá khoảng 50 km. Vùng lõi rộng 8.038 ha, tính cả vùng đệm là 21.107 ha. Theo Vườn, đây là phần còn sót lại của đầm lầy than bùn từng chiếm ưu thế ở đồng bằng sông Cửu Long: rừng tràm mọc trên than bùn, xen trảng cỏ ngập nước, nước kênh đỏ màu lá tràm.
Khu rừng thành khu bảo tồn năm 1994, chuyển hạng vườn quốc gia theo Quyết định 11/2002/QĐ-TTg ngày 14/01/2002. Năm 2006 vườn là một vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Kiên Giang; năm 2012 là Vườn di sản ASEAN, vườn đất than bùn đầu tiên trong khu vực; năm 2015 là khu Ramsar thứ 8 của Việt Nam. Vườn ghi nhận 260 loài thực vật bậc cao, 32 loài thú, 184 loài chim, có rái cá lông mũi, tê tê Java; tháng 11/2025 già đẫy Java trở lại kiếm ăn sau nhiều năm ít gặp.
Trung tâm đón khách là hồ Hoa Mai, đầm nước hình hoa năm cánh, có tháp quan sát cao 24 m. Từ đây bạn đi vỏ máy theo kênh xuyên rừng tràm và các trảng ngập nước; theo Cục Du lịch Quốc gia, có trảng chim với cầu khỉ dài hơn 100 m dẫn tới đài quan sát, và trảng dơi nơi dơi ngựa ngủ trên ngọn cây. Khu cứu hộ động vật hoang dã khoảng 10 ha nuôi chừng 200 cá thể như tê tê, cá sấu xiêm, rái cá vuốt bé. Dân câu có thể câu cá ở các trảng, nhánh kênh được phép.
Mùa nước tháng 8 đến tháng 11 được Cục Du lịch Quốc gia xem là lúc rừng đẹp nhất. Cao điểm mùa khô, vùng lõi thường đóng để phòng cháy: năm 2026 vườn ngưng tham quan từ 13/4, mở lại lúc 7 giờ ngày 28/5, câu cá mở lại từ 1/7; năm 2024 ngưng từ 15/3. Khi đóng, khu cứu hộ vẫn đón khách. Nếu đi từ tháng 3 đến tháng 5, hãy xem mục Thông báo trên trang của vườn trước.
Vườn chưa công bố bảng giá vé và giờ mở cửa hằng ngày; hãy hỏi khi đến. Vườn xa trung tâm, chỉ đi bằng đường bộ; tại chỗ có điểm bán quà lưu niệm, đồ ăn nhanh, nước giải khát do vườn cho thuê. Chuyên gia được Báo An Giang dẫn lời cho rằng hạ tầng kết nối ở đây vẫn cần đầu tư thêm.
Mùa khô, vườn đánh giá nguy cơ cháy rừng rất cao: không hút thuốc, không đốt lửa, không vứt tàn thuốc hay chai lọ trong rừng. Chỉ câu ở khu được phép, không mua bán động vật hoang dã, không cho thú ở khu cứu hộ ăn. Vùng U Minh Thượng từng là căn cứ kháng chiến của Khu 9, có Khu di tích An ninh Khu IX; giữ thái độ tôn trọng khi ghé di tích.
Vườn hợp với người thích xem chim, đi xuồng, câu cá và gia đình có trẻ muốn xem động vật cứu hộ; không hợp với người muốn tự đi bộ xuyên rừng dài hay chỉ đi được giữa mùa khô. Nếu đang ở vùng Châu Đốc, rừng tràm Trà Sư (xã An Cư) là lựa chọn gần hơn để đi xuồng trong rừng tràm mùa nước nổi.
Keywords
Heritage spaces
Di tích khảo cổ đặc biệt quan trọng của văn hóa Óc Eo – vương quốc Phù Nam, rộng khoảng 433 ha quanh núi Ba Thê và cánh đồng Óc Eo; đang lập hồ sơ Di sản thế giới.
Khu di tích Óc Eo - Ba Thê nằm quanh núi Ba Thê và cánh đồng Óc Eo, nay thuộc xã Óc Eo, tỉnh An Giang (trước tháng 7/2025 là thị trấn Óc Eo và xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn). Văn hóa Óc Eo, gắn với vương quốc Phù Nam ở Nam Bộ khoảng thế kỷ I đến VII, mang tên theo chính cánh đồng này.
Năm 1879, những cổ vật đầu tiên được bác sĩ A. Corre thông báo. Từ năm 1937, nhà khảo cổ người Pháp L. Malleret khảo sát vùng Ba Thê, dùng ảnh chụp từ máy bay để nhận ra dấu vết một thành phố cổ; tên "văn hóa Óc Eo" lấy theo gò Óc Eo, công bố năm 1942, và năm 1944 ông khai quật tại đây. Hiện vật tìm được cho thấy một đô thị, thương cảng có quan hệ với Ấn Độ, thế giới Địa Trung Hải và Trung Hoa, nơi Phật giáo và Hindu giáo cùng tồn tại.
Khu di tích được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2012, vào Danh sách dự kiến Di sản thế giới của UNESCO năm 2022. Hồ sơ đề cử chính thức gồm 16 di tích thành phần, thuộc bốn khu Núi Ba Thê, Đô thị Óc Eo, Giồng Xoài và Nền Chùa; đoàn chuyên gia ICOMOS được lên lịch khảo sát thực địa trong tháng 8/2026, tỉnh hướng tới việc ghi danh năm 2027. Tức là đến nay Óc Eo - Ba Thê chưa phải Di sản thế giới.
Đừng hình dung một quần thể đền tháp đứng sừng sững. Thứ bạn xem là nền móng gạch đá đã khai quật, nằm rải trên các gò giữa ruộng và quanh chân núi. Chuẩn bị cho đợt thẩm định, tỉnh làm mái che cho 6 di tích, lấp lại 10 di tích sau khai quật để bảo vệ và lắp bảng giới thiệu song ngữ Việt - Anh. Nên bắt đầu ở Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo, rồi đi chùa Linh Sơn dưới chân núi Ba Thê, nơi còn tượng thần Vishnu và hai bia đá, sau đó ra các gò đã được tu bổ, có bảng thuyết minh, như gò Cây Thị B.
Hạn chế nói thẳng: các điểm nằm rải trên diện tích hơn 400 ha, giữa ruộng và quanh chân núi, nên cần xe riêng để đi giữa các gò, và phần lớn thời gian bạn ở ngoài trời. Giờ mở cửa, vé tham quan chưa có công bố chính thức, nên hỏi Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo trước khi đi. Không bước lên nền móng, không nhặt mảnh gốm, hạt chuỗi hay bất cứ thứ gì trên gò: đây là di tích khảo cổ đang được bảo vệ. Chùa Linh Sơn là nơi thờ tự, nên ăn mặc kín đáo và giữ yên lặng.
Muốn xem bảo vật, bạn phải đi thêm. Theo Cổng thông tin tỉnh (7/2025), An Giang có 10 hiện vật văn hóa Óc Eo là bảo vật quốc gia: 6 ở Bảo tàng An Giang tại Long Xuyên và 4 do Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo lưu giữ.
Óc Eo hợp với người mê khảo cổ và lịch sử Đông Nam Á cổ. Người chỉ muốn chụp ảnh công trình sẽ thấy ít thứ để xem. Nếu đang ở Cần Thơ, khu di tích Nhơn Thành rộng 56 ha, nơi tìm được 4 bảo vật quốc gia hiện trưng bày ở Bảo tàng thành phố Cần Thơ, là một lựa chọn khác gần hơn.
Keywords
Heritage spaces
Lăng mộ dưới chân núi Sam của Thoại Ngọc Hầu, người chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế, an táng cùng hai phu nhân và hơn 50 dân phu vô danh.
Lăng Thoại Ngọc Hầu, còn gọi là Sơn Lăng, nằm dưới chân núi Sam ở phường Vĩnh Tế (trước là phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc), cách Miếu Bà Chúa Xứ vài trăm mét. Đây là nơi yên nghỉ của Thoại Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại (1761–1829), vị quan triều Nguyễn gắn tên với kênh Vĩnh Tế, cùng hai người vợ là bà Châu Thị Tế và bà Trương Thị Miệt.
Ông quê Quảng Nam, năm 1817 làm Trấn thủ Vĩnh Thanh. Năm 1818 ông chỉ huy đào kênh Thoại Hà; từ tháng Chạp năm 1819 đến tháng 5 năm 1824, ông chỉ huy trên 80.000 nhân công đào kênh nối Châu Đốc với Hà Tiên, dài gần 100 km. Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang, vua Minh Mạng đặt tên kênh là Vĩnh Tế và đổi tên núi Sam thành Vĩnh Tế Sơn để ghi công bà Châu Thị Tế, người lo hậu cần cho dân phu. Ông mất tại Châu Đốc năm 1829.
Ông cho xây lăng khi còn sống: Báo An Giang và Báo Cần Thơ ghi năm 1822, còn Thanh Niên cho biết khu lăng đã có từ ít nhất năm 1821, khi bà Trương Thị Miệt được an táng tại đây.
Từ đường vào, bạn qua chín bậc đá ong dài hơn trăm mét rồi tới sân có hai tiểu đình: một đặt bản sao bia Thoại Sơn bằng đá cẩm thạch trắng, một đặt tượng ngựa và người lính hầu. Qua vòng thành và hai cổng bán nguyệt là khu mộ, mộ ông ở giữa, mộ hai bà hai bên; tấm bia giữa tường thành được cho là bia Vĩnh Tế Sơn dựng năm 1828. Hai bên vuông lăng có hơn 50 ngôi mộ vô danh, phần lớn là người mất khi đào kênh Vĩnh Tế, được ông quy tập. Trên cùng, tựa lưng vào núi, là đền thờ có tượng bán thân của ông.
Trong đợt trùng tu năm 2009 hoặc 2010 (các báo ghi khác nhau), thợ thi công làm lộ hai hầm đồ tùy táng cạnh mộ; Bảo tàng An Giang khai quật và thu được mão vàng, tiền vàng bạc, đồ gốm, thủy tinh, đồ đồng của nhiều nước. Nơi trưng bày bộ sưu tập này hiện chưa có công bố.
Lăng thuộc Khu du lịch quốc gia núi Sam, nơi đón gần 35,7 triệu lượt khách giai đoạn 2017–2024, nên tháng Giêng, tháng Hai âm lịch và mùa Lễ hội Vía Bà rất đông. Giá vé và giờ mở cửa chưa có công bố chính thức cập nhật, bạn nên hỏi tại quầy vé. Lối lên là bậc đá, không thuận cho người đi lại khó khăn.
Lăng là nơi thờ tự do Ban Quản trị Lăng miếu Núi Sam trông coi; giỗ ông vào mùng 6 tháng 6 âm lịch. Chiều 25 tháng 4 âm lịch, ban quản trị làm lễ thỉnh sắc, rước bài vị ông và hai bà từ lăng về miếu Bà. Khi gặp lễ, bạn đứng ngoài lối rước, ăn mặc kín đáo, không bước lên mộ và hỏi trước khi chụp gian thờ.
Lăng hợp với người muốn hiểu chuyện đào kênh, khẩn hoang miền Tây đầu thế kỷ XIX. Muốn xem bia Thoại Sơn bản gốc, hãy đến đình Thoại Ngọc Hầu ở xã Thoại Sơn (thị trấn Núi Sập cũ); thích kiến trúc chùa hơn thì chùa Tây An ở ngay cụm chân núi.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi chùa Tổng đốc Doãn Uẩn dựng năm 1847 dưới chân núi Sam, ba cổ lầu nóc tròn dáng Ấn Độ, nơi an táng Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên.
Từ trung tâm Châu Đốc đi vào núi Sam, tới ngã ba chân núi là gặp chùa Tây An với ba ngôi cổ lầu nóc tròn hình củ hành, tựa lưng vào núi, mặt hướng đông. Chùa thuộc phường Vĩnh Tế (trước là phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc), cùng cụm với Miếu Bà Chúa Xứ và Lăng Thoại Ngọc Hầu.
Năm 1847, Tổng đốc An Hà Doãn Uẩn cho dựng chùa bằng tường gạch, nền đá xanh, mái ngói và đặt tên Tây An, nghĩa là trấn yên bờ cõi phía Tây. Trụ trì đầu tiên là Thiền sư Tiên Giác Hải Tịnh, từng làm Tăng cang chùa Thiên Mụ; chùa thờ Phật theo dòng Lâm Tế. Diện mạo hiện nay có từ đợt đại trùng tu năm 1958 do Hòa thượng Thích Bửu Thọ vận động.
Chùa còn gắn với Đoàn Minh Huyên (1807–1856), người khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương năm 1849, được tôn xưng là Phật Thầy Tây An. Theo Báo An Giang, sau khi lập đạo ông được quan triều Nguyễn đưa về tu ở chùa; lời vị trụ trì do Thanh Niên dẫn cho biết ông bị giam ba tháng rồi buộc về đây, xuất gia với pháp danh Minh Huyên. Ông được an táng phía sau chùa, mộ không đắp nấm cao theo ý nguyện; tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương dựng long đình bên cạnh. Ông không có tên trong danh sách các đời trụ trì.
Qua các bậc thang lên cổng tam quan, bạn gặp tượng Quan Âm Thị Kính, rồi tới mặt tiền: tháp thờ Phật hai tầng mái vòm đỉnh nhọn dáng tháp Ấn Độ, có tượng hộ pháp, voi trắng và voi đen; hai bên là lầu chuông, lầu trống đắp tứ linh. Chùa bố cục theo lối chữ "tam". Chính điện hai tầng mái, cột gỗ căm xe, nền gạch bông, bày khoảng 150 đến 200 pho tượng, phần nhiều bằng gỗ, tạc vào thế kỷ XIX; đại hồng chung ở lầu chuông đúc năm 1879.
Chùa được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tháng 7/1980 (báo Giác Ngộ ghi Quyết định 92/VH.QĐ ngày 10/7/1980). Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công nhận đây là ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam kết hợp nghệ thuật Ấn Độ với kiến trúc cổ dân tộc.
Trước cổng chùa là đầu tuyến phố đi bộ và một điểm soát vé của Khu du lịch quốc gia núi Sam theo phương án từ tháng 10/2025; tháng Giêng, tháng Hai âm lịch và mùa Lễ hội Vía Bà rất đông. Giá vé và giờ mở cửa chưa có công bố chính thức cập nhật, bạn nên hỏi tại quầy vé.
Chùa là nơi tu hành đang hoạt động, còn mộ Phật Thầy là nơi tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương tôn kính: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chính điện, không leo lên tượng voi hay bệ tượng để chụp ảnh, hỏi trước khi chụp người đang hành lễ.
Chùa hợp với người thích kiến trúc tôn giáo pha trộn nhiều phong cách và muốn biết về Bửu Sơn Kỳ Hương. Quan tâm chuyện đào kênh, khẩn hoang hơn thì đi tiếp Lăng Thoại Ngọc Hầu; muốn một ngôi chùa trên triền núi thì chùa Hang (Phước Điền tự) cách cụm di tích khoảng 1 km.
Keywords
Nature & seasons
Đầm nước mặn hơn 1.384 ha giữa phố Hà Tiên và núi Tô Châu, cảnh "Đông Hồ ấn nguyệt" trong Hà Tiên thập cảnh của Mạc Thiên Tích.
Đầm Đông Hồ là vùng nước mặn hình lòng chảo nằm ngay phía đông trung tâm Hà Tiên, nơi sông Giang Thành đổ ra biển; một bờ là phố Hà Tiên, bờ bên kia là núi Tô Châu. Đầm rộng hơn 1.384 ha, mặt nước khoảng 900 ha, tiếp giáp biên giới Việt Nam - Campuchia. Nay đầm nằm giữa phường Hà Tiên và phường Tô Châu (trước là phường Đông Hồ và phường Tô Châu, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang).
Đông Hồ là một cảnh trong Hà Tiên thập cảnh: bài "Đông Hồ ấn nguyệt" nằm trong tập Hà Tiên thập cảnh vịnh của Mạc Thiên Tích, người lập Tao đàn Chiêu Anh Các năm 1736. Theo lời bình của thi sĩ Đông Hồ, "ấn nguyệt" là trăng in: bóng trăng in xuống mặt hồ như cái ấn tròn đóng trên tờ giấy. Sách Gia Định thành thông chí chép hồ rộng 71 trượng, giữa có cồn cát, ghe tàu neo chen nhau. Tương truyền xứ này thường thấy tiên hiện trên sông nên gọi là Hà Tiên; bên bờ nay có cụm tượng các nàng tiên nhắc tích xưa.
Đầm có rừng dừa nước và hàng chục loài cây ngập mặn. Theo Tuổi Trẻ, nơi đây ghi nhận hơn 155 loài động vật có xương sống, 114 loài chim, trong đó 6 loài có trong Sách đỏ, cùng voọc bạc Đông Dương và sóc đồi. Người dân sống bằng đánh bắt và nuôi tôm cua; tôm khô Hà Tiên và cà xỉu, một loài hai mảnh vỏ có râu, thu hoạch nhiều nhất tháng 6–8, là sản vật từ đầm.
Từ năm 2014, Hà Tiên có đề án du lịch cộng đồng đầm Đông Hồ với khoảng 30 hộ tham gia. Các hộ đưa khách bằng vỏ composite len qua rừng dừa nước, xem vườn cò, chài cá, câu cá, ăn trái cây vườn như xoài, mít, dừa, nghe đờn ca tài tử. Không đi thuyền, bạn có thể dạo bờ phía phố, hoặc theo con đường vòng chân núi Tô Châu, nơi nhà cửa san sát từ triền núi xuống bờ hồ. Muốn thấy đúng tên cảnh, hãy ra bờ hồ vào đêm trăng.
Mặt trái cần biết: từ khoảng năm 2018 nhiều diện tích trong đầm bị lấn chiếm, chặt dừa nước, đắp đập làm vuông nuôi, khiến lối thuyền chở khách luồn qua dừa nước bị cản; tháng 7/2024 chính quyền Hà Tiên ra quân kiểm tra, xử lý. Giá tour thuyền và lịch chạy chưa có công bố chính thức, bạn nên hỏi thẳng hộ làm du lịch và thống nhất giá trước khi xuống thuyền. Phố Hà Tiên khoảng 8 giờ tối đã vắng người.
Đầm là nơi sinh kế của cư dân: không bước vào vuông nuôi, không bẻ dừa nước, hỏi trước khi chụp nhà và người dân. Mặc áo phao khi đi thuyền, nhất là mùa mưa tháng 5–10.
Đầm Đông Hồ hợp với người thích sông nước, ngắm chim, ăn hải sản và muốn dành một buổi chiều chậm ở Hà Tiên. Nếu bạn cần tour đặt lịch sẵn, giá niêm yết, đầm sẽ khó chiều. Đi tiếp trong ngày có Thạch Động và Mũi Nai ở Hà Tiên; muốn hang đá và biển thì xuống Kiên Lương xem núi Mo So, hòn Phụ Tử.
Keywords
Local markets
Chợ vùng biên sát Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, bán mắm, khô, sản phẩm thốt nốt cùng quần áo, thực phẩm nguồn gốc Thái Lan, Campuchia.
Chợ Tịnh Biên nằm ở phường Tịnh Biên, sát Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, bên kia biên giới là cửa khẩu Phnom Den của Campuchia. Đây là chợ mà khách đi Bảy Núi hay ghé mua quà, thường sau khi viếng Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, chùa Hang và trước khi lên núi Cấm.
Chỗ chợ đứng có lịch sử dài. Theo trang của UBND phường Tịnh Biên, năm 1850 khi triều Nguyễn bỏ phủ Tịnh Biên, huyện lỵ Hà Dương được đặt ở thôn An Thạnh, tức vùng chợ Tịnh Biên ngày nay. Trang này cũng ghi, đến năm 1979 thị trấn Tịnh Biên đã bị quân Pol Pot san bằng, mất tên trên bản đồ hành chính lúc bấy giờ.
Hàng ở chợ pha trộn hai phía biên giới. Đặc sản trong tỉnh có mắm cá linh, mắm thái, mắm sặc, mắm lóc, khô cá tra phồng, khô cá sửu và các sản phẩm từ cây thốt nốt; bên cạnh là quần áo, vải, thực phẩm, hàng tiêu dùng có nguồn gốc Thái Lan, Campuchia. Chợ còn có các sạp bán côn trùng, bò sát như bò cạp, rết, rắn mối, tắc kè, mối chúa, cả loại sấy khô và ngâm rượu, và có người Campuchia sang mua bán.
Theo ban quản lý chợ, năm 2018 chợ có khoảng 210 hộ kinh doanh với trên 540 ki-ốt, đón khoảng 548.647 lượt khách. Mùa đông khách bắt đầu từ sau Tết Nguyên đán và kéo đến khoảng hết tháng 5 âm lịch, trùng mùa hành hương Bảy Núi; lúc cao điểm mỗi ngày có 1.500 đến 2.000 lượt khách, thứ Bảy và Chủ nhật tăng gấp đôi. Tiểu thương cho biết hàng có niêm yết giá.
Cần nói thẳng: phần lớn bài viết về chợ trên báo tỉnh có từ 2018 đến 2020, nên quy mô và mặt hàng hôm nay có thể đã khác. Chợ biên giới Tịnh Biên thuộc nhóm chợ được các lực lượng chức năng kiểm soát chặt về hàng nhập lậu; ban quản lý vận động tiểu thương không bán hàng giả, hàng lậu, hàng không rõ nguồn gốc. Khi mua mỹ phẩm, thực phẩm ngoại, hãy chọn hàng có nhãn phụ tiếng Việt, hạn dùng rõ. Lời quảng cáo côn trùng, rượu ngâm là "thần dược" không có cơ sở y tế, và động vật hoang dã có thể thuộc loài được bảo vệ, tốt nhất không mua.
Nếu cần tiền riel để sang Campuchia, hãy đổi tại ngân hàng hoặc đại lý đổi ngoại tệ được cấp phép; mua bán ngoại tệ ở nơi không được phép là vi phạm hành chính theo Nghị định 88/2019/NĐ-CP. Hỏi giá trước, mặc cả nhẹ nhàng và giữ đồ cá nhân cẩn thận khi chợ đông.
Chợ hợp với người muốn một điểm mua quà vùng biên trên tuyến Châu Đốc, Tịnh Biên, núi Cấm, và tò mò về hàng hóa hai bên biên giới. Nếu chủ yếu muốn mắm, khô, chợ Châu Đốc có khu mắm hàng trăm sạp; muốn xem người Khmer làm đường thốt nốt, hãy ghé làng nghề đường thốt nốt Bảy Núi ngay trong phường Tịnh Biên.
Keywords
Heritage spaces
Nhà thờ giáo xứ bên sông Tiền do linh mục Gazignol xây cuối thế kỷ XIX, phong cách Roman, tháp chuông 35 m, vẫn là nơi sinh hoạt của giáo dân.
Nằm bên bờ sông Tiền trên cù lao Giêng, nay thuộc xã Cù Lao Giêng, nhà thờ Cù lao Giêng (còn gọi là thánh đường họ Đầu Nước) là nhà thờ của một giáo xứ thuộc Giáo phận Long Xuyên, nơi sinh hoạt của hơn 4.000 giáo dân theo Báo Thanh Niên (3/2026). Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của giáo xứ, không phải một bảo tàng.
Họ đạo ở đây có từ năm 1778, khi một đoàn lưu dân Công giáo đến cù lao khai đất, lập giáo đường; ngôi hiện nay là nhà thờ thứ ba. Linh mục Gazignol (cha Nho), thuộc Hội Thừa sai Paris, cho dựng lò gạch rồi xây lại nhà thờ. Mốc năm giữa các nguồn không khớp: Tuổi Trẻ (2012) và Báo Cần Thơ (2016) ghi khởi công năm 1879, hoàn thành năm 1889; bảng lược sử trước cửa chính (theo Thanh Niên 3/2026) và Báo An Giang (3/2026) ghi xây từ năm 1875, xong năm 1887. Vật liệu phần lớn được chở từ Pháp sang; nhà thờ được trùng tu các năm 1924, 1960, 1994, 2003.
Công trình theo phong cách Roman; Tuổi Trẻ và Thanh Niên mô tả là Roman pha lẫn Gothic. Thánh đường dài 55 m, rộng 18 m trong khuôn viên 7.367 m², tháp chuông cao 35 m treo hai quả chuông đồng đúc tại Pháp. Lòng nhà thờ chia ba gian dưới mái vòm bán nguyệt; ở cung thánh có tượng Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội cao 2 m mang từ Pháp. Theo Báo Cần Thơ, hầm mộ của linh mục Gazignol và hai cha phó nằm dưới lối đi giữa nhà thờ.
Nên xem mặt tiền và tháp chuông từ sân trước, đọc bảng lược sử ở cửa chính, rồi vào lòng nhà thờ khi không có thánh lễ. Cách đó gần 1 km là tu viện dòng Chúa Quan Phòng do các nữ tu người Pháp lập năm 1874; cạnh đó là tu viện dòng Phanxicô, từng là chủng viện của giáo phận Nam Vang giai đoạn 1872–1946. Đường vào cù lao là cầu Tấn Mỹ - Mỹ Luông.
Giờ mở cửa cho khách và giờ thánh lễ chưa có công bố chính thức, cũng chưa có dịch vụ thuyết minh hay phí tham quan được công bố. Báo An Giang (6/2026) nhận xét các điểm tham quan trên cù lao còn hoạt động riêng lẻ, thiếu liên kết, đường đi cần nâng cấp thêm.
Khi vào nhà thờ, mặc trang phục kín vai và gối, giữ yên lặng, không bước lên cung thánh, không chạm vào tượng và đồ thờ. Nếu đến đúng giờ lễ, hãy ngồi ở hàng ghế cuối hoặc chờ bên ngoài, không đi lại hay chụp ảnh trong lúc cử hành.
Nơi này hợp với người quan tâm kiến trúc tôn giáo và lịch sử Công giáo ở Nam Bộ, khách đi xe máy, xe đạp một vòng cù lao để ghép thêm tu viện, chùa và vườn cây. Nếu muốn xem thêm một nhà thờ cổ ít người biết hơn, nhà thờ Rạch Sâu ở cuối cù lao cũng trên 100 năm tuổi.
Keywords
Craft villages
Làng mộc và chạm khắc gỗ ven sông Tiền ở xã Long Điền, dãy cửa hàng đồ gỗ hơn 4 km, nghề truyền qua nhiều đời từ chợ của người làm nghề thủ công.
Làng nghề mộc Chợ Thủ nằm ven sông Tiền ở xã Long Điền (trước ngày 01/7/2025 là xã Long Điền A và thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới). Từ khu Chợ Mới cũ theo đường 942 khoảng 20 km là tới; dọc hơn 4 km đường, hai bên là cửa hàng trưng bày tủ thờ, bàn ghế, giường, bao lam, tượng gỗ.
"Chợ Thủ" nghĩa là chợ của người làm nghề thủ công. Chợ hình thành năm 1892 ở đầu rạch Trà Thôn, sau vì sạt lở bờ sông Tiền phải dời vào trong và đổi tên là chợ Long Điền A, nhưng người ta vẫn quen gọi Long Điền Chợ Thủ. Theo lời đại diện làng nghề, hơn trăm năm trước ở đây phụ nữ dệt lãnh Mỹ A, đàn ông làm mộc.
Tuổi nghề được kể khác nhau. Báo chí dựa vào đình Chợ Thủ, dựng năm 1786 và còn nhiều bao lam, hoành phi, cột kèo chạm khắc, để nói nghề mộc ở đây đã hơn 200 năm; trang của Bộ Công Thương năm 2025 ghi hơn 140 năm. Người trong làng kể nghề chạm theo người Việt từ miền Bắc vào, sớm có ở vùng Cao Lãnh; khi Pháp chiếm Cao Lãnh, thợ chạm tản cư về Chợ Thủ, rồi truyền nghề cha con. Gỗ súc xưa chở bè từ Campuchia về, nên trại cưa nằm sát bờ sông.
Tháng 12 năm 2006, UBND tỉnh An Giang công nhận làng nghề mộc và chạm khắc gỗ Chợ Thủ là làng nghề truyền thống. Năm 2024, năm làng nghề mộc của huyện Chợ Mới cũ (Chợ Thủ, Long Điền B, Long Giang, Tấn Mỹ, Mỹ Luông) có 1.693 hộ với 2.912 lao động. Làng làm tủ, giường, bàn ghế cho thị trường miền Tây và TP.HCM, phần chạm khắc làm bao lam, hoành phi, câu đối, tượng cho đình chùa, nhà thờ họ. Làng còn cúng tổ nghề hai lần mỗi năm, ngày 13 tháng 6 và 20 tháng Chạp âm lịch.
Đến Chợ Thủ, bạn đi dọc dãy cửa hàng, ghé một xưởng xin xem thợ vẽ mẫu, đục chạm bằng bộ đục hơn chục món, bào láng, rồi so với máy chạm CNC mà nhiều xưởng đã dùng. Cận Tết là lúc làng tất bật nhất, nhiều cơ sở chuẩn bị gỗ từ tháng 5, tháng 6 âm lịch.
Nói thẳng: Chợ Thủ trước hết là nơi sản xuất và bán đồ gỗ nội thất, không phải điểm tham quan có lối đi, giờ mở cửa hay chương trình trải nghiệm công bố. Xưởng ồn, nhiều bụi gỗ, có máy cưa, máy bào và mùi sơn; đồ gỗ lớn thì phải tính chuyện chở về.
Xưởng là nơi làm việc: xin phép trước khi vào, đứng xa máy đang chạy, hỏi trước khi chụp thợ. Mua đồ gỗ nên hỏi rõ loại gỗ, như căm xe, thao lao, cẩm lai, và phần nào chạm tay, phần nào chạm máy.
Chợ Thủ hợp với người mê đồ gỗ, muốn xem nghề chạm và đặt đồ theo ý. Người chỉ muốn một buổi làng quê yên tĩnh sẽ hợp hơn với cù lao Giêng gần đó, có nhà thờ Cù lao Giêng cuối thế kỷ XIX.
Keywords
Nature & seasons
Ngọn núi cao hơn 700 m của vùng Bảy Núi, trên đỉnh có tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m, hồ Thủy Liêm và nhiều chùa; lên núi bằng đường bộ hoặc cáp treo.
Núi Cấm, tên chữ là Thiên Cấm Sơn, nằm ở xã Núi Cấm, sát biên giới Campuchia, cách TP.HCM hơn 250 km. Núi cao hơn 700 m, được báo chí gọi là ngọn cao nhất miền Tây, và là một trong bảy núi của vùng Bảy Núi (Thất Sơn). Trước tháng 7/2025, núi thuộc xã An Hảo, thị xã Tịnh Biên. Người miền Tây lên Núi Cấm trước hết để hành hương: cổng tỉnh An Giang ước mỗi năm nơi đây đón trên dưới 1 triệu lượt khách.
Trên đỉnh là cụm chùa Vạn Linh, chùa Phật Lớn và tượng Phật Di Lặc cao 33,6 m, hoàn thành cuối năm 2005, tạc hình Bố Đại Hòa thượng mang túi vải. Bệ tượng rộng 27 x 27 m, tổng trọng lượng gần 1.700 tấn bê tông cốt thép. Tượng giữ hai kỷ lục do tổ chức kỷ lục xác lập: "Tượng Phật Di Lặc lớn nhất trên đỉnh núi" ở Việt Nam (2006) và ở châu Á (2013). Trước tượng là hồ Thủy Liêm, hồ trữ nước ở độ cao khoảng 600 m, khởi công năm 2005.
Bạn có thể lên bằng cáp treo do một doanh nghiệp du lịch của tỉnh vận hành, bằng xe lữ hành 7-16 chỗ, xe máy, xe ôm, hoặc đi bộ. Dọc lối mòn có suối Thanh Long, suối Tiên, động Cây Quế, hang ông Hổ. Ai ở lại trên núi thường đi bộ tiếp tới giếng Gia Long, vồ Thiên Tuế, hang Bạch Hổ, rồi tối ăn ở chợ đêm. Khí hậu trên núi mát hơn đồng bằng.
Mặt hạn chế cần biết: dịp Tết và đầu năm rất đông, riêng 5 ngày đầu Tết 2024 đã gần 57.000 lượt đi đường bộ. Giá vé cáp treo từng thay đổi mạnh giữa các mùa Tết, và chưa có biểu giá công khai trên trang chính thức, nên hỏi tại quầy. Trên núi có nhiều nhà ở, homestay, cơ sở thờ tự xây không phép; tỉnh đang lập quy hoạch mới và yêu cầu xử lý xây dựng trái phép, mê tín dị đoan.
Tháng 8/2023, một số khu vực trên Núi Cấm sạt lở sau nhiều ngày mưa bão; chính quyền xác định nhiều homestay xây cheo leo trên mỏm đồi dốc, kết cấu tạm. Mùa mưa, nên chọn chỗ ở kiên cố và theo dõi thông báo địa phương. Đi xe đậu, đón đúng nơi quy định; ban quản lý khu du lịch đã siết tình trạng xe ôm chèo kéo.
Núi có nhiều chùa, điện đang hoạt động. Ở điện Bồ Hông, dịp đầu năm có nghi thức cúng cơm Cửu huyền trăm họ; nếu dự, hãy đứng theo hướng dẫn của người trong điện, ăn mặc kín đáo, không chen lấn. Lễ hội Hoa đăng Thiên Cấm Sơn vào tháng Giêng dùng đèn tự phân hủy thả xuống hồ Thủy Liêm.
Núi Cấm hợp với người hành hương, gia đình muốn một ngày lên núi mát mẻ, hoặc người thích đi bộ đường núi. Nếu muốn một ngọn núi thấp hơn, gần trung tâm Châu Đốc và kết hợp miếu Bà Chúa Xứ, núi Sam ở phường Vĩnh Tế là lựa chọn khác.
Keywords
Heritage spaces
Thánh đường Hồi giáo mái vòm trắng – xanh ngọc của người Chăm Islam ở xã Châu Phong, trong làng Chăm có nghề dệt thổ cẩm bên ngã ba sông Châu Đốc.
Thánh đường Masjid Jamiul Azhar nằm ở tổ 12, ấp Châu Giang, xã Châu Phong, tỉnh An Giang; từ Châu Đốc đi thuyền sang mất khoảng 15 phút. Đây là nơi hành lễ của người Chăm theo đạo Islam trong làng Chăm Châu Phong, nơi có 1.256 hộ người Chăm sống bên ngã ba sông Ba Zắc (sông Châu Đốc) theo Tuổi Trẻ tháng 12/2025.
Theo lời một người dân địa phương được báo chí dẫn, khoảng năm 1700 nơi đây đã có một thánh đường bằng gỗ tên Masjid Yahya; sau nhiều lần xây lại, năm 1959 thánh đường mang tên Jamiul Azhar. Mốc này mới dựa trên lời kể, chưa có tài liệu chính thức. Đợt trùng tu lớn nhất bắt đầu năm 2012, hai năm sau thánh đường khánh thành với diện mạo hiện nay: màu trắng điểm xanh ngọc và chữ vàng, mái vòm, tháp củ tỏi, trên nóc có trăng lưỡi liềm và sao năm cánh.
Từ đường chính vào, bạn đi qua cổng rồi qua khu mộ của tín đồ nằm hai bên lối đi trước nhà nguyện. Trước nhà nguyện có một tháp bốn tầng, xưa người Chăm dùng để quan sát trăng, tính ngày tháng cho việc hành lễ. Nhà nguyện là nơi hành lễ của đàn ông; tín đồ cầu nguyện hướng về phía tây. Bên cạnh có hồ nước và nhà học, nơi dạy tiếng Chăm và kinh Koran hằng tuần.
Tín đồ hành lễ năm lần mỗi ngày, do Imam chủ trì. Theo các báo, thứ Sáu là ngày đàn ông bắt buộc đến thánh đường cầu nguyện. Vì vậy, bạn nên tránh giờ hành lễ, nhất là trưa thứ Sáu; muốn vào bên trong thì hỏi người trông coi trước. Du khách vào thánh đường cần mặc quần dài và áo kín tay. Giờ tham quan chưa có công bố chính thức.
Ngoài thánh đường, làng còn nghề dệt thổ cẩm: cuối năm 2023, Nghề dệt thổ cẩm và Nghi lễ vòng đời của người Chăm Islam ở An Giang được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Theo UBND xã, Châu Phong còn 6 nghệ nhân giữ nghề. Bạn có thể xem dệt, mua khăn rằn, xem đánh trống Rappana và ăn tung lò mò (lạp xưởng bò), cà ri bò, bánh bò nướng. Làng có Tổ hợp tác du lịch cộng đồng 12 thành viên, thành lập năm 2024.
Đây là một làng đang sống, không phải khu trưng bày: hỏi trước khi chụp ảnh người, nhất là phụ nữ, và giữ yên lặng quanh khu mộ và nhà nguyện. Người Chăm ở đây không nuôi chó, nên đừng mang chó theo.
Làng hợp với người muốn tìm hiểu cộng đồng Chăm Islam ở Nam Bộ và nghề dệt. Người chỉ muốn chụp ảnh kiến trúc nên ghé nhanh và tôn trọng giờ lễ. Trong cùng xã có thánh đường Mubarak, là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia; bên kia sông là làng Chăm Đa Phước, cũng có nghề dệt thổ cẩm.
Keywords
Nature & seasons
Hồ nước xanh hình thành từ hố khai thác đá cũ bên đồi Tà Pạ, gần chùa Khmer Phnom Ta Pa, nhìn ra cánh đồng lúa và hàng thốt nốt Tri Tôn.
Hồ Tà Pạ nằm trên đồi Tà Pạ ở xã Tri Tôn, cách trung tâm Tri Tôn chưa tới 1 km; trước tháng 7/2025 nơi này thuộc xã Núi Tô, huyện Tri Tôn. "Tà Pạ" trong tiếng Khmer nghĩa là "núi cao", dù ngọn núi này cao chưa tới 200 m. Đây là vùng người Khmer sinh sống lâu đời, giữa những cánh đồng lúa và hàng thốt nốt của vùng Bảy Núi.
Hồ không có sẵn từ tự nhiên: đó là hố đá cũ sau khai thác, đọng nước, vách đá bao quanh. Nước sâu hơn 10 m; một biển cảnh báo tại hồ từng ghi độ sâu tới 17 m. Màu nước đổi theo mùa và theo trời: mùa khô trong, có lúc thấy đáy; mùa mưa đục hơn. Báo chí và mạng xã hội hay gọi hồ là "Tuyệt tình cốc" của miền Tây, đó chỉ là cách ví von.
Trên đỉnh đồi là chùa Khmer Phnom Ta Pa, xây từ năm 1999 và hoàn thiện năm 2019 với 120 cột bê tông lớn. Lên chánh điện phải qua 240 bậc thang có tượng rắn Naga dọc lan can. Từ trên cao nhìn ra được cánh đồng Tà Pạ, vùng trũng kẹp giữa núi Tà Pạ và núi Cô Tô, nơi lúa, cây trâm và thốt nốt xen nhau. Lúa thường chín khoảng tháng 8 và cuối tháng 11 đến đầu tháng 12; người Khmer ở đây gặt theo lối "vần công", đổi công gặt giúp nhau.
Quanh hồ đã có vài tiểu cảnh chụp ảnh như khung trái tim, ghế sắt, có thợ chụp ảnh, quầy nước và dịch vụ cho thuê trang phục Khmer trong khuôn viên chùa. Chưa có đơn vị quản lý hay trang chính thức công bố giờ mở cửa, vé; nên hỏi tại chỗ.
Hồ sâu và vách đá dựng: người dân kể từng có người xuống bơi bị chuột rút, nên quanh hồ có bảng cấm tắm. Đừng xuống nước, đừng đứng sát mép đá khi chụp ảnh. Đường vào khu đồng giữa núi Tà Pạ và Cô Tô có nhiều đoạn dốc, hẹp.
Chùa Phnom Ta Pa là nơi sinh hoạt tôn giáo của người Khmer theo Phật giáo Nam tông, nơi bà con về làm lễ dịp Chol Chnam Thmay, Ok Om Bok, Sen Dolta, và nơi sư thầy dạy chữ Khmer cho trẻ em. Hãy ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng ở chánh điện; nếu gặp dịp lễ, đứng ngoài quan sát và hỏi trước khi chụp người đang hành lễ.
Tà Pạ hợp với người thích chụp ảnh lúc sáng sớm hoặc chiều muộn, hoặc muốn một điểm dừng một hai giờ trên đường qua Tri Tôn. Nếu muốn một hồ nước giữa đồng vắng người hơn, hồ Soài Chek dưới thung lũng giữa đồi Tà Pạ và núi Cô Tô là lựa chọn gần đó.
Keywords
Museums
Bảo tàng tư nhân mở năm 2009 ở Dương Đông, tòa nhà năm tầng kể tự nhiên, lịch sử và đời sống đảo Phú Quốc qua khoảng 2.000 hiện vật.
Bảo tàng Cội Nguồn là bảo tàng tư nhân trên một triền đồi ở số 149 Trần Hưng Đạo, khu phố 7, khu Dương Đông cũ, nay thuộc đặc khu Phú Quốc. Bảo tàng mở cửa từ cuối tháng 4/2009 và gom vào một tòa nhà năm tầng những gì liên quan đến tự nhiên, lịch sử và đời sống của đảo. Báo Dân trí (2015) gọi đây là bảo tàng tư nhân đầu tiên ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Người lập bảo tàng là một người con Phú Quốc, gia đình ba đời sống trên đảo. Theo Sài Gòn Giải Phóng (2008), ông bắt đầu sưu tầm từ đầu những năm 1990, năm 1997 mang về đảo 300 bộ tài liệu về Phú Quốc bằng chữ Hán, Việt, Anh, Pháp, năm 2002 thôi làm phó giám đốc một khách sạn để theo đuổi việc này và mở một phòng trưng bày nhỏ tại nhà trước khi lập bảo tàng. Bảo tàng hoạt động theo Luật Di sản văn hóa, chịu chỉ đạo chuyên môn của Cục Di sản văn hóa và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang cũ.
Theo các bài báo 2010–2015, bảo tàng có khoảng 2.000 hiện vật, trong đó hơn 1.100 cổ vật đã được Hội đồng thẩm định cổ vật của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang xác định. Khu trưng bày hơn 1.200 m² chia theo chủ đề: tự nhiên của đảo với gỗ hóa thạch tìm ở Bãi Thơm, san hô, xương cá voi; lịch sử khai phá và bảo vệ đảo; gốm cổ; mô hình tàu đắm cùng gốm Thái Lan thế kỷ 15–17 vớt từ tàu cổ đắm ở bờ đông đảo; đời sống và nghề của cư dân với xuồng tre, cối xay đá, tiền cổ. Có hai hiện vật gắn chuyện riêng: một mảnh của chiếc thuyền Nguyễn Trung Trực dùng đánh Pháp, bị đánh chìm ở Cửa Cạn, và bộ xương bò biển (dugong) mua lại từ một gia đình ở Bãi Thơm khi có người định mua nấu cao. Bảng chú thích in song ngữ Việt, Anh; tầng trên cùng nhìn ra biển.
Cần biết: thông tin công khai về bảo tàng phần lớn đến từ báo chí 2008–2015 và cổng du lịch cũ của Phú Quốc. Giờ mở cửa, giá vé hiện hành và số hiện vật hiện nay chưa có công bố chính thức cập nhật, bạn nên hỏi trước khi đến.
Bảo tàng hợp với người muốn có cái nhìn tổng quát về đảo trước khi đi các di tích, và là một lựa chọn trong nhà khi trời mưa. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu một chương lịch sử cụ thể, Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc, di tích quốc gia đặc biệt, là nơi nên dành thời gian hơn.
Keywords
Local markets
Chợ họp trên sông Hậu lúc sáng sớm, ghe chở dừa, khóm, khoai treo hàng trên cây bẹo; khách thuê đò ăn sáng giữa sông.
Chợ nổi Long Xuyên họp trên sông Hậu, bắt đầu từ khu vực bến phà Ô Môi và trải dọc bờ sông khoảng 2 km, sát trung tâm Long Xuyên. Nơi này nay thuộc phường Long Xuyên, tỉnh An Giang; trước tháng 7/2025 là địa phận hai phường Mỹ Phước và Mỹ Long.
Đây là chợ bán sỉ nông sản. Ghe lớn chở dừa, khoai, khóm, rau củ neo thành hàng; mỗi ghe dựng một cây sào trước mũi gọi là cây bẹo, treo mẫu hàng mình bán để người mua nhìn từ xa là biết. Dừa là mặt hàng mua bán nhiều nhất. Có ghe dừa chở khoảng 9.000 trái, chủ ghe gom hàng ở nhà vườn vài ngày rồi có khi chạy ghe cả đêm lên chợ. Người mua phần lớn là tiểu thương, họ mua lại rồi đem ra chợ trên bờ hoặc chở xuồng vào các kênh rạch bán tiếp.
Chợ đông nhất lúc tờ mờ sáng, các báo ghi từ khoảng 4h đến 5h30, và vãn khoảng 8h. Muốn xem, bạn thuê đò chạy vòng giữa các ghe. Lúc chợ vừa nhóm, xuồng nhỏ bán cà phê, bún riêu, bún cá, hủ tiếu len giữa các ghe; bạn ăn sáng ngay trên đò. Quanh chợ có nhiều gia đình sống quanh năm trên ghe và bè cá, một số là người Việt từ Campuchia trở về.
Nói thẳng: chợ đã thưa nhiều. Tiểu thương ghe dừa kể với VnExpress năm 2024 rằng số ghe dừa giảm hơn 70%; đường bộ tốt lên nên nhiều người bỏ ghe lên bờ buôn bán. Người chạy đò kể với Thanh Niên rằng khách của đò giờ phần lớn là khách du lịch, không còn là tiểu thương. Báo An Giang tháng 10/2025 tả chợ nhộn nhịp vào mùa nước nổi, với gần 100 ghe lớn nhỏ đến và đi theo thống kê chưa đầy đủ.
Chợ không có đơn vị quản lý nên không có giờ, giá công bố chính thức. Hỏi giá đò trước khi lên, và nếu đi với trẻ em thì hỏi chủ đò có áo phao không. Đây là chỗ làm ăn của người ta: đò du lịch nên nhường đường cho ghe hàng, và xin phép trước khi chụp cận cảnh người hay nhà trên ghe.
Chợ hợp với người dậy sớm được và muốn xem một chợ sỉ nông sản đang buôn bán thật. Nếu bạn muốn một chợ nổi đông ghe và nhiều dịch vụ hơn, chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ nổi tiếng hơn. Xong buổi chợ, bạn có thể ghé Bảo tàng An Giang trong phường Long Xuyên, nơi trưng bày 6 bảo vật quốc gia thuộc văn hóa Óc Eo.
Keywords
Heritage spaces
Di tích lịch sử văn hóa tưởng niệm hai thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết, do chính nữ sĩ Mộng Tuyết xây dựng năm 1994 bên dòng Đông Hồ, dưới chân núi Tô Châu.
Nhà Lưu Niệm Thi Nhân Đông Hồ (tên đầy đủ theo di tích: Di tích lịch sử văn hóa Nhà lưu niệm thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết) tọa lạc bên dòng Đông Hồ, dưới chân núi Tô Châu, trên khu đất gia đình nhà thơ Đông Hồ, nguyên là khuôn viên Trí Đức học xá xưa. Công trình rộng khoảng 350m² gồm nhà và sân vườn, do chính nữ sĩ Mộng Tuyết (vợ nhà thơ Đông Hồ) cho xây dựng năm 1994, khánh thành ngày 12/6/1995. Mặt tiền theo lối kiến trúc phương Tây, bên trong trưng bày hình ảnh, tác phẩm và các vật dụng sinh hoạt hằng ngày của hai thi sĩ.
Nhà thơ Đông Hồ tên thật là Lâm Kỳ Phác (còn gọi Lâm Tấn Phác), sinh ngày 10/3/1906 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên. Ông là nhà thơ, nhà văn, nhà giáo tiêu biểu của văn học Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX, viết cho báo Nam Phong giai đoạn 1923–1933 để cổ vũ chữ Quốc ngữ, và năm 1926 sáng lập Trí Đức học xá trường tư thục dạy hoàn toàn bằng tiếng Việt đầu tiên ở Tây Nam Bộ. Ông mất đột ngột ngày 25/3/1969, an táng tại núi Tô Châu, Hà Tiên.
Nữ sĩ Mộng Tuyết tên thật Thái Thị Sửu, sinh ngày 9/1/1914 tại làng Mỹ Đức, Hà Tiên, là thành viên nhóm "Hà Tiên tứ tuyệt" cùng chồng và được nhắc đến trong "Thi nhân Việt Nam" (1942) của Hoài Thanh - Hoài Chân. Bà mất ngày 1/7/2007, thọ 93 tuổi. Di tích được UBND tỉnh Kiên Giang (cũ) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 148/QĐ-UBND ngày 1/2/2023. Công trình vừa được trùng tu trong dự án "Phục dựng Trí Đức học xá - Tu bổ tôn tạo Nhà lưu niệm Đông Hồ", nghiệm thu đầu năm 2026.
Keywords
Craft villages
Nơi vị biển được gìn giữ qua hơn hai thế kỷ
Tại Dương Đông và cửa sông Dương Đông, Phú Quốc, nghề làm nước mắm Phú Quốc đã tồn tại hơn 200 năm, trở thành một phần quan trọng của văn hóa biển đảo. Năm 2013, sản phẩm cũng trở thành nước mắm Việt Nam đầu tiên được EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Nghề được ghi vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2021.
Nước mắm được làm theo quy trình: Cá cơm được trộn muối ngay trên tàu theo tỷ lệ 3 cá: 1 muối, sau đó ủ trong những thùng gỗ lớn suốt 12–15 tháng để tạo ra nước mắm có độ đạm khoảng 20–43°.
Toàn huyện đảo hiện có khoảng 86 cơ sở sản xuất, 7.000 thùng gỗ, mỗi năm cho ra gần 30 triệu lít nước mắm. Bạn có thể tận mắt xem những dãy thùng gỗ khổng lồ, tìm hiểu quy trình, nếm thử và mua sản phẩm ngay tại nơi sản xuất.
Một số cơ sở tiêu biểu như:
- Nhà thùng Khải Hoàn (11 Cầu Hùng Vương, Dương Đông, Phú Quốc)
- Nhà thùng Thịnh Phát (Đường 30, Khu phố 1, Dương Đông, Phú Quốc)
- Nhà Thùng Nam Ngư (Tổ 1, Khu phố Suối Đá, Phú Quốc)
- Nhà thùng Hưng Thịnh (219 đường 30/4, Dương Đông, Phú Quốc )
- Nhà thùng Phụng Hưng (201 ĐT46, An Thới, Phú Quốc )
Hãy ghé tham quan để bạn hiểu hơn về nước mắm trên cả khía cạnh văn hóa và lịch sử bên cạnh sự thơm ngon trứ danh của tinh hoa nước mắn Phú Quốc.
Keywords
Heritage spaces
Cổ tự dưới chân núi Bình San, tương truyền gắn với giai thoại thứ phi Nguyễn Thị Xuân thời Tổng trấn Mạc Thiên Tích, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ 2004.
Chùa Phù Dung (tên trên biển hiệu: "Phù Dung cổ tự") nằm dưới chân núi Bình San, mang đậm dấu ấn Phật giáo Bắc tông. Trước sân chùa có tượng Phật Quan Thế Âm bằng xi măng trắng cao khoảng 4m; chánh điện có 5 cửa, thờ Tam Thế Phật với tượng Thích Ca Mâu Ni ở trung tâm cùng hai đại đệ tử A Nan, Ca Diếp; có 4 bức phù điêu lớn khắc bốn giai đoạn cuộc đời Đức Phật. Phía sau có lầu Ngọc Hoàng Bửu Điện thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu.
Tương truyền, Tổng trấn Mạc Thiên Tích đã cho dựng một am nhỏ ban đầu gọi là "Phù Cừ am tự" làm nơi tu hành cho người ái thiếp là bà Nguyễn Thị Xuân (hiệu Từ Thành Thục Nhơn, dân gian gọi "bà Dì Tự" hay "Phù Cừ"). Giai thoại dân gian và văn học (qua tiểu thuyết "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp" của nữ sĩ Mộng Tuyết, xuất bản 1960) kể rằng bà từng bị chánh thất ghen ghét giam vào một chậu úp, sau được Mạc Thiên Tích giải cứu và xin xuất gia. Bên trái chùa hiện có mộ cổ của bà Nguyễn Thị Xuân, và nhà hậu tổ có thờ tượng bà cùng các vị trụ trì tiền nhiệm.
Chùa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 18/2004-QĐ/UB ngày 7/4/2004 của UBND tỉnh Kiên Giang.
Keywords
Community villages
Thủ phủ văn hóa Islam giữa lòng Tây Nam Bộ
“As-salamu alaykum !”
Bên kia sông Hậu, đối diện Châu Đốc, làng Chăm Châu Giang ở Châu Phong, An Giang là nơi du khách có thể bước vào một không gian văn hóa rất khác của miền Tây: Cộng đồng người Chăm theo đạo Islam đã sinh sống lâu đời bên dòng sông. Từ bến Châu Đốc, chỉ khoảng 10 phút đi đò là đến làng.
Điểm nhấn văn hóa nơi đây là những thánh đường Mubarak và Masjid Al Nia’Mah, cùng những căn nhà vẫn giữ nghề dệt thổ cẩm Chăm ngay trong đời sống thường nhật. Nghề dệt này đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Đi qua những con hẻm nhỏ, bạn có thể gặp những khung dệt gỗ, những tấm vải Chăm nhiều màu sắc và thưởng thức các món ăn mang dấu ấn Halal như cơm nị, cà ri bò, bánh hố, mè láo hay tung lò mò (món lạp xưởng bò).
Chuyến đi đến làng thích hợp để bạn hành hương, khám phá ẩm thực, kiến trúc, nghề thủ công hay điền dã nghiên cứu Văn hóa Chăm Islam tại nơi đây.
Khi ghé thăm, hãy ăn mặc kín đáo và xin phép trước khi chụp ảnh người dân hoặc bước vào không gian thánh đường bạn nhé.
“Ndua dhar phuel !"
Keywords
Heritage spaces
Núi đá vôi cao khoảng 100m với 14 hang động nối liền nhau bằng hệ thống cầu thang dài 3.200m, di tích thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 2007.
Núi Đá Dựng nằm cách trung tâm Hà Tiên khoảng 7km về phía Bắc và 4km về phía Nam biên giới Việt Nam – Campuchia, thuộc phường Hà Tiên, tỉnh An Giang. Núi cao khoảng 100m, được kiến tạo từ nhiều tầng lớp đá vôi, hình thành hệ thống khoảng 14 hang động lớn nhỏ nối liền nhau. Du khách có thể đi qua toàn bộ các hang để lên đỉnh núi theo hệ thống cầu thang dài 3.200m, đường đi có nhiều đoạn dốc và khe đá hẹp.
Trong số các hang được đặt tên có hang Lê Công Gia, hang Bồng Lai, hang Khổ Qua, hang Trống Ngực, hang Thần Kim Quy, hang Xã Lộc Kỳ, mỗi hang mang một hình dạng thạch nhũ, măng đá khác nhau.
Núi Đá Dựng gắn với nhiều sự kiện lịch sử của vùng đất Hà Tiên: từ thế kỷ 18 là tiền đồn của nhân dân Hà Tiên trong kháng chiến chống quân Xiêm La; trong hai cuộc kháng chiến trước năm 1975 là cơ sở hoạt động cách mạng, điểm nối của tuyến đường 1C; giai đoạn 1977–1978 là tiền đồn trong chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam. Di tích thắng cảnh Núi Đá Dựng được xếp hạng Di tích quốc gia theo Quyết định số 44/2007/QĐ-BVHTT ngày 3/8/2007.
Keywords
Heritage spaces
Cổ tự mang tên "Sắc Tứ Tam Bảo Tự", gắn với Thái Thái Phu Nhân, thân mẫu Tổng trấn Mạc Cửu, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh từ 2004, từng được vịnh trong Hà Tiên Thập Vịnh.
Chùa Tam Bảo (tên đầy đủ: "Sắc Tứ Tam Bảo Tự") là một trong những ngôi cổ tự lâu đời ở Hà Tiên, được xây dựng vào đầu thế kỷ 18, gắn liền với tên tuổi Thái Thái Phu Nhân, thân mẫu của Tổng trấn Mạc Cửu. Từ một am nhỏ dựng lên để bà tu hành, nơi đây dần trở thành một công trình Phật giáo quan trọng của vùng đất Hà Tiên. Chùa hiện là nơi yên nghỉ của Thái Thái Phu Nhân và các vị cao tăng trụ trì thuộc Thiền phái Lâm Tế.
Khuôn viên chùa rộng hơn 2,4 hecta. Tam quan xây theo phong cách kiến trúc người Hoa, nổi bật với vòng bánh xe luân hồi trên đỉnh cổng. Trong khuôn viên có tượng Quan Âm Nam Hải trắng cao gần 3m, vườn Lâm Tỳ Ni mô phỏng nơi Phật Thích Ca đản sinh, hồ nước với tượng Quan Âm Tự Tại, và 18 vị La Hán dọc lối đi.
Vẻ đẹp của chùa từng được Tổng trấn Mạc Thiên Tích đưa vào tập thơ "Hà Tiên Thập Vịnh" qua bài "Tiêu Tự Thần Chung" (Chuông chùa Tiêu Tự), một trong mười cảnh đẹp Hà Tiên xưa. Chùa được công nhận Di tích lịch sử văn hóa cấp Tỉnh theo Quyết định số 57/2004-QĐ/UB ngày 3/9/2004 của UBND tỉnh Kiên Giang.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi đình cổ hơn 250 năm tuổi thờ ba vị tiền nhân dòng họ Mạc, Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, người có công khai phá và bảo vệ vùng đất Hà Tiên.
Đình Thần Thành Hoàng (tên đầy đủ: Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh) là ngôi đình cổ tại Hà Tiên, nơi thờ ba vị tiền nhân dòng họ Mạc: Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh, những người có công khai phá và bảo vệ vùng đất Hà Tiên, được triều Nguyễn sắc phong thượng đẳng thần.
Theo tài liệu "Gia Định Thành Thông Chí" của Trịnh Hoài Đức (hoàn thành năm 1820), ngôi miếu này đã tồn tại trước đó với tên "Miếu Hội Đồng"; đến đời vua Tự Đức năm thứ 5 (1852) được sắc phong tên "Đình Thần Thành Hoàng Bổn Cảnh xã Mỹ Đức". Đình được trùng tu lớn năm 1888 do chí sĩ Nguyễn Thần Hiến chủ trương, và trùng tu tiếp trong giai đoạn 1968–1972; kiến trúc hiện tại được xây lại năm 1999 theo lối Á Đông với ba gian nối liền hình chữ "khẩu", mái ngói, cột gỗ chạm khắc.
Đình được UBND tỉnh Kiên Giang (cũ) công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Tỉnh. Lễ hội Kỳ Yên được tổ chức thường niên vào ngày 15–17 tháng 2 âm lịch, là dịp người dân Hà Tiên cầu quốc thái dân an, có các nghi thức rước, múa lân sư rồng.
Keywords
Heritage spaces
Khối đá vôi cao khoảng 101m, di tích thắng cảnh cấp quốc gia từ năm 1989, tương truyền là nơi Thạch Sanh giết đại bàng tinh cứu công chúa Quỳnh Nga.
Thạch Động là khối đá vôi nằm ở phía Tây Bắc thành phố Hà Tiên (nay thuộc phường Hà Tiên, tỉnh An Giang), theo các nhà địa chất được hình thành từ kỷ Permi, khoảng 250 triệu năm trước. Núi cao khoảng 101m, kết cấu rỗng, đường kính chân núi khoảng 45m. Đây là một trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên xưa, từng đi vào thơ ca với tên gọi "Thạch Động thôn vân" (cảnh động đá nuốt mây).
Di tích thắng cảnh Thạch Động được công nhận Di tích cấp quốc gia ngày 21/1/1989. Bên trong hang có nhiều thạch nhũ, măng đá với hình thù đặc biệt; tương truyền đây là nơi phát tích truyện cổ tích Thạch Sanh giết đại bàng tinh cứu công chúa Quỳnh Nga. Trong lòng hang có ngôi chùa Tiên Sơn thờ Bồ Tát Quan Thế Âm, Phật Thích Ca và Đức Di Lặc. Dưới chân núi có bia tưởng niệm 130 người dân bị quân diệt chủng Pôn Pốt sát hại ngày 14/3/1978 tại phường Mỹ Đức (nay thuộc phường Hà Tiên).
Giá vé vào cổng 20.000 đồng/người/lượt, có chính sách miễn giảm cho một số đối tượng theo quy định.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi chùa Khmer sát biên giới Việt Nam – Campuchia, phế tích được giữ nguyên hiện trạng làm chứng tích chiến tranh biên giới Tây Nam 1977–1978, di tích lịch sử cấp tỉnh từ 2003.
Chùa Xà Xía là một ngôi chùa Khmer nằm sát biên giới Việt Nam – Campuchia, mang kiến trúc đặc trưng văn hóa Khmer Nam Bộ. Trong chiến tranh biên giới Tây Nam, khu vực chùa là một vị trí chiến sự quan trọng: ngày 15/3/1978, quân Pol Pot tràn sang khu vực chùa đốt phá, tàn sát; ngày 5/5/1978, Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325, Quân đoàn 2) tiếp nhận chốt phòng ngự tại đây; các trận đánh tiếp diễn trong tháng 7/1978.
Ngôi chùa cũ đã bị đổ nát, loang lổ vết bom đạn nhưng được giữ nguyên hiện trạng cho đến ngày nay làm chứng tích chiến tranh; bên trong còn một tượng Phật cao khoảng 2m tương đối nguyên vẹn. Cựu chiến binh và người dân địa phương vẫn thường đến lễ Phật, khấn viếng nơi đây. (Lưu ý: gần đó có một ngôi chùa Xà Xía mới xây, là nơi sinh hoạt tôn giáo hiện tại của cộng đồng Khmer, khác với khu phế tích chứng tích chiến tranh này.)
Khu di tích chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía được công nhận Di tích Lịch sử cấp tỉnh năm 2003.
Keywords
Community villages
Ngôi làng đa sắc giữa lòng sông Hậu
Ngay nơi sông Châu Đốc gặp sông Hậu, hàng trăm ngôi nhà nổi nối tiếp nhau trên mặt nước, nơi người dân vừa sinh sống vừa nuôi cá trong những chiếc bè ngay dưới sàn nhà.
Nghề nuôi cá bè ở đây đã hình thành từ khoảng nửa thế kỷ, gắn với nhịp sống mà con nước quyết định mọi sinh hoạt. Từ cuối năm 2023, 161 nhà bè trải dài khoảng 1,17 km được khoác lên sáu gam màu đỏ, vàng, cam, lục, lam, tím, tạo nên “Làng bè sắc màu ngã ba sông Châu Đốc” và trở thành sản phẩm du lịch từ đầu năm 2024.
Đi thuyền len lỏi giữa những dãy bè, bạn có thể nhìn những lồng cá dưới nước, nghe người dân kể chuyện nghề và cảm nhận một miền Tây rất khác.
Ghé làng bè Châu Đốc, du khách có thể thưởng thức những món cá tươi nuôi ngay trên sông như cá basa, cá tra, cá lóc, cá điêu hồng. Ngoài ra còn có các đặc sản đậm chất An Giang như lẩu mắm, cá linh, bông điên điển, tung lò mò và các món chế biến từ thốt nốt. 1 chuyến đi đáng để trải nghiệm.
Keywords
Heritage spaces
Ngọn núi giữa lòng Hà Tiên với đền thờ và khu lăng mộ hơn 60 ngôi mộ cổ của dòng họ Mạc, dòng họ khai lập vùng đất Hà Tiên, danh thắng cấp quốc gia từ 1989.
Núi Bình San (tên chữ Hán trong Hà Tiên thập cảnh: "Bình San điệp thúy") nằm ngay trong nội đô Hà Tiên, là nơi đặt đền thờ và khu lăng mộ dòng họ Mạc, dòng họ có công khai phá và trấn giữ vùng đất Hà Tiên từ đầu thế kỷ 18.
Đền thờ họ Mạc được Trấn thủ Mạc Công Du (hậu duệ Mạc Cửu) xây dựng năm 1818, ban đầu gọi là "Trung Nghĩa Từ"; đến năm 1846 được dời về vị trí dưới chân núi Bình San như hiện nay. Sau khi Mạc Cửu mất, con trai ông là Mạc Thiên Tích đã cho xây lăng mộ tại chân núi trong 4 năm, từ 1735 đến 1739.
Khu di tích gồm hai phần: đền thờ phía dưới và khu lăng mộ trên núi với hơn 60 ngôi mộ cổ, chia thành các khu vực theo thứ bậc trong dòng họ. Nơi đây còn lưu giữ 11 sắc phong của triều Nguyễn ban cho Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, Mạc Tử Sanh và các thành viên khác trong dòng họ. Khu di tích lịch sử – văn hóa núi Bình San được công nhận danh thắng cấp Quốc gia năm 1989.
Keywords
Community villages
Viên Ngọc Xanh giữa lòng Nam Bộ
Cách Châu Đốc khoảng 30km, Rừng tràm Trà Sư rộng khoảng 845 ha, được trồng từ năm 1983 trên vùng đất phèn sau chiến tranh và nay trở thành hệ sinh thái ngập nước đặc trưng của Tây sông Hậu, nơi ghi nhận khoảng 70 loài chim và 140 loài thực vật.
Hành trình khám phá bắt đầu bằng tắc ráng (xuồng nhỏ) trên kênh chính rồi chuyển sang xuồng chèo tay, len lỏi giữa những lạch nước phủ kín bèo xanh.
Mùa đẹp nhất vào mùa nước nổi tháng 9–11, khi chim về tổ đông và rừng tràm chuyển mình thành một biển xanh. Du khách có thể đi cầu tre “Rồng Trúc Bạch”, lên tháp quan sát, thưởng thức món quê miền Tây như lẩu mắm, cá nướng, bông điên điển, hoặc mua đường thốt nốt, mật ong, tinh dầu tràm, cá khô về làm quà.
Vé tham khảo: 100.000đ/người; thuyền máy 50.000đ, xuồng chèo 60.000đ/người (mức 2025, nên kiểm tra lại trước chuyến đi)
Keywords
Festivals
Lễ hội hành hương lớn nhất Nam Bộ
Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam là hành trình hội tụ của đức tin, truyền thống và bản sắc văn hóa Nam Bộ. Mỗi mùa lễ hội, đông đảo người dân cùng du khách thập phương tìm về Miếu Bà dưới chân Núi Sam để chiêm bái, cầu mong quốc thái dân an, gia đạo bình an.
Nơi đây lưu giữ trọn vẹn hệ thống nghi thức cổ truyền như thỉnh sắc thần, túc yết, xây chầu và chánh tế, phản ánh sự giao thoa, gắn kết lâu đời giữa các cộng đồng Việt, Chăm, Khmer và Hoa tại vùng đất An Giang.
Tháng 12 năm 2024, Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam chính thức được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự ghi nhận này khẳng định giá trị tâm linh, lịch sử đặc sắc của lễ hội, đồng thời góp phần lan tỏa hình ảnh một vùng đất Nam Bộ giàu bản sắc, hiếu khách và đậm tình người đến với bạn bè quốc tế.
Keywords
Nature & seasons
Bãi biển hình cánh cung rộng khoảng 17ha, một trong mười cảnh đẹp Hà Tiên xưa, nổi tiếng với những buổi hoàng hôn vì quay mặt về hướng Tây Nam.
Mũi Nai là bãi biển hình cánh cung rộng khoảng 17ha, chia thành hai khu: bãi trước giáp Núi Đèn, bãi sau giáp núi Tà Pang. Tên gọi "Mũi Nai" gắn với truyền thuyết một chú nai thần mê cảnh đẹp nơi đây mà quên đường về trời, hóa thành tảng đá bên bờ biển. Đây là một trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên xưa (Hà Tiên thập cảnh).
Khác với phần lớn bãi biển Việt Nam quay hướng Đông đón bình minh, Mũi Nai quay hướng Tây Nam nên nổi tiếng với cảnh hoàng hôn. Trên đỉnh núi Tà Pang có tháp vọng cảnh, từ đó có thể nhìn toàn cảnh Mũi Nai, thành phố Hà Tiên, các đảo lân cận và khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia.
Di tích thắng cảnh Mũi Nai được công nhận cấp Quốc gia ngày 21/1/1989. Phần khai thác dịch vụ du lịch tại đây (diện tích khoảng 11,7ha) do một doanh nghiệp du lịch địa phương quản lý và vận hành.
Keywords
Craft villages
Xứ lụa bên sông Tiền, quê của lãnh Mỹ A dệt từ tơ tằm và nhuộm đen bằng trái mặc nưa; nay chỉ còn vài cơ sở gia đình giữ nghề.
Làng lụa Tân Châu nằm dọc hương lộ 2, bên bờ sông Tiền ở phường Long Phú, khu vực trước ngày 01/7/2025 là các phường Long Châu, Long Hưng của thị xã Tân Châu. Người miền Tây gọi nơi đây là "xứ lụa", gắn với lãnh Mỹ A: thứ lụa tơ tằm màu đen huyền, "Mỹ" là đẹp, "A" là hàng loại nhất.
Theo tư liệu báo chí dẫn lại, từ thế kỷ XIX đất Tân Châu đã gắn với cây dâu, con tằm. Những năm 1920, làng Long Hưng hầu như nhà nào cũng trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa; khoảng năm 1940, Tân Châu được xem là trung tâm tơ lụa lớn của Nam Kỳ. Thời thịnh, xứ lụa có khoảng 60 nhà dệt lớn nhỏ. Câu ca "Trai nào thanh bằng trai sông Của, gái nào thảo bằng gái Tân Châu" vẫn được người làng nhắc.
Điều làm lãnh Mỹ A khác các loại lụa khác là trái mặc nưa, loại trái xanh tròn cỡ trái táo, nhiều mủ, cây cho trái vào mùa mưa từ khoảng tháng 6 âm lịch. Trái được giã hoặc xay lấy nước; tấm lụa trắng dệt từ tơ tằm được nhúng hàng trăm lần, phơi nắng, đem ra sông xả, đập, lặp lại nhiều "da", mất khoảng 45 ngày, mùa mưa có khi 60 ngày mới lên màu đen bóng. Thợ nhuộm xưa có đôi tay đen tới khuỷu vì mủ mặc nưa, nên làng có cách gọi "xóm bàn tay đen".
Nghề suy từ khoảng thập niên 1960–1970 khi vải ngoại giá rẻ tràn vào; vườn mặc nưa bị chặt, ruộng dâu biến mất. Năm 2006, UBND tỉnh An Giang công nhận làng nghề tơ lụa Tân Châu (một nguồn ghi mốc 24/5/2007). Đến năm 2022, làng còn chưa tới 20 cơ sở hoạt động thường xuyên với khoảng 190 lao động, và theo báo chí năm 2024 chỉ còn hai cơ sở gia đình giữ nghề dệt nhuộm lãnh Mỹ A. Tơ nay mua từ TP.HCM, Bảo Lộc; trái mặc nưa phải mua nơi khác.
Đến xứ lụa hôm nay, bạn chủ yếu ghé một cơ sở gia đình ven hương lộ 2 để xem phòng trưng bày, sờ tấm lãnh đen trơn hay lãnh bông, xem máy dệt chạy và nếu gặp đợt nhuộm thì thấy lụa phơi trên bãi cỏ. Khách nước ngoài thường đến theo tàu cập bến sông Tiền. Lãnh Mỹ A nay chủ yếu làm theo đơn đặt hàng; phần lớn hàng bày bán là lụa màu dệt máy, rẻ hơn.
Nói thẳng: làng nghề không còn nhộn nhịp, không có cổng, giờ mở cửa hay giá vé công bố; xem nhuộm mặc nưa hay không là tùy lúc. Lãnh Mỹ A đắt, báo năm 2024 ghi từ một triệu đồng trở lên mỗi mét, tùy thời điểm; hỏi kỹ loại lãnh nhuộm mặc nưa hay lụa màu trước khi mua.
Cơ sở dệt là nhà ở kiêm xưởng: hỏi trước khi vào xưởng, chụp người thợ hay đi vào bãi phơi, không chạm vào lụa đang phơi.
Làng lụa hợp với người thích vải thủ công và câu chuyện nghề ven sông; không hợp với người muốn tự tay dệt hay cần lịch tham quan cố định. Muốn xem dệt tay còn đông người làm hơn, hãy sang làng dệt thổ cẩm Văn Giáo (xã An Cư), nơi thợ Khmer dùng tơ tằm mua từ Tân Châu, hoặc ghé làng Chăm Châu Phong gần đó với nghề dệt thổ cẩm Chăm là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Keywords
Craft villages
Làng phụ nữ Khmer dệt lụa thổ cẩm bằng khung cửi ở ấp Srây Skoth, xã An Cư, được khôi phục từ năm 1998, nay còn 63 thành viên hợp tác xã.
Làng dệt thổ cẩm Văn Giáo là nơi phụ nữ Khmer ở ấp Srây Skoth và ấp Mằng Rò, xã An Cư (trước là xã Văn Giáo, thị xã Tịnh Biên), còn giữ khung cửi dệt lụa. Rừng tràm Trà Sư cũng thuộc xã này. Theo các nghệ nhân, xưa nhà nào trong phum sóc cũng có khung cửi, thiếu nữ Khmer biết dệt trước khi lấy chồng để tự may trang phục cưới.
Nghề từng suy giảm vì vải dệt máy rẻ. Năm 1998, Tổ chức CARE (Australia) cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh An Giang triển khai dự án khôi phục làng dệt; hợp tác xã dệt thổ cẩm ra đời sau đó, các nguồn ghi năm 2000 hoặc 2002. Năm 2006, sản phẩm được bảo hộ nhãn hiệu tập thể "Lụa thổ cẩm Văn Giáo", hàng bán ra mang thương hiệu "Silk Khmer". Đầu năm 2023, xà rông của làng đạt OCOP 3 sao. Về công nhận làng nghề, báo chí ghi hai mốc khác nhau là năm 2007 và năm 2022.
Điều làm nên thổ cẩm Văn Giáo là khâu "bắt bông". Trước khi nhuộm, người thợ phải hình dung sẵn hoa văn, mắc lọn tơ thành mành treo trên cột nhà rồi buộc kín từng đoạn để nhuộm lần lượt từng màu; nhuộm xong tơ cho một tấm có khi mất cả tháng. Theo một nghệ nhân, cả làng chỉ 4 đến 5 người định hình được hoa văn. Hoa văn lấy hình ngôi chùa, hoa lá, hình tượng Đức Phật. Một thợ giỏi mất 5 đến 7 ngày cho một sản phẩm. Hàng chính là xà rông, khăn choàng cổ, phông màn cửa.
Đến làng, bạn có thể xem các công đoạn quay tơ, nhuộm, bắt bông và dệt trên khung gỗ tại nhà thợ và hợp tác xã. Tạp chí Làng nghề Việt Nam (2/2026) ghi du khách được thử nhuộm, buộc sợi chỉ màu, thử dệt theo mẫu và mặc trang phục dân tộc; một số đơn vị lữ hành đã ghép làng vào tuyến Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, rừng tràm Trà Sư, Núi Cấm. Cuối năm, thợ dệt tất bật làm hàng Tết.
Cần biết trước: làng đang nhỏ dần. Khi lập hợp tác xã có 71 hộ, 126 xã viên; năm 2026 còn 36 hộ, 63 thành viên. Báo An Giang (9/2023) ghi nhà trưng bày và 10 khung dệt được hỗ trợ từ năm 2014 đã xuống cấp, giá thành cao nên khó bán cho khách trong nước, các hộ vẫn làm riêng lẻ. Chưa có giờ đón khách, giá hay số liên hệ công bố chính thức, nên nhờ lữ hành hoặc UBND xã An Cư liên hệ trước.
Thổ cẩm gắn với đời sống tín ngưỡng của người Khmer: phụ nữ dùng để may áo cưới, mặc đi chùa, trang trí nơi thờ phượng. Tấm vải có hình Đức Phật hay ngôi chùa thì cầm nhẹ tay, không trải ngồi, không đặt xuống đất. Xin phép trước khi vào nhà, trước khi chụp người đang dệt. Nên mua trực tiếp từ thợ hoặc hợp tác xã.
Làng hợp với người thích nghề thủ công, muốn hiểu văn hóa Khmer Bảy Núi và chịu dành thời gian xem một tấm vải thành hình; chưa hợp với ai cần vé, giờ mở cửa cố định. Nếu muốn xem một nghề dệt đã là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, nghề dệt thổ cẩm của người Chăm ở xã Châu Phong (ghi danh năm 2023) là lựa chọn khác trong tỉnh.
Keywords
Festivals
Hội đua bò trên ruộng nước của người Khmer vùng Bảy Núi dịp lễ Sene Dolta, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2016.
Hội đua bò Bảy Núi là hội truyền thống của người Khmer vùng Bảy Núi, An Giang, tổ chức mỗi năm một ngày vào dịp lễ Sene Dolta, lễ cúng ông bà, thường từ ngày 29 tháng 8 đến mùng 1 tháng 9 âm lịch. Ngày 19/01/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa "Hội đua bò Bảy Núi" vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 246/QĐ-BVHTTDL.
Gốc của hội nằm ở ruộng chùa. Mùa Sene Dolta, nông dân các phum sóc đưa bò đến cày ruộng cho chùa như làm công quả; cày xong thì đua xem đôi nào nhanh, khỏe, đôi thắng được sư sãi thưởng đôi lục lạc đeo cổ bò. Năm 1989 xã Ô Lâm chính thức đứng ra tổ chức; từ năm 1992 hội thành thường niên, luân phiên giữa Tri Tôn và Tịnh Biên; năm 2004 tỉnh nâng thành lễ hội cấp tỉnh; từ năm 2009 mang tên "Hội đua bò Bảy Núi tranh Cúp Truyền hình An Giang".
Sân đua là thửa ruộng chữ nhật, đường đua nạo sâu khoảng 10 cm, ngập nước 5 đến 10 cm. Mỗi lượt hai đôi bò kéo một giàn bừa, nài bò đứng trên giàn, cầm cây xà-lul, một khúc gỗ tròn đầu có đinh nhọn, để thúc bò. Vòng hô là vòng chạy lấy trớn; sang vòng thả, đôi phía sau chỉ cần giẫm lên bừa của đôi phía trước là thắng, còn nài té khỏi bừa hoặc bò chạy ra khỏi đường đua là thua. Đấu loại trực tiếp đến chung kết.
Địa điểm luân phiên. Năm 2024 hội lần thứ 29 diễn ra ở sân đua xã Vĩnh Trung cũ, sát chùa Thơ Mít; năm 2025 lần thứ 30 ở sân đua thuộc Khu Liên hợp Thể thao - Du lịch Tà Pạ - Soài Chek, xã Tri Tôn, với 64 đôi bò từ 10 xã, phường. Lần thứ 31 dự kiến ngày 10/10/2026 tại sân đua bò xã An Cư, gần chùa Thơ Mít, khoảng 60 đôi bò. Ngày dương lịch đổi theo năm, nên xem thông báo của tỉnh.
Ngày hội bắt đầu rất sớm: năm 2024, bò được đưa về sân từ 2 giờ sáng, 7 giờ khán đài quanh sân đã gần kín, vòng loại buổi sáng, tứ kết đến chung kết buổi chiều. Ban tổ chức ước khoảng 20.000 người xem năm 2024. Trời thường nắng gắt, có năm mưa lớn; nên đội nón, mang nước, đến sớm để có chỗ.
Có lúc đôi bò lao lên lề, khán giả phải né; đứng sau hàng rào, không đứng sát mép đường đua, không cho trẻ chạy xuống ruộng, đừng trèo cây để xem. Nài, chủ bò và bò đang căng thẳng trước lượt đấu; đừng vào khu tập kết bò khi chưa được phép.
Sene Dolta trước hết là lễ báo hiếu tổ tiên ở chùa và trong gia đình Khmer. Các đội đua thường làm lễ cúng cầu may ở bãi chờ; đó là việc riêng của họ, bạn chỉ đứng xem từ xa, hỏi trước khi chụp. Vào chùa thì ăn mặc kín đáo, không bước lên bục thờ.
Hội hợp với người thích hội làng đông vui và muốn thấy nông nghiệp gắn với tín ngưỡng Khmer. Nếu ngại đám đông hàng chục nghìn người, hãy tìm các hội đua nhỏ ở sân chùa, như hội đua bò chùa Rô ở xã An Cư, lần thứ 12 tổ chức ngày 13/9/2026, sau cuộc đua còn có cấy mạ trên ruộng chùa.
Keywords
Festivals
Lễ hội tưởng nhớ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực
Lễ hội tưởng nhớ Nguyễn Trung Trực (1838–1868), thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp. Ông chỉ huy trận đốt cháy tàu chiến L'Espérance tại vàm Nhật Tảo trên sông Vàm Cỏ Đông ngày 10/12/1861, đánh chiếm đồn Kiên Giang (Rạch Giá) đêm 16/6/1868 và làm chủ khoảng một tuần lễ, trước khi bị bắt và bị hành quyết tại chợ Rạch Giá ngày 27/10/1868, năm 30 tuổi. Câu nói "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây" được lưu truyền rộng rãi là lời ông trước khi hy sinh.
Mộ và đình Nguyễn Trung Trực được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1988; lễ hội được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 151/QĐ-BVHTTDL ngày 2/2/2023.
Lễ hội diễn ra hằng năm ngày 26–28 tháng 8 âm lịch tại Đình trên đường Nguyễn Công Trứ, nay thuộc phường Rạch Giá, tỉnh An Giang.
- Phần lễ gồm các nghi thức cổ truyền: thượng đại kỳ, tế đàn cả, hậu phối, dâng hương tại Bia ghi dấu nơi ông bị hành hình năm 1868.
- Phần hội có đờn ca tài tử Nam Bộ, giải võ cổ truyền và Vovinam, liên hoan sân khấu, triển lãm, hội chợ sản phẩm OCOP, lân sư rồng, thả hoa đăng. Kỳ 2024 đón 1.687.000 lượt khách với 841 đoàn về dâng hương, ghi nhận đây là quy mô của một trong những lễ hội đông nhất đồng bằng.
Kỳ 2025 (17–19/10/2025, tức 26–28/8 âm lịch) là kỳ đầu tiên do tỉnh An Giang mới tổ chức, với tên đầy đủ "Lễ hội truyền thống kỷ niệm 157 năm Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực hy sinh (1868–2025)". Toàn bộ ăn nghỉ trong khu lễ hội do dân phục vụ miễn phí. đến đây, việc nên làm là ăn một bữa cơm chay công quả và nhìn cách một đô thị tự tổ chức lòng biết ơn của mình.
Keywords