Nhà Giao tế Lộc Ninh
Ngôi nhà hai tầng bên quốc lộ 13, nơi diễn ra hội nghị quân sự bốn bên năm 1973
Heritage spaces · Lộc Ninh
South · Province
An old southern land on the Dong Nai River, from the Nam Cat Tien forest to the cashew and rubber hills of Binh Phuoc.
What's in Dong Nai
10.97°N · 106.88°E
where it sits in VietnamA sketch of where the places sit relative to each other, on a kilometre grid. 3 places have no coordinates yet, so they are not on the sketch.
Ngôi nhà hai tầng bên quốc lộ 13, nơi diễn ra hội nghị quân sự bốn bên năm 1973
Heritage spaces · Lộc Ninh
Trường mỹ thuật ứng dụng khai giảng năm 1903 ở Biên Hòa, nơi định hình gốm Biên Hòa, có khu Điểm đến gốm mở trải nghiệm làm gốm.
Art & creative spaces · Trấn Biên
Rừng nhiệt đới hơn 71.000 ha bên sông Đồng Nai, lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, có vùng đất ngập nước Ramsar Bàu Sấu.
Nature & seasons · Nam Cát Tiên
Bảo tàng khảo cứu địa phương ở số 1 Nguyễn Ái Quốc, giữ bốn bảo vật quốc gia như đàn đá Bình Đa và tượng tê tê đồng Long Giao.
Museums · Tân Triều
Đình thờ Thành hoàng Trần Thượng Xuyên bên sông Đồng Nai, mái tiền đình gắn hàng trăm tượng gốm men xanh; di tích quốc gia từ năm 1991.
Heritage spaces · Trấn Biên
Tổ hợp công viên nước, công viên chủ đề và vườn trái cây trên Quốc lộ 51, phường Long Hưng
Nature & seasons · Long Hưng
Cụm xưởng chạm khắc đá dọc đường Huỳnh Văn Nghệ cạnh Văn miếu Trấn Biên, nghề được cho là hơn 300 năm, nay còn vài xưởng làm theo đơn hàng.
Craft villages · Trấn Biên
Song mộ hình voi phục bằng đá ong của Trịnh Hoài Đức, tác giả "Gia Định thành thông chí", và phu nhân; di tích quốc gia từ năm 1990.
Heritage spaces · Trấn Biên
Cù lao gần 700 ha giữa hai nhánh sông Đồng Nai, từng là thương cảng Nông Nại Đại Phố thế kỷ 17–18, nay còn ba di tích quốc gia.
Community villages · Trấn Biên
Nhà rọi ba gian hai chái dựng năm 1900 bên sông Đồng Nai, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh từ 2005
Heritage spaces · Biên Hòa
Lễ hội đầu xuân thờ Quan Thánh Đế Quân ở Thất Phủ Cổ Miếu, mùng 9 hoặc 10 đến 13 tháng Giêng, di sản phi vật thể quốc gia đầu tiên của Đồng Nai.
Festivals · Trấn Biên
Miếu thờ Quan Thánh Đế Quân do người Hoa bảy phủ dựng năm 1684 bên sông Đồng Nai, nơi diễn ra lễ hội Chùa Ông mỗi tháng Giêng âm lịch.
Heritage spaces · Trấn Biên
Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh bên sông Đồng Nai trên cù lao Phố, di tích quốc gia từ 1991, nơi tổ chức lễ giỗ ông giữa tháng 5 âm lịch.
Heritage spaces · Trấn Biên
Địa đạo dài 383,5 m của Ban Thông tin khu Đông Nam Bộ (từ 1962 đến 1967) giữa rừng Chiến khu Đ
Heritage spaces · Trị An
Đình làng chữ Công ở Nhơn Trạch, nơi chánh điện kín đáo kể chuyện lớp người miền Trung vào lập làng
Heritage spaces · Nhơn Trạch
Căn cứ cuối cùng của Bộ Chỉ huy Miền ở rừng Lộc Thành, nơi bàn kế hoạch giải phóng Sài Gòn tháng 4/1975; di tích quốc gia đặc biệt năm 2015.
Heritage spaces · Lộc Thành
Tổ đình bên sông Đồng Nai do tổ sư Thành Nhạc khai sơn năm 1664, một trong ba ngôi chùa cổ nhất Đồng Nai; di tích quốc gia năm 1991.
Heritage spaces · Biên Hòa
Di tích quốc gia nơi tù chính trị nổi dậy phá khám ngày 2/12/1956, giải thoát 462 người; nay là nơi tưởng niệm do Bảo tàng Đồng Nai quản lý.
Heritage spaces · Tam Hiệp
Chợ hạng 1 bên sông Đồng Nai, tên xưa là chợ Dinh, đặc trưng gian khô mắm miền Tây; nhà lồng giữa bị cháy, phá dỡ tháng 8/2026.
Local markets · Trấn Biên
Vùng căn cứ kháng chiến trong rừng Mã Đà với ba di tích quốc gia: Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy miền Đông Nam Bộ và địa đạo Suối Linh.
Heritage spaces
Vòng thành đá ong thời Minh Mạng và hai biệt thự Pháp giữa trung tâm Biên Hòa, dân quen gọi Thành Kèn
Heritage spaces · Trấn Biên
Chùa Ni cổ trên núi Bửu Long, mặt tiền phủ phù điêu ghép sành sứ, cạnh khối đá Long Đầu; một trong ba chùa cổ của Đồng Nai.
Heritage spaces · Trấn Biên
Ngôi mộ đá lớn khoảng 2.000 năm tuổi ghép từ sáu tấm hoa cương, phát hiện năm 1927 bên Quốc lộ 56; di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2015.
Heritage spaces · Hàng Gòn
Cụm nhà mái vòm bê tông người Pháp xây năm 1936 cho vùng đồn điền cao su Lộc Ninh
Heritage spaces · Lộc Tấn
Ba khối đá granodiorit chồng lên nhau cao gần 40 m sát Quốc lộ 20, giữa quần thể hòn Dĩa, núi Đá Voi rộng hơn 8 ha ở xã Định Quán.
Nature & seasons · Định Quán
Đền thờ và lăng mộ thầy Cự cùng 16 nghĩa binh Thiên Địa Hội ở Biên Hòa, giỗ mùng 8 tháng 4 âm lịch
Heritage spaces · Tam Hiệp
Ngôi chùa Nam tông lâu đời của người Khmer vùng Lộc Ninh, vừa là nơi thờ Phật vừa là lớp học chữ Khmer
Heritage spaces · Lộc Hưng
Phòng trưng bày của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai bên hồ Suối Cam, giữ bảo vật quốc gia đàn đá Lộc Hòa, trống đồng và hiện vật khảo cổ.
Museums · Bình Phước
Ngọn núi 837 m ở Xuân Lộc, cao thứ hai Đông Nam Bộ sau núi Bà Đen; danh thắng quốc gia, có chùa Gia Lào và đường leo lên đỉnh.
Heritage spaces
Hai vòng thành đất và một vòng hào đường kính 365 m của người tiền sử ở Lộc Tấn
Heritage spaces · Lộc Tấn
Ngôi nhà vuông trang trí gốm Biên Hòa trên đường 30-4, nơi thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa năm 1945
Heritage spaces · Trấn Biên
Hồ thủy điện hơn 32.000 ha trên sông Đồng Nai, nằm trong vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai; chèo SUP, cắm trại, ngắm hồ mùa cạn.
Nature & seasons
Địa đạo dài 1,5 km, sâu 5-7 m dưới rừng Lòng Chảo, căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch thời chống Mỹ; di tích quốc gia từ năm 2001.
Heritage spaces · Phước An
Chùa Một Cột của Biên Hòa, nơi thờ pho tượng đá Vishnu bốn tay của người Chăm giữa chánh điện
Heritage spaces · Trấn Biên
Trại lao động đặc biệt thời Pháp dưới chân núi Bà Rá; nay còn bia tưởng niệm và khu miếu Cây Cầy, phường Phước Long đang triển khai phục dựng.
Heritage spaces · Phước Long
Chùa trên cù lao Phố do nhà sư Thành Đẳng dòng Lâm Tế lập năm 1665, gắn với công chúa Ngọc Anh và tượng A Di Đà vua Gia Long cúng.
Heritage spaces · Trấn Biên
Tám héc-ta chòi lá, dừa nước và trò chơi sông nước bên dòng Ông Kèo, xã Đại Phước
Nature & seasons · Đại Phước
Đình làng trên cù lao Phố, xưa là Bình Quan võ miếu, nơi Thanh niên Tiền phong tập hợp năm 1945
Heritage spaces · Trấn Biên
Đình làng Bến Gỗ bên tả ngạn sông Đồng Nai, giữ lối chạm gỗ rồng thân xương cá của cư dân chài lưới
Heritage spaces · Long Hưng
Ngọn núi hơn 700 m ở Phước Long, di tích lịch sử – danh thắng quốc gia từ 1995; từ đỉnh nhìn xuống hồ thủy điện Thác Mơ.
Heritage spaces · Phước Long
Danh thắng quốc gia ở Biên Hòa, gồm hồ Long Ẩn hình thành từ khai thác đá, núi Bửu Long, chùa Bửu Phong và khu vui chơi.
Heritage spaces · Trấn Biên
Khu tưởng niệm trận Chi khu Đồng Xoài tháng 6/1965 ở phường Bình Phước, có tượng đài khánh thành năm 2007; di tích quốc gia từ năm 2014.
Heritage spaces · Bình Phước
Tổ đình Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam bên Quốc lộ 51, lập năm 1974 trên đất cúng dường ở Phước Thái; chánh điện giữa hai hàng dương.
Heritage spaces · Phước Thái
Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của ngành cao su, giữa rừng cao su xã Thuận Lợi
Heritage spaces · Thuận Lợi
Ngôi đình hơn 200 năm bên sông Đồng Nai, giữ tên làng cổ Phước Lư qua những bao lam chạm gỗ
Heritage spaces · Trấn Biên
Tượng đài ba chiến sĩ ở ngã ba cầu Đắk Lung, ghi dấu ngày 6-1-1975 của Phước Long
Heritage spaces · Phước Long
Sóc của người S'tiêng từng giã gạo nuôi quân năm 1965, cảm hứng cho bài hát "Tiếng chày trên sóc Bom Bo"; di tích quốc gia từ 2025.
Heritage spaces · Bom Bo
Ngôi mộ hình kim tự tháp cụt của lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh, cách quốc lộ 51 chừng 300 m
Heritage spaces · Long Phước
Làng người Mạ, S'tiêng, Tày ở vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi tổ hợp tác cộng đồng đón khách học dệt thổ cẩm, đan lát, đi rừng cùng người địa phương.
Community villages · Tà Lài
Di tích quốc gia bên Quốc lộ 13, nơi tưởng niệm 150 ngày đêm giữ chốt của Sư đoàn 7 năm 1972
Heritage spaces · Tân Khai
Nơi ghi dấu trận phục kích đoàn xe Pháp trên Quốc lộ 20 chiều 1/3/1948, di tích quốc gia năm 1986, tượng đài cao 15,5 m trên đồi bên sông La Ngà.
Heritage spaces · Định Quán
Cụm khoảng 20 trảng cỏ thấp quanh hồ nước giữa rừng xã Thọ Sơn, nơi người M'nông, S'tiêng chăn thả trâu bò và khách đến cắm trại.
Nature & seasons · Thọ Sơn
Thác Liêng Rót của người M'nông, đổ từ 20 m xuống ghềnh đá cạnh trảng cỏ Bù Lạch
Nature & seasons · Thọ Sơn
Bậc thác cuối của sông Đồng Nai, nay là bãi đá dưới đập tràn Thủy điện Trị An
Nature & seasons · Trị An
Nhà thờ chính tòa của Giáo phận Xuân Lộc trên đường Hùng Vương ở Long Khánh, khởi công năm 1963, khánh thành năm 1966.
Heritage spaces · Long Khánh
Khu du lịch sinh thái của doanh nghiệp ở phường Tân Phú, hồ tắm nước mạch ngầm hơn 150.000 m², thác đá và bãi cắm trại cách TP HCM khoảng 120 km.
Nature & seasons · Tân Phú
Di tích quốc gia ghi dấu cuộc nổi dậy năm 1933 của đồng bào S'tiêng ở vùng Bà Rá xưa
Heritage spaces · Phú Riềng
Chợ hạng I ở trung tâm Long Khánh, lập năm 1983 và xây lại năm 2013 thành chợ kết hợp siêu thị; nơi mua trái cây và nông sản miền Đông.
Local markets · Long Khánh
Thác thấp trên suối Đắk Woa ở xã Bù Đăng, nước đổ qua vách cột đá lục lăng dựng đứng; danh thắng cấp tỉnh từ năm 2013.
Nature & seasons · Bù Đăng
Cụm thác đá giữa rừng phòng hộ Tân Phú, cạnh một bàu nước khoáng nóng tự nhiên 50–60°C quanh năm, ở xã Định Quán.
Nature & seasons · Định Quán
Hồ nước giữa rừng cao su Đồng Phú, tên gọi từ màu lam của sương sớm trên mặt hồ
Nature & seasons · Thuận Lợi
Hồ nước giữa trung tâm Đồng Xoài cũ, khu hồ quy hoạch 237 ha, có công viên ven hồ mở năm 2021, giai đoạn 2 đang xây.
Nature & seasons · Bình Phước
Nơi tưởng niệm đồng bào An Lộc năm 1972, di tích lịch sử quốc gia từ năm 1985
Heritage spaces · Bình Long
Văn miếu đầu tiên được dựng ở Đàng Trong năm 1715, nay là di tích lịch sử cấp quốc gia bên Khu du lịch Bửu Long
Heritage spaces · Trấn Biên
Vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai, hơn 100.000 ha rừng đặc dụng và mặt nước hồ Trị An
Nature & seasons · Trị An
Khoảng 25.600 ha rừng kín thường xanh giáp biên giới Campuchia, độ che phủ trên 90% và 39 cây di sản Việt Nam
Nature & seasons · Bù Gia Mập
Cù lao trồng bưởi bên sông Đồng Nai, quê của bưởi đường lá cam và bưởi ổi được cấp chỉ dẫn địa lý năm 2012, trái rộ nhất vào mùa Tết.
Community villages · Tân Triều
Làng nhà bè nuôi cá trên sông La Ngà dưới chân cầu Quốc lộ 20, hình thành khoảng 1989-1990 từ các gia đình người Việt hồi hương từ Campuchia.
Community villages
Nghề gốm hơn 300 năm với men "xanh đồng trổ bông", dòng men được gọi tên quốc tế là vert de Biên Hòa
Craft villages · Trấn Biên
No places match these filters.
Heritage spaces
Ngôi nhà hai tầng bên quốc lộ 13, nơi diễn ra hội nghị quân sự bốn bên năm 1973
Chạy theo quốc lộ 13 về phía biên giới, đến trung tâm Lộc Ninh bạn sẽ thấy ngay bên đường một ngôi nhà hai tầng dáng nhà sàn, nép dưới những hàng cây cao. Người trong vùng quen gọi là nhà “Cao Cẳng”. Tên chính thức của nơi này là Di tích Trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, thường gọi gọn là Nhà Giao tế.
Cái tên Cao Cẳng có trước ngôi nhà hiện nay. Năm 1911, trên nền đất này là văn phòng của công ty cao su Xét-Xô của Pháp, dựng theo lối nhà sàn của đồng bào dân tộc thiểu số để quản lý việc khai thác mủ cao su ở Lộc Ninh. Ngôi nhà ấy không còn sau năm 1972. Tháng 3 năm 1973, Chính phủ Cách mạng lâm thời chọn đúng nền cũ để dựng trụ sở theo bản vẽ của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, hoàn thành sau hơn một tháng thi công. Vì dựng lên để đón tiếp các phái đoàn ngoại giao trong và ngoài nước nên nhà mang tên Giao tế. Tầng trệt bằng bê tông dùng để hội họp, mít tinh và sinh hoạt văn nghệ; tầng lầu bằng gỗ, có lan can bao quanh, bố trí theo kiểu phòng khánh tiết dưới mái tôn “5 nóc, 4 mái” sơn đỏ.
Điều đáng xem kỹ nhất nằm ở những chi tiết rất nhỏ. Phòng trên lầu là nơi năm 1973 diễn ra hội nghị quân sự bốn bên bàn việc thi hành Hiệp định Paris, dưới sự giám sát của Ủy ban Quốc tế gồm Ba Lan, Canada, Hungary và Indonesia. Hai cầu thang ở hai bên nhà là hai lối đi riêng: nhìn từ trong nhà ra, cầu thang bên phải dành cho phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời và Quân đội nhân dân Việt Nam, cầu thang bên trái dành cho phái đoàn quân sự Mỹ và Việt Nam Cộng hòa. Bốn phái đoàn ngồi quanh một chiếc bàn tròn lớn chứ không dùng bàn vuông hay bàn chữ nhật như ở trại Davis hay Paris, bởi bàn tròn không có vị trí nào trông như ghế chủ tọa, các bên ngang hàng nhau. Ủy ban Quốc tế ngồi một bàn tròn nhỏ, còn bốn bàn nhỏ ở bốn góc nhà là chỗ của tùy viên.
Bên trong nhà còn giữ bàn, ghế, tủ, bục và vật trang trí; khu di tích có phòng trưng bày hiện vật và khu trưng bày hình ảnh. Ngoài sân đặt những hiện vật lớn như pháo, xe tăng và chiếc máy bơm nhiên liệu từng bơm xăng dầu qua đường ống chạy dọc Trường Sơn. Di tích được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia từ ngày 12 tháng 12 năm 1986 và được trùng tu, nâng cấp năm 2008.
Giờ đón khách và việc thu vé hiện chưa được công bố rộng rãi. Từ cuối năm 2025 di tích được chuyển từ ngành văn hóa tỉnh về chính quyền địa phương quản lý, nên nếu đi theo đoàn hoặc muốn có người giới thiệu, bạn hãy liên hệ Ủy ban nhân dân phường Lộc Ninh trước khi đến. Đây là nơi ghi lại một giai đoạn lịch sử còn nhiều người trong cuộc, vì vậy hãy tham quan với thái độ trân trọng và giữ trật tự trong phòng họp trên lầu.
Nhà Giao tế hợp với người muốn hiểu những ngày thi hành Hiệp định Paris qua một không gian cụ thể, với đoàn học sinh và các chuyến về nguồn. Nơi này không rộng; để chuyến đi trọn hơn, bạn có thể ghép với Sân bay quân sự Lộc Ninh ở gần đó, hoặc đi tiếp Căn cứ Tà Thiết nếu muốn một khu di tích lớn giữa rừng.
Keywords
Art & creative spaces
Trường mỹ thuật ứng dụng khai giảng năm 1903 ở Biên Hòa, nơi định hình gốm Biên Hòa, có khu Điểm đến gốm mở trải nghiệm làm gốm.
Trên đường 30 Tháng 4, giữa trung tâm Biên Hòa cũ, nay là phường Trấn Biên, Trường Cao đẳng Mỹ thuật trang trí Đồng Nai là trường mỹ thuật ứng dụng trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tiền thân là Trường dạy nghề Biên Hòa khai giảng ngày 15/3/1903. Với du khách, đây là nơi để hiểu gốm Biên Hòa, dòng gốm men màu chạm khắc được định hình trong chính ngôi trường này.
Ngày đầu, trường có bốn ban: đan lát, gỗ, đúc đồng theo phương pháp Bắc Ninh và vẽ, học trong khuôn viên Tòa bố. Năm 1923, Robert Balick về làm hiệu trưởng cùng vợ là Mariette, người học trường gốm Limoges; trường đổi tên Trường Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa. Gốm và đồ đồng của trường nhận huy chương vàng tại Hội chợ quốc tế Paris năm 1925. Trường đổi tên nhiều lần: Trường Kỹ thuật Biên Hòa năm 1964, Trường Trung học Mỹ thuật trang trí Đồng Nai năm 1978, lên cao đẳng năm 1998 và giữ tên này đến nay. Gốm, điêu khắc và đồ họa là ba ngành gần như có mặt suốt lịch sử trường.
Thứ bạn xem được nhiều nhất là khu "Điểm đến gốm Biên Hòa - con đường di sản", dựng năm 2025 trên gần 1.000 m² trong khuôn viên. Từ cổng vào là bức bích họa dài 75 m kể nghề gốm xưa, tiếp đến mô hình lò gốm truyền thống, thác nước gốm và các khu bày gốm theo từng giai đoạn, cạnh gốm Bát Tràng và Bàu Trúc. Hơn 400 m² được dành làm chỗ thực hành, nơi người dân và du khách từng được xoay, nặn, tô men và nung gốm. Trường còn có Phòng Truyền thống lưu sản phẩm gốm Biên Hòa.
Ngoài trường, Báo Đồng Nai liệt kê nhiều nơi xem gốm Biên Hòa: 8 bức tranh gốm trăm tuổi ở Văn vật khố Văn miếu Trấn Biên, tranh gốm ở Nhà hội Bình Trước, biểu tượng cá chép ở Quảng trường Sông Phố, phù điêu gốm ở Bảo tàng Đồng Nai. Ban đúc đồng của trường từng tham gia làm tượng Hai Bà Trưng cao 4,2 m năm 1962 ở Sài Gòn.
Nói thẳng, đây là trường đang dạy học, không phải bảo tàng. Báo Đồng Nai tháng 9/2026 cho biết chương trình tham quan mẫu "con đường di sản gốm" mới dự kiến ra mắt cuối tháng 9/2026; giờ đón khách, phí và lịch workshop chưa được công bố chính thức. Năm 2023, báo này cũng ghi nhiều tác phẩm nổi tiếng của trường còn nằm rải rác, chưa có nhà trưng bày gốm tập trung.
Bạn nên liên hệ trường trước khi đến, số điện thoại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố là (0251) 3822042; đi đoàn càng cần hẹn lịch. Các dịp Festival gốm, như Festival Gốm - Khinh khí cầu cuối tháng 4/2025, trường mở không gian trải nghiệm gốm cho công chúng.
Khi vào khuôn viên, hãy tôn trọng giờ học, xin phép trước khi chụp sinh viên hay tác phẩm của giảng viên, và không chạm vào gốm mộc chưa nung hoặc tác phẩm đang bày.
Nơi này hợp với người mê gốm, sinh viên mỹ thuật và gia đình muốn con thử nặn gốm; không hợp khách đến bất chợt mà không hẹn. Nếu bạn chỉ muốn ngắm gốm Biên Hòa trong một di tích, mái đình Tân Lân gắn hàng trăm tượng gốm men xanh là lựa chọn đứng xem từ ngoài được.
Keywords
Nature & seasons
Rừng nhiệt đới hơn 71.000 ha bên sông Đồng Nai, lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, có vùng đất ngập nước Ramsar Bàu Sấu.
Cách TP.HCM khoảng 150 km, Vườn quốc gia Cát Tiên là vùng rừng nhiệt đới đất thấp hơn 71.000 ha dọc sông Đồng Nai, nay nằm trên địa bàn thành phố Đồng Nai và tỉnh Lâm Đồng. Muốn vào vườn, bạn phải qua sông bằng phà của vườn; vé vào cổng đã gồm lượt phà đi và về.
Khu rừng này từng thuộc Chiến khu Đ, được đưa vào diện rừng cấm năm 1978 và thành lập vườn quốc gia ngày 13/01/1992. Năm 1998 vườn được giao về Bộ Nông nghiệp, gộp thêm khu bảo tồn tê giác Cát Lộc ở Lâm Đồng. Cát Tiên mang nhiều lớp công nhận: vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai (UNESCO công nhận năm 2001, mở rộng năm 2011), khu Ramsar Bàu Sấu năm 2005 (khu Ramsar thứ hai của Việt Nam), di tích quốc gia đặc biệt năm 2012, và năm 2024 là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam vào Danh lục Xanh của IUCN.
Rừng là nơi sống của voi châu Á, bò tót, chà vá chân đen, và cá sấu Xiêm ở Bàu Sấu. Cát Tiên cũng là nơi cá thể tê giác Java cuối cùng của Việt Nam bị sát hại năm 2010; năm 2011 loài này được công bố tuyệt chủng ở Việt Nam.
Gần trụ sở có các điểm đi bộ ngắn: cây tung hơn 400 tuổi, cây gõ, ghềnh Bến Cự. Bạn có thể tự đi theo sơ đồ của vườn hoặc thuê xe có người dẫn đường. Bảo tàng thiên nhiên và trung tâm cứu hộ động vật mở theo các khung giờ trong ngày. Buổi tối có tour xem thú đêm bằng xe của vườn từ 18h30, người dẫn soi đèn tìm nai, nhím, chồn; gặp bò tót hay không tùy mùa và may mắn. Tour này phải đặt và chuyển khoản trước, đến trễ 5 phút là bị hủy.
Bàu Sấu cách trung tâm 14 km: 9 km đi ô tô hoặc xe đạp, 5 km cuối bắt buộc đi bộ đường rừng. Bạn có thể tự đi vì đường có biển chỉ dẫn; muốn ở lại thì ngủ ở trạm kiểm lâm Bàu Sấu, không được cắm trại tại đây.
Vườn cho biết mùa mưa thường từ tháng 4 đến tháng 11; mùa khô là lúc thú móng guốc như bò tót, nai thường xuống kiếm ăn quanh Bàu Sấu. Rừng có vắt, nhất là mùa mưa, nên mang tất chống vắt. Ô tô riêng không được chở qua phà, nên bạn đi bộ hoặc thuê xe đạp, xe của vườn bên trong. Bảng giá hiện hành có hiệu lực từ tháng 6/2024 và vườn đang trong quá trình chuyển về thành phố Đồng Nai quản lý, nên hãy hỏi lại giá và tình trạng từng tour (như tour Đảo Tiên xem khu cứu hộ linh trưởng) qua kênh chính thức trước khi đi. Vườn cũng cảnh báo có người mạo danh bán tour.
Quy định của vườn: không tự ý vào rừng sau 18h, không đi ra ngoài các tuyến trên sơ đồ, không tắm sông suối, câu cá, không dùng loa, không mang thú cưng hay túi nylon, không đốt lửa, và mang rác ra khỏi rừng. Bò tót hoang dã có thể tấn công người: tháng 5/2025 một nhân viên bảo vệ rừng của vườn đã tử vong vì bị bò tót húc khi đi tuần.
Cát Tiên hợp với người thích đi bộ trong rừng, quan sát chim thú, hoặc gia đình muốn ở lại trong rừng một hai đêm. Nếu chỉ đi trong ngày và ít đi bộ, bạn vẫn xem được các điểm quanh trụ sở và bảo tàng; còn Bàu Sấu và xem thú đêm cần ít nhất một đêm lưu lại.
Keywords
Museums
Bảo tàng khảo cứu địa phương ở số 1 Nguyễn Ái Quốc, giữ bốn bảo vật quốc gia như đàn đá Bình Đa và tượng tê tê đồng Long Giao.
Bảo tàng Đồng Nai nằm ở số 1 đường Nguyễn Ái Quốc, trong khu Quảng trường tỉnh cũ, nay thuộc phường Tân Triều, thành phố Đồng Nai. Đây là bảo tàng khảo cứu địa phương, kể chuyện vùng đất Đồng Nai từ thời tiền sử đến sau năm 1975 qua khoảng 2.000 hiện vật đang trưng bày; theo Báo Đồng Nai, kho của bảo tàng giữ gần 20 ngàn hiện vật.
Đơn vị bắt đầu từ Phòng Bảo tồn - Bảo tàng lập năm 1976, được thành lập thành Nhà Bảo tàng Đồng Nai ngày 24/10/1987 và từng đặt trụ sở trong chùa Phụng Sơn. Tòa nhà ba tầng hiện nay khởi công năm 1994, hoàn thành năm 1996 trên khuôn viên 13.000 m²; phần trưng bày 14 phòng, 3.941 m² khánh thành ngày 3/8/2000.
Lý do chính để ghé là bốn bảo vật quốc gia: sưu tập đàn đá Bình Đa gồm 52 thanh và đoạn đàn đá khoảng 3.000 năm tuổi tìm thấy bên sông Đồng Nai, sưu tập qua đồng Long Giao, tượng tê tê đồng Long Giao phát hiện năm 1985 ở Cẩm Mỹ, và tượng thần Vishnu Bình Hòa trục vớt từ lòng sông Đồng Nai. Ba bảo vật đầu nằm trong phòng Tiền sử, tượng Vishnu ở phòng Đồng Nai từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 15.
Theo giới thiệu của bảo tàng, lộ trình trải trên hai tầng lầu: thiên nhiên và động thực vật rừng Đồng Nai, văn hóa các tộc người, người Việt và nghề thủ công truyền thống, rồi thời tiền sử, sơ sử, thời khai phá, các giai đoạn đấu tranh từ 1930 đến 1975 và thời kỳ sau 1975. Bên ngoài có khu trưng bày ngoài trời khoảng 2.200 m² và một phòng triển lãm chuyên đề thay đổi theo năm. Trong kho còn có sưu tập gốm mỹ nghệ Biên Hòa và 70 bức ký họa chiến trường.
Nói thẳng, trưng bày đã cũ. Chính trang giới thiệu của bảo tàng thừa nhận cơ sở vật chất xuống cấp và cách sắp xếp hiện vật không còn đáp ứng nhu cầu người xem. Năm 2025, Báo Đồng Nai ghi các bảo vật quốc gia đặt sâu bên trong, để chung với nhiều hiện vật khác, không có hướng dẫn viên thì khách khó biết đó là bảo vật. Khách đến phần lớn là học sinh đi theo đoàn.
Về giờ, bảo tàng công bố khung sáng 7:00-11:00, chiều 13:00-17:00, nhưng hai trang trên website ghi ngày mở cửa khác nhau: một nơi ghi cả tuần, nơi khác ghi thứ Ba đến thứ Sáu, còn thứ Hai và cuối tuần phải hẹn trước. Mục vé và lệ phí đang để trống. Bạn nên gọi số 0251 3810 587 trước khi đi; đoàn đông nên đăng ký để được bố trí khoảng 30 người một hướng dẫn viên.
Trong phòng có tượng thờ cổ như tượng Vishnu và hiện vật chiến tranh, nên giữ trật tự, không chạm vào tủ kính hay hiện vật, và hỏi nhân viên trước khi chụp ảnh.
Bảo tàng hợp với người muốn hiểu nền văn hóa khảo cổ Đồng Nai trước khi đi Mộ cự thạch Hàng Gòn, gia đình có con đang học lịch sử, hoặc người mê đồ đồng, đồ đá tiền sử. Người chờ trưng bày đa phương tiện có thể thất vọng. Nếu bạn muốn một không gian ngoài trời có thuyết minh tự động qua mã QR, Văn miếu Trấn Biên, cũng do Bảo tàng Đồng Nai quản lý, là lựa chọn dễ đi hơn.
Keywords
Heritage spaces
Đình thờ Thành hoàng Trần Thượng Xuyên bên sông Đồng Nai, mái tiền đình gắn hàng trăm tượng gốm men xanh; di tích quốc gia từ năm 1991.
Nằm trên đường Nguyễn Văn Trị, mặt tiền nhìn ra công viên ven sông Đồng Nai ở trung tâm Biên Hòa cũ, đình Tân Lân là ngôi đình thờ Trần Thượng Xuyên, vị tướng gốc Quảng Đông được cả người Việt lẫn người Hoa ở đây tôn làm Thành hoàng. Đình nay thuộc phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai, và là di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia từ ngày 25/3/1991.
Năm 1679, Trần Thượng Xuyên đem hơn 3.000 quân cùng gia quyến vượt biển sang xin cư trú, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho vào vùng Đông Phố; nhóm của ông cùng lưu dân Việt dựng nên thương cảng Nông Nại đại phố, tức Cù lao Phố. Ông mất ngày 23 tháng 10 âm lịch năm 1720. Tương truyền đình khởi đầu là một ngôi miếu nhỏ ở khu Thành Kèn dựng thời Minh Mạng, qua hai lần dời vào năm 1861 và 1906 mới về chỗ hiện nay.
Điều làm Tân Lân khác các đình làng quanh Biên Hòa nằm trên mái tiền đình: hàng trăm tượng gốm men xanh xếp thành ba hàng, kể các tích Bát tiên quá hải, Quan Công phò nhị tẩu, vinh quy bái tổ; hai đầu đao có tượng ông Nhật, bà Nguyệt. Báo chí ghi đây là tác phẩm của nghệ nhân gốm Biên Hòa. Đình theo lối chữ Tam gồm tiền đình, chánh điện, hậu cung, trong khuôn viên khoảng 3.000 m².
Bạn nên đứng lùi về phía công viên để nhìn trọn dải tượng gốm trên mái. Chánh điện đặt tượng Trần Thượng Xuyên ngồi trên ngai cùng áo mão, hai bên là các bệ thờ Thái Giám, Hậu Hiền, Bạch Mã, Tiền Hiền; đình còn giữ sắc thần vua Tự Đức ban năm 1852. Hai bên sân có miếu thờ Bà Ngũ Hành và Ông Đá.
Dịp đông người nhất là lễ Kỳ yên quanh ngày 23 tháng 10 âm lịch, ngày giỗ Đức ông. Năm 2025 lễ diễn ra hai ngày 12-13/12 dương lịch, với nghi thức thỉnh sắc Ông tuần du quanh khu chợ Biên Hòa, xây chầu đại bội, múa lân sư rồng và hát tuồng cổ. Ngày dương lịch đổi theo từng năm, nên bạn cần xem lại lịch trước khi đi.
Đình nằm ngay mặt đường, ba phía còn lại là nhà dân, nên không gian quanh đình khá chật. Giờ mở cửa, phí tham quan và việc thuyết minh cho khách chưa có công bố chính thức; ngoài mùa lễ, bạn nên đến vào ban ngày và hỏi người trông coi nếu muốn vào chánh điện.
Đây là nơi thờ tự do Ban Quý tế chăm lo, không phải một bảo tàng. Các lễ chính như cúng Đàn Cả, Tiên Yết do Ban tế lễ và học trò lễ thực hiện lúc nửa đêm; khách đứng xem ở ngoài, không chen vào khu hành lễ và hỏi trước khi chụp cận người hành lễ. Ăn mặc kín đáo, không chạm vào tượng gốm, sắc phong hay đồ thờ.
Tân Lân hợp với người thích mỹ thuật gốm Biên Hòa, lịch sử cộng đồng người Hoa ở Cù lao Phố, hoặc muốn xem một lễ cúng đình Nam Bộ còn đủ nghi thức. Nếu bạn tìm nơi thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, ông được thờ ở đình Bình Kính trên cù lao Phố, không phải ở đây. Muốn xem thêm một di tích giao thoa Hoa - Việt, Thất Phủ cổ miếu (chùa Ông) trên cù lao Phố cũng là di tích cấp quốc gia.
Keywords
Nature & seasons
Tổ hợp công viên nước, công viên chủ đề và vườn trái cây trên Quốc lộ 51, phường Long Hưng
Chạy theo Quốc lộ 51 từ ngã tư Vũng Tàu thêm chừng 5 km, bạn sẽ thấy cổng Khu du lịch Sơn Tiên ở phường Long Hưng, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, tức 45 đến 60 phút đi xe. Nơi này còn được gọi là Thành phố Du lịch Sơn Tiên: một tổ hợp vui chơi, nghỉ dưỡng rộng khoảng 380 ha do doanh nghiệp đầu tư và vận hành từ năm 2022. Nói cho rõ ngay từ đầu, đây không phải một thắng cảnh tự nhiên; bãi biển, dòng sông, hồ nước ở đây đều do con người làm ra.
Phần được biết đến nhiều nhất là công viên nước Vịnh Kỳ Diệu, rộng 25 ha, mở cửa năm 2022 và được xác lập năm kỷ lục Việt Nam, trong đó có biển nhân tạo với sóng cao đến 4 m và dòng sông thả phao dài 700 m. Dịp 30/4 năm 2024, khu khánh thành thêm công viên chuyên đề Sơn Tiên Amazing World rộng 180 ha, có tuyến xe lửa chạy vòng quanh dài 18 km. Từ ngày 10/1/2026, khu du lịch Đông Nam Bộ với hơn 50 ha không gian xanh bắt đầu đón khách.
Một ngày ở đây thường xoay quanh giờ tạo sóng của bãi biển nhân tạo: ngày thường có các suất 11:30, 13:30 và 16:00, cuối tuần và ngày lễ sóng chạy dày hơn từ 10:30 đến 16:00. Xen giữa là các cụm đường trượt, hồ trẻ em nước nông và dòng sông thả phao. Bên Amazing World có khu trò chơi trong nhà rộng 42.000 m², xe địa hình chạy trong rừng cây, thuyền trên hồ cảnh quan. Còn ở khu Đông Nam Bộ, bạn đạp xe trên cầu đi bộ dài 8,2 km, chèo kayak trên hồ, và vào vườn cây ăn trái có gần 100 loại, nơi khách được hái trái ngay tại vườn.
Có vài điều nên biết trước. Vé bán riêng theo từng phân khu: năm 2026, vé trọn gói công viên nước là 490.000 đồng cho người lớn và 270.000 đồng cho trẻ cao từ 1 m đến 1,4 m, vé đã mua không hoàn lại và chỉ dùng trong đúng ngày đăng ký. Khu rất rộng nên việc đi lại giữa các phân khu dựa vào xe điện và xe lửa, và chặng xe điện từ cổng quốc lộ vào nhà ga trung tâm tính 20.000 đồng một lượt. Khu không cho mang bếp gas, bếp nướng và khuyến khích hạn chế mang đồ ăn cồng kềnh, nên phần ăn uống gần như phụ thuộc vào các nhà hàng bên trong.
Với trẻ nhỏ, hãy xem trước quy định chiều cao: từ 140 cm trở lên mới chơi được mọi đường trượt, cao 120 đến 140 cm phải có người lớn đi kèm, thấp hơn thì chơi ở hồ trẻ em và dòng sông thả phao. Nhiều đường trượt yêu cầu đủ 2 đến 4 người một phao, đi lẻ sẽ được ghép nhóm. Trong khu có một số đền, tháp và tượng thờ; nếu ghé, bạn giữ trang phục và cử chỉ như khi vào một nơi thờ tự. Muốn bay flycam hay chụp ảnh cưới phải đăng ký trước ít nhất 48 giờ.
Sơn Tiên hợp với gia đình có trẻ em, nhóm bạn và đoàn công ty muốn một ngày vui chơi đi về gần Thành phố Hồ Chí Minh, mở cửa cả ngày lễ, Tết. Còn nếu điều bạn tìm là rừng, thác và sự yên tĩnh của thiên nhiên thật, Vườn quốc gia Cát Tiên hay Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai sẽ đúng ý hơn.
Keywords
Craft villages
Cụm xưởng chạm khắc đá dọc đường Huỳnh Văn Nghệ cạnh Văn miếu Trấn Biên, nghề được cho là hơn 300 năm, nay còn vài xưởng làm theo đơn hàng.
Làng nghề đá mỹ nghệ Bửu Long là cụm cơ sở chạm khắc đá dọc đường Huỳnh Văn Nghệ, sát Văn miếu Trấn Biên và gần Khu du lịch Bửu Long, nay thuộc phường Trấn Biên. Hai bên đường là những khối đá lớn xếp chồng và tiếng máy cắt, tiếng đục: đây là nơi sản xuất đang hoạt động, không phải khu tham quan được dàn dựng.
Nhiều bài báo và người làm nghề nói nghề đá ở đây có hơn 300 năm. TTXVN dẫn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức: nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên đến xứ Bàn Lân, tức Biên Hòa ngày nay, đã mang theo nghề làm đá. Một nghệ nhân được báo Sài Gòn Giải Phóng dẫn lời kể mốc năm 1679, khi tám gia đình họ Lưu, Đặng, Phạm về làng Tân Lại mở hầm đá. Báo Đồng Nai viết làng do người Hoa bang Hẹ hình thành, cha truyền con nối. Nguyên liệu truyền thống là đá xanh lấy ngay ở núi Bửu Long; hồ Long Ẩn trong khu du lịch cạnh bên hình thành từ chính việc khai thác đá qua nhiều thế hệ.
Người trong nghề chia hai loại thợ: thợ "đá sống" lên núi chọn và tách đá thô, thợ "đá chín" chạm thành sản phẩm. Một khối đá đi qua bốn công đoạn: vạt mảng tạo dáng, vẽ chi tiết bằng mực nho, đục hoàn chỉnh và tạo hình, rồi đánh bóng bằng đá mài; khó nhất là tạo hình và đánh bóng. Sản phẩm xưa gồm cối đá, chén, bộ cờ, tán cột, lư hương, tượng linh thú; nay chủ yếu là tượng, bia mộ, tán cột, tượng danh nhân và chậu kiểng.
Nghề đang thu hẹp. Năm 1996 thành phố Biên Hòa cấm khai thác đá ở hồ Long Ẩn, thợ "đá sống" không còn, cơ sở phải mua đá từ Hóa An, Tân Hạnh hoặc Bình Dương. Năm 2008 thành phố có chủ trương dời cơ sở ra khỏi khu dân cư vì tiếng ồn, bụi, nhưng đến năm 2025 vẫn chưa có đất quy hoạch làng nghề. Từ không dưới 40 cơ sở thời thịnh, năm 2017 làng còn 6 đến 7 cơ sở; đầu năm 2025 câu lạc bộ chế tác đá Trấn Biên chỉ còn 3 trong 10 xưởng, làm theo thời vụ và đơn đặt hàng. Cũng có chủ cơ sở cho rằng nói "mai một" là chưa hoàn toàn đúng, vì khách các tỉnh vẫn tìm đến đặt hàng.
Làng chưa có chương trình tham quan chính thức hay giờ mở cửa. Xưởng có bụi đá, máy cắt và xe cẩu hạ đá, nên giữ khoảng cách, đừng tự bước vào khu đang cắt, đeo khẩu trang nếu đứng lâu.
Các xưởng là cơ sở của những gia đình làm nghề nhiều đời. Hỏi chủ xưởng trước khi chụp người thợ, đừng sờ vào tượng chưa hoàn thiện. Miếu Tổ sư, nay gọi Thiên Hậu cổ miếu, trên đường Huỳnh Văn Nghệ thờ ông Ngũ Đinh là tổ nghề đá và bà Thiên Hậu; theo Sài Gòn Giải Phóng, người trong nghề giỗ tổ ngày 13 tháng 6 âm lịch.
Làng hợp với người quan tâm điêu khắc, kiến trúc đình chùa, hoặc cần đặt tượng, bia đá. Muốn xem sản phẩm hoàn chỉnh trong không gian yên tĩnh, nhà Văn Vật Khố trong Văn miếu Trấn Biên ngay cạnh trưng bày sản phẩm bốn nghề đồng, mộc, đá, gốm của Biên Hòa; còn cảnh hồ đá và núi thì thuộc Khu du lịch Bửu Long.
Keywords
Heritage spaces
Song mộ hình voi phục bằng đá ong của Trịnh Hoài Đức, tác giả "Gia Định thành thông chí", và phu nhân; di tích quốc gia từ năm 1990.
Cách vòng xoay Biên Hùng khoảng 300 m, trong một con hẻm giữa khu dân cư của phường Trấn Biên, là song mộ của Trịnh Hoài Đức (1765-1825) và chánh thất họ Lê. Người dân quen gọi nơi này là "lăng Ông". Khu mộ được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 27/12/1990.
Trịnh Hoài Đức có tổ tiên người Phúc Kiến, học thầy Võ Trường Toản và cùng Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh được người đời gọi là "Gia Định tam gia". Ông làm quan hai triều Gia Long, Minh Mạng, từng giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định thành, Thượng thư bộ Lại, Hiệp biện Đại học sĩ. Bộ "Gia Định thành thông chí" sáu quyển chữ Hán của ông đến nay vẫn là tư liệu nền cho người nghiên cứu Nam Bộ, được dịch và in ở Paris từ cuối thế kỷ 19. Ông mất ở Huế năm 1825; theo nguyện vọng, linh cữu được đưa về chôn ở làng Bình Trước, quê mẹ.
Cái đáng xem ở đây là kiểu mộ. Hai nấm mộ đắp hình voi phục bằng đá ong tô hợp chất nằm cạnh nhau trong một vòng thành; phía trước là bình phong khắc tiểu sử ông, mặt sau đắp nổi Long Mã; cửa lăng có hai cặp trụ búp sen khắc câu đối chữ Hán nói về sự học; phía sau là bức tường hậu lượn sóng. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mộ quay hướng nam chếch tây 37 độ, trên khu đất khoảng 140 m². Trường Viễn Đông Bác cổ đã xếp mộ vào danh sách di tích từ năm 1938.
Quanh lăng Ông còn khoảng một chục mộ đá ong của dòng họ Trịnh, rải rác trên khu đất 2-3 ha, nhiều ngôi nằm lẫn trong sân nhà dân. Năm 2003, các nhà nghiên cứu phát hiện một mộ yểm, tức ngôi mộ giống mộ chính nhưng không có hài cốt, cách mộ chính khoảng 50 m về phía bắc.
Chuyến thăm thường ngắn: đọc tiểu sử trên bình phong, quét mã QR mà Đoàn phường lắp từ năm 2023 để xem phần giới thiệu trên điện thoại, rồi đi quanh vòng thành nhìn hai nấm mộ. Tháng 3/2025, lễ giỗ 200 năm ngày mất được tổ chức tại đây với dâng hương, đọc chúc văn và múa lân.
Nói thẳng, đây là một khu mộ nhỏ, khuất trong hẻm, xung quanh là nhà dân xuống cấp vì chờ quy hoạch nhiều năm. Dự án bảo tồn duyệt từ năm 2009 đến nay chưa triển khai, và tháng 11/2025 ban quản lý dự án đã trình đề nghị dừng chủ trương đầu tư. Năm 2017 báo chí ghi khu mộ thường khóa cổng, khách phải liên hệ người trông coi; năm 2025 Báo Đồng Nai viết khách có thể đến dâng hương bất cứ lúc nào. Giờ mở cửa chưa có công bố chính thức.
Đây là mộ phần, không phải công viên: giữ yên lặng, không leo lên vòng thành hay nấm mộ, không ngồi lên bia. Các ngôi mộ nằm trong sân nhà dân thuộc không gian sống của họ, đừng tự ý bước vào.
Điểm này hợp với người đọc sử Nam Bộ và người quan tâm kiến trúc mộ cổ đá ong. Nếu bạn muốn một không gian rộng, có trưng bày để hiểu về ông, Văn miếu Trấn Biên ở khu Bửu Long, nơi gian phải nhà thờ chính thờ Trịnh Hoài Đức cùng các danh nhân Nam Bộ, là lựa chọn dễ đi hơn.
Keywords
Community villages
Cù lao gần 700 ha giữa hai nhánh sông Đồng Nai, từng là thương cảng Nông Nại Đại Phố thế kỷ 17–18, nay còn ba di tích quốc gia.
Từ trung tâm Biên Hòa cũ, qua một cây cầu bắc qua nhánh sông Đồng Nai là bạn đã ở trên cù lao Phố: dải đất gần 700 ha, bốn mặt giáp sông, ở phía đông nam phường Trấn Biên. Trước tháng 7/2025 đây là phường Hiệp Hòa của thành phố Biên Hòa, nên nhiều người vẫn gọi là cù lao Hiệp Hòa.
Cù lao được nhắc đến trước hết như một thương cảng. Năm 1679, tướng người Hoa Trần Thượng Xuyên xin thần phục chúa Nguyễn và đưa di dân đến đây lập nghiệp. Trong thế kỷ 17–18, nơi này thành "Nông Nại Đại Phố", có thuyền buôn Nhật Bản, Trung Hoa, phương Tây ghé mua lúa gạo, gỗ, trầm hương.
Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược phương Nam, đặt bản doanh tại cù lao Phố và lập dinh Trấn Biên. Thương cảng suy dần sau cuộc nổi dậy của Lý Văn Quang năm 1747 và giao tranh Tây Sơn, Nguyễn nửa sau thế kỷ 18. Thứ còn lại rõ nhất hôm nay là khoảng 11 ngôi đình, 6 ngôi chùa cùng tịnh xá, miếu, mộ cổ. Ba công trình là di tích quốc gia: chùa Đại Giác, Thất Phủ Cổ Miếu (chùa Ông) và đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh (đình Bình Kính); mỗi nơi có mục riêng.
Cách đi hợp lý là ghép ba di tích này thành một vòng: chùa Đại Giác và chùa Ông cùng ở khu phố Nhị Hòa, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh nằm sát bờ sông dưới chân cầu Ghềnh. Tại di tích, bạn có thể quét mã QR của nền tảng "Khám phá Trấn Biên" (Trấn Biên GO) để xem thuyết minh điện tử. Cù lao có hai dịp lễ là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia: lễ hội chùa Ông từ mùng 9 đến 13 tháng Giêng âm lịch và lễ giỗ Nguyễn Hữu Cảnh giữa tháng 5 âm lịch.
Cần nói thẳng: cù lao Phố là khu dân cư đang chuyển thành đô thị, không phải khu du lịch có cổng vé, và các nguồn chính thức chưa công bố tuyến tham quan chung cho cả cù lao. Đường trục trung tâm Biên Hòa dài 5,4 km đi qua cù lao, cầu Thống Nhất thông xe kỹ thuật tháng 2/2026, còn dự án khu đô thị Hiệp Hòa khoảng 291 ha thu hồi đất của khoảng 1.700 hộ. Cảnh quan vì vậy thay đổi nhanh.
Cù lao nối với đất liền bằng sáu cầu: Ghềnh, Rạch Cát, Hiệp Hòa, Bửu Hòa, An Hảo và Thống Nhất. Vì mạng đường trên cù lao đang thay đổi theo các dự án, bạn nên xem lại lộ trình ngay trước khi đi. Giờ mở cửa và phí tham quan của từng di tích chưa có công bố chính thức.
Các đình, chùa, miếu trên cù lao là nơi thờ tự đang hoạt động của cả người Việt và người Hoa, xen giữa nhà dân. Ăn mặc kín đáo khi vào điện thờ, giữ yên lặng, hỏi trước khi chụp ảnh người dân hay nghi lễ. Lễ hội chùa Ông không đốt vàng mã, không rải tiền lẻ.
Cù lao Phố hợp với người muốn hiểu vì sao năm 1698 được coi là mốc hình thành bộ máy hành chính ở Nam Bộ, người quan tâm giao thoa Việt, Hoa, và người đi đúng dịp lễ. Nếu bạn ít thời gian và cần một điểm có khuôn viên, dịch vụ rõ ràng, Văn miếu Trấn Biên hoặc khu du lịch Bửu Long, cùng phường Trấn Biên, sẽ thuận hơn.
Keywords
Heritage spaces
Nhà rọi ba gian hai chái dựng năm 1900 bên sông Đồng Nai, di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh từ 2005
Trong hẻm 342 đường Bùi Hữu Nghĩa, thuộc phường Biên Hòa mà trước đây là phường Tân Vạn, có một ngôi nhà gỗ quay mặt ra sông Đồng Nai và tựa lưng về phía núi Châu Thới. Đó là nhà cổ Trần Ngọc Du, do chính ông Trần Ngọc Du, một vị quan huyện thời Nguyễn, dựng trên đất hương hỏa của dòng họ từ năm 1900 và mất hai năm mới xong.
Điều đáng kể nhất ở ngôi nhà là gần như mọi thứ làm nên nó đều lấy từ quanh vùng. Chủ nhà trực tiếp chỉ đạo toán thợ mộc Thủ Dầu Một và Biên Hòa vào rừng tuyển gần 200 cây gỗ quý về làm cột, đòn tay và xẻ ván. Gạch lát nền và ngói âm dương đặt ở các lò gốm Tân Vạn, đá tảng kê chân cột lấy từ núi Sảnh. Nhà thuộc kiểu nhà rọi ba gian hai chái, có 36 cột gỗ căm xe chia làm sáu hàng, cả bộ khung liên kết bằng mộng chốt. Trên cánh én, khuôn bông, đầu vì kèo, cửa buồng và khánh thờ là những bức chạm theo đề tài dân gian: tùng và lộc, cúc và bướm, trúc và mai.
Ngôi nhà còn đứng được đến nay là nhờ đợt trùng tu từ năm 2001 đến 2002 do phía Nhật Bản tài trợ và cử chuyên gia thực hiện. Họ làm theo nguyên tắc giữ lại tối đa cái cũ: cột hỏng một phần thì đục ra và vá bằng gỗ cùng loại, cùng tuổi, chỉ thay khi không thể cứu; gỗ không đánh vécni; nền lát lại bằng chính gạch cũ; bộ cửa trước đã mất được làm lại kiểu khung song, vách phên tre tháo lắp được như nhà xưa ở làng quê Nam Bộ. Theo báo chí, năm 2004 ngôi nhà được UNESCO trao Giải thưởng công trạng kiến trúc nhà Việt cổ, và ngày 10 tháng 10 năm 2005, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ký quyết định xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh.
Nguyên thủy đây là nhà chữ Nhị, nhà trên và nhà dưới nối tiếp nhau, nhưng khu nhà dưới đã sập từ năm 1965 nên phần bạn thấy là nhà trên. Bên trong có bàn thờ gia tiên và bức hoành phi 'Đức lưu quang'. Ngôi nhà được dựng trước hết để thờ tự và làm nơi con cháu sum họp; mỗi năm vào mùng 3 tháng Chạp, dòng họ vẫn về đây làm giỗ Tổ.
Cần nói thẳng về điều kiện tham quan. Đây là nhà riêng của một gia đình, con cháu ông Trần Ngọc Du sống ngay trong khuôn viên, và nơi này không vận hành như một điểm du lịch có vé hay giờ mở cửa. Các bài báo từ 2015 đến 2021 đều ghi nhận cửa nhà thường đóng, mái ngói và một số cấu kiện gỗ đã hư mà chưa được tu bổ; tháng 9 năm 2024, lãnh đạo ngành văn hóa tỉnh cho biết việc phát triển du lịch ở đây còn khó vì vướng tranh chấp. Bạn nên xác định trước là có thể chỉ ngắm được ngôi nhà từ bên ngoài.
Nếu đến, hãy xin phép người nhà trước khi bước vào sân, hỏi trước khi chụp ảnh và đừng chạm vào bàn thờ, hoành phi hay các mảng chạm. Nơi này dành cho người mê kiến trúc gỗ Nam Bộ, sẵn lòng đi một quãng để xem tận mắt một bộ khung nhà hơn trăm năm; với đoàn đông hoặc lịch trình cần chắc chắn giờ giấc thì chưa phù hợp.
Keywords
Festivals
Lễ hội đầu xuân thờ Quan Thánh Đế Quân ở Thất Phủ Cổ Miếu, mùng 9 hoặc 10 đến 13 tháng Giêng, di sản phi vật thể quốc gia đầu tiên của Đồng Nai.
Mỗi năm, từ mùng 9 hoặc mùng 10 đến 13 tháng Giêng âm lịch, tức là trước Tết Nguyên tiêu, Thất Phủ Cổ Miếu mà người Biên Hòa quen gọi là chùa Ông, trên cù lao Phố, phường Trấn Biên, mở hội thờ Quan Thánh Đế Quân. Tháng 11/2023, lễ hội truyền thống chùa Ông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, là di sản phi vật thể quốc gia đầu tiên của Đồng Nai.
Miếu do người Hoa bảy phủ dựng năm 1684, vài năm sau khi Trần Thượng Xuyên đưa di dân vào cù lao Phố. Cốt lõi của lễ hội là tín ngưỡng thờ Quan Công, theo chân người Hoa đến Đồng Nai rồi được người Việt tiếp nhận. Lễ hội ngày nay được khôi phục từ năm 2013, tạm dừng hai năm 2020-2021; năm 2026 là lần thứ XI. Phần lễ do Ban Trị sự Thất Phủ Cổ Miếu cùng các hội quán người Hoa thực hiện.
Lễ hội không gói trong một ngôi miếu. Trước ngày chính, đại diện Ban Trị sự đến các đình, miếu có liên quan như đình Nguyễn Hữu Cảnh, đình Tân Lân, miếu Tổ sư ở Bửu Long, miếu Thiên Hậu, Phụng Sơn Tự để dâng hương và thỉnh kim thân, linh vị các vị thần về chùa Ông cùng dự lễ. Năm 2025, lễ thỉnh hàm thư, tức gửi thư mời, được làm từ mùng 8.
Sáng mùng 10 là lễ Nghinh thần, đưa các vị thần dân gian và các bậc có công khai phá Biên Hòa đi xem dân tình đầu năm. Đoàn khoảng 800 đến 1.000 người rước kiệu, múa lân sư rồng, múa hẩu, chơi nhạc Triều Châu, hóa trang Quan Âm, Tề thiên, Phúc Lộc Thọ qua các phố quanh chợ Biên Hòa; người dân bày hương án dọc đường. Năm 2023, 2024 có cả đoàn thuyền trên sông, năm 2025 và 2026 chỉ đi đường bộ.
Ngày 13 khép lại lễ hội: buổi sáng cúng Trời cầu an theo nghi thức Phật giáo rồi thả phúc khí cầu; chiều tối thả hoa đăng trên sông trước miếu, trong đó có bảy hoa đăng lớn tượng trưng cho bảy phủ. Xen giữa là đờn ca tài tử, tuồng cổ, cải lương, võ thuật, trò chơi dân gian và giao lưu thư pháp Việt - Hoa.
Ngày dương lịch đổi theo năm (năm 2026 là 25/2 đến 1/3); lịch chi tiết được công bố gần ngày lễ. Ngày nghinh thần, các phố quanh chợ Biên Hòa có đoàn rước đi qua; đêm hoa đăng rất đông người bên mép sông, hãy giữ trẻ nhỏ bên mình.
Đây là nghi lễ của một cộng đồng đang thực hành tín ngưỡng. Bạn đứng xem hai bên đường, không chen vào đoàn rước hay khu hành lễ, hỏi trước khi chụp cận người đang khấn. Lễ hội được duy trì không đốt vàng mã, không rải tiền lẻ, và ban tổ chức nhắc khách chỉ cắm mỗi nơi một cây nhang.
Lễ hội hợp với người muốn thấy một lễ hội Hoa - Việt còn nghi thức, người thích lân sư rồng và nghệ thuật đường phố đầu xuân. Nếu bạn ngại đông, hãy đến Thất Phủ Cổ Miếu vào ngày thường để xem kiến trúc; còn nếu muốn xem một lễ cúng đình khác cũng gắn với Trần Thượng Xuyên, lễ Kỳ yên đình Tân Lân diễn ra vào tháng 10 âm lịch.
Keywords
Heritage spaces
Miếu thờ Quan Thánh Đế Quân do người Hoa bảy phủ dựng năm 1684 bên sông Đồng Nai, nơi diễn ra lễ hội Chùa Ông mỗi tháng Giêng âm lịch.
Nằm bên bờ sông Đồng Nai ở khu phố Nhị Hòa, cù lao Phố, Thất Phủ Cổ Miếu là tên chữ của nơi người Biên Hòa quen gọi là chùa Ông. Dù gọi là chùa, đây là miếu thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công), trước kia gọi là miếu Quan Đế, do cộng đồng người Hoa lập.
Miếu được khai tạo năm 1684, vài năm sau khi tướng người Hoa Trần Thượng Xuyên xin thần phục chúa Nguyễn và đưa di dân đến cù lao Phố lập nghiệp. Tên "Thất Phủ" ghi lại việc người Hoa thuộc bảy phủ Phúc Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu, Triều Châu, Quỳnh Châu và Ninh Ba cùng góp dựng. Cổng thông tin phường Trấn Biên và nhiều báo gọi đây là ngôi chùa Hoa có niên đại sớm nhất Nam Bộ. Miếu là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia; phần lớn nguồn ghi năm xếp hạng 2001, một số báo ghi 1989.
Miếu theo lối "tứ hợp viện" của người Hoa, gồm tiền điện, phương đình và chính điện nối thành khối khép kín. Trước cổng là cây si cổ thụ và cặp rồng chầu mặt trời tạc bằng đá Bửu Long, làng nghề đá hơn 300 năm tuổi của Biên Hòa. Trên mái là phù điêu gốm kể điển tích; bên trong là bao lam, hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng. Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai ghi các lần trùng tu năm 1743, 1817, 1894 và đợt lớn nhất 2009–2010; qua các lần đó, phần gỗ, đá vẫn được giữ lại.
Chính điện thờ Quan Thánh Đế Quân; ban trị sự cho biết miếu còn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu và một số vị khác. Lễ lớn trong năm là lễ hội Chùa Ông từ mùng 9 đến 13 tháng Giêng âm lịch, được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 11/2023, di sản phi vật thể quốc gia đầu tiên của Đồng Nai. Điểm nhấn là lễ nghinh thần mùng 10 diễu hành qua các phố quanh chợ Biên Hòa và đêm thả hoa đăng trên sông trước miếu.
Ngày thường, miếu đông người vào cuối tuần, ngày rằm và mấy ngày đầu năm, khi người dân đến dâng hương. Mùa lễ hội có hàng nghìn người dự, nên nếu cần không gian yên tĩnh để xem kiến trúc, hãy tránh mấy ngày này. Giờ mở cửa, quy định chụp ảnh và thu phí chưa có công bố chính thức.
Đây là nơi thờ tự đang hoạt động của cộng đồng Hoa, Việt. Ăn mặc kín đáo, không cản lối người dâng hương, không chụp cận mặt người đang khấn khi chưa hỏi. Các nghi lễ tế, rước kiệu trong lễ hội do ban tổ chức và các hội quán người Hoa thực hiện; khách dự bằng cách đứng xem, không chen vào đoàn rước. Lễ hội Chùa Ông được ban tổ chức duy trì không đốt vàng mã, không rải tiền lẻ.
Chùa Ông hợp với người muốn hiểu lịch sử người Hoa ở Nam Bộ, người thích chạm khắc gốm, đá của thợ Biên Hòa, và người đến đúng dịp tháng Giêng. Muốn xem thêm dấu ấn của Trần Thượng Xuyên, bạn có thể đến đình Tân Lân, nơi thờ ông, cũng là di tích quốc gia do phường Trấn Biên quản lý; còn chùa Đại Giác cùng khu phố cho thấy lớp di tích Phật giáo Việt trên cùng cù lao.
Keywords
Heritage spaces
Đền thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh bên sông Đồng Nai trên cù lao Phố, di tích quốc gia từ 1991, nơi tổ chức lễ giỗ ông giữa tháng 5 âm lịch.
Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, dân gian gọi là đình Bình Kính, nằm ở phía nam cù lao Phố, dưới chân cầu Ghềnh, mặt đền hướng tây nam nhìn ra sông Đồng Nai; bờ bên kia là đền thờ Nguyễn Tri Phương. Đây là nơi người Biên Hòa thờ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1650–1700), người năm 1698 vâng lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược phương Nam.
Năm 1698, ông đặt bản doanh tại cù lao Phố, lập phủ Gia Định với dinh Trấn Biên ở vùng Đồng Nai và dinh Phiên Trấn ở vùng Sài Gòn, chiêu mộ dân, đặt đơn vị hành chính, lập sổ đinh điền. Ông mất năm 1700 trên đường trở về sau chuyến trấn an vùng biên giới Tây Nam. Người dân cải đình Bình Hoành của thôn Bình Hoành thành đình Bình Kính để thờ ông; theo Báo Pháp luật, chữ "Kính" được dùng để tránh tên húy "Cảnh".
Vua Gia Long cho trùng tu và cử 10 người trông coi; năm 1851, vua Tự Đức cấp tiền (các báo ghi 400 quan) để dựng lại đình cách chỗ cũ khoảng 400 m. Đền được tái thiết các năm 1923, 1960 và tu bổ liên tục đến 2014. Đền và mộ Nguyễn Hữu Cảnh là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định 457/QĐ ngày 25/3/1991. Năm 2025, lễ giỗ ông được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Vào khuôn viên, thứ bạn thấy trước là tượng đồng Lễ Thành hầu cao 7,5 m tính cả bệ, khánh thành năm 2024. Sáu cột mặt tiền đắp rồng. Bên trong còn những hàng cột lớn, hoành phi đại tự, chữ "Thần" lớn giữa vách với đôi hạc hai bên, và các hương án chạm gỗ mang niên đại 1923, 1927, 1928. Tại di tích có mã QR và tour thực tế ảo 360 độ do Bảo tàng Đồng Nai thực hiện, giúp bạn đọc thêm về thân thế ông. Mộ Nguyễn Hữu Cảnh nằm gần đền.
Nói thẳng về hạn chế: đền đã qua rất nhiều lần trùng tu, năm 2023 tỉnh còn đầu tư 69 tỷ đồng mở rộng, tôn tạo, nên phần lớn những gì bạn thấy là công trình mới. Giờ mở cửa, phí tham quan và lịch thuyết minh chưa có công bố chính thức; đoàn đông nên hỏi trước.
Lễ giỗ Đức ông diễn ra giữa tháng 5 âm lịch (năm 2025 là ngày 16/5 âm lịch), với rước lễ vật, đọc chúc văn, thả hoa đăng trên sông trước đền; tháng 11 âm lịch có lễ Kỳ yên. Phần tế do Ban quý tế thực hiện theo tập quán; khách dự lễ đứng ngoài hàng tế, ăn mặc kín đáo. Bộ áo mão, hia trong tủ kính ở cung bên phải, theo lời kể của các bậc cao niên, là đồ Đức ông từng mặc; Ban quý tế chỉ đưa xuống kiểm tra mỗi năm một lần vào dịp giỗ sau khi làm lễ xin phép, nên đừng đề nghị mở tủ.
Đền hợp với người muốn hiểu mốc 1698 của Biên Hòa và Nam Bộ, học sinh tìm hiểu lịch sử địa phương, và người đến dự lễ giỗ. Người tìm kiến trúc cổ nguyên gốc có thể thất vọng. Nếu muốn thêm một di tích gắn với thời chúa Nguyễn Phúc Chu, Văn miếu Trấn Biên (xây năm 1715, khôi phục năm 2002) ở khu phố Bửu Long là lựa chọn bổ sung.
Keywords
Heritage spaces
Địa đạo dài 383,5 m của Ban Thông tin khu Đông Nam Bộ (từ 1962 đến 1967) giữa rừng Chiến khu Đ
Sâu trong rừng của Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, thuộc phường Trị An, có một quả đồi đất cao hơn 30 mét được rừng phủ kín. Dưới mặt đồi ấy là Địa đạo Suối Linh, căn cứ đứng chân của Ban Thông tin khu Đông Nam Bộ từ năm 1962 đến năm 1967, trong vùng rừng mà lịch sử gọi là Chiến khu Đ.
Cái làm nên giá trị của nơi này là một công việc ít khi được kể: giữ cho đường liên lạc thông suốt. Ở đây người ta đào tạo cán bộ thông tin, lắp ráp và sửa chữa máy móc, điện đài cho toàn khu Đông Nam Bộ. Từ căn cứ, liên lạc được nối từ Trung ương đến Khu ủy và từ Khu ủy về các tỉnh; chỉ thị, mệnh lệnh, tin chiến sự của các chiến trường Phước Thành, Hiếu Liêm, Bình Giã, Đồng Xoài, Đất Cuốc, Bàu Sắn đều đi qua mạng lưới này.
Về cấu trúc, di tích trải trên khoảng 30 hécta và gồm ba phần: giao thông hào, hầm trú ẩn và địa đạo. Hào nằm ở phía tây bắc, dài 260,7 mét, sâu và rộng chừng 0,6 mét, chỉ có một tuyến duy nhất dẫn vào lòng địa đạo. Địa đạo dài 383,5 mét, chạy theo hai hướng Bắc và Đông Bắc của quả đồi thành hai trục hình chữ V. Lòng địa đạo cao trung bình 1,6 đến 1,8 mét, rộng 0,8 mét, uốn quanh co thành tầng trên tầng dưới, có lỗ thông hơi trổ lên mặt đất. Trên mặt đồi có tất cả 12 miệng địa đạo, mỗi miệng vừa một người chui lọt, cùng nhiều miệng giếng còn lại từ lúc người ta chia đoạn để đào. Vòng ngoài từng có hàng rào bằng cây rừng chặt ngã đan vào nhau, dày từ 50 đến 70 mét.
Năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng nơi đây là di tích lịch sử văn hóa theo Quyết định số 61/QĐ-BVHTT ngày 13 tháng 9. Cùng với Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam Bộ và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Suối Linh được kể trong những địa danh lịch sử quan trọng của Chiến khu Đ.
Bạn cần biết trước hiện trạng. Theo báo cáo của Khu Bảo tồn năm 2020, di tích nằm giữa rừng sâu; các hầm trú ẩn chỉ còn dấu vết, nhiều đoạn hào đã sụt, lòng địa đạo bị đất lấp tắc, trên mặt bằng còn nhiều hố bom, và từ khi được phát hiện nơi này chưa lần nào được sửa chữa. Đầu năm 2023, tỉnh mới chấp thuận tu sửa cấp thiết bốn miệng địa đạo và đoạn giao thông hào; ngành văn hóa dự kiến trùng tu trong giai đoạn từ 2026 đến 2030. Chưa có thông báo nào về việc đón khách thường xuyên, nên hãy hỏi Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, đơn vị quản lý di tích, trước khi lên kế hoạch.
Nếu được đưa vào, hãy đi theo người của khu bảo tồn, không tự xuống các miệng hầm và không lấy bất cứ thứ gì trên mặt đất, vì đây vừa là di tích tưởng niệm vừa là rừng được bảo vệ. Nơi này hợp với người đã thăm các căn cứ khác ở Chiến khu Đ và muốn hiểu thêm một mảnh ghép ít người biết; nếu bạn mong được đi trong lòng địa đạo đã phục dựng thì hiện Suối Linh chưa đáp ứng được.
Keywords
Heritage spaces
Đình làng chữ Công ở Nhơn Trạch, nơi chánh điện kín đáo kể chuyện lớp người miền Trung vào lập làng
Nằm sát đường ĐT 769, ở khu vực ấp Trầu của xã Phước Thiền cũ, nay thuộc phường Nhơn Trạch, đình Phước Thiền cách Biên Hòa chừng 35 km về phía Nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 40 km về phía Đông. Người địa phương còn gọi nơi này là đình Ông Cọp. Đây là ngôi đình làng thờ Thần Thành hoàng Bổn Cảnh, được xếp hạng di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh từ tháng 12 năm 2009.
Đình được khởi dựng cùng thời làng Phước Thiền thành hình, khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, ban đầu chỉ là cột tre, vách đất, mái lá. Theo lời các bô lão, ngôi miếu nhỏ thuở đầu nằm ở ấp Bến Chùa; đến khoảng giữa thế kỷ XIX, hương chức trong làng mới dời về khu đất công ở ấp Trầu và gọi là đình Phước Thiền. Cũng lần trùng tu lớn giữa thế kỷ XIX ấy đã cho ngôi đình diện mạo còn thấy hôm nay.
Mặt bằng đình xếp theo hình chữ Công, ba nếp Tiền đình, Chánh điện và Hậu đình nối nhau dưới lớp mái thấp lợp ngói âm dương, bờ nóc Tiền đình đắp lưỡng long chầu nhật. Bộ khung vì kèo gỗ ghép mộng chốt và những mảng chạm khắc là phần đáng nhìn kỹ nhất; riêng chánh điện rộng 233,8 m², làm bằng gỗ và gốm. Có một chi tiết dễ bỏ qua: trong khi cả ngôi đình mở rộng, gần gũi như mọi đình Nam Bộ, chánh điện lại được giữ thành một góc riêng, kín đáo. Giới nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương xem cách bài trí ấy là dấu vết của những người gốc miền Trung đã vào đây sinh sống, lập nghiệp và dựng đình. Chánh điện vừa được trùng tu xong cuối năm 2021 bằng nguồn xã hội hóa do chính Ban Quý tế đình đứng ra làm chủ đầu tư.
Dịp đáng đến nhất là lễ Kỳ yên, ngày 15 và 16 tháng 11 âm lịch hằng năm, ngày dương thay đổi theo năm. Ba ấp Trầu, Bến Sắn và Bến Cam luân phiên đứng ra lo lễ, chuẩn bị từ trước cả tháng, với các nghi thức thỉnh sắc, túc yết, chánh tế, lễ tạ, sau đó là phần hội có múa lân sư rồng. Trong khuôn viên đình còn có Đài Liệt sĩ và nhà bia ghi danh; tháng Tám năm 1945, lực lượng Thanh niên Tiền Phong của xã từng họp tại đây, và Ban Quý tế khi ấy đã hiến quả đại hồng chung của đình cho cách mạng.
Đây là đình làng do Ban Quý tế và người dân trông nom, không phải điểm du lịch có tổ chức dịch vụ: chưa có khung giờ đón khách, giá vé hay thuyết minh nào được công bố. Ngoài dịp lễ, bạn nên hỏi người trông coi trước khi bước vào chánh điện và trước khi chụp ảnh bàn thờ, ăn mặc kín đáo, đi nhẹ nói khẽ, vì với người làng đây trước hết là nơi thờ tự và nơi tưởng niệm.
Nếu bạn thích kiến trúc gỗ của đình Nam Bộ và muốn hiểu một ngôi làng được lập ra thế nào, nơi này đáng một buổi ghé, ghép cùng đình Phú Mỹ và nhà cổ họ Đào ở Phú Hội trong cùng phường. Còn nếu bạn tìm một điểm vui chơi nhiều dịch vụ, đình Phước Thiền sẽ không hợp.
Keywords
Heritage spaces
Căn cứ cuối cùng của Bộ Chỉ huy Miền ở rừng Lộc Thành, nơi bàn kế hoạch giải phóng Sài Gòn tháng 4/1975; di tích quốc gia đặc biệt năm 2015.
Cách TP HCM khoảng 130 đến 150 km về phía bắc theo quốc lộ 13, giữa những vườn cao su và điều của xã Lộc Thành, Căn cứ Tà Thiết là nơi Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, thường gọi là Bộ Chỉ huy Miền, đóng từ năm 1973 đến ngày thống nhất. Người trong vùng quen gọi khu rừng này là "Rừng Chính phủ".
Sau khi Lộc Ninh được giải phóng ngày 7/4/1972, Bộ Chỉ huy Miền dời từ chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh) về Tà Thiết; căn cứ bắt đầu được xây từ đầu tháng 3/1973. Nơi này gần khu dân cư và ở điểm cuối đường mòn Hồ Chí Minh, thuận cho việc nhận người, vũ khí, lương thực từ miền Bắc. Ngày 3/4/1975, đoàn cán bộ Bộ Tổng tham mưu do Đại tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu họp tại đây bàn kế hoạch giải phóng Sài Gòn - Gia Định; tối 14/4/1975, bức điện đồng ý đặt tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh" được gửi về căn cứ. Khi chiến dịch sắp mở màn, Bộ Chỉ huy chiến dịch chuyển tới căn cứ tiền phương Căm Xe ở Dầu Tiếng, nên Tà Thiết là nơi chuẩn bị, chứ không phải sở chỉ huy của những ngày cuối tháng 4.
Ngày 23/12/2015, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng nơi đây là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 2367/QĐ-TTg. Diện tích được ghi rất khác nhau, từ 380 ha (Cục Di sản văn hóa) đến 3.500 ha (Báo Đồng Nai).
Trong khu di tích, các nhà làm việc của Thượng tướng Trần Văn Trà, Chính ủy Phạm Hùng, Đại tướng Lê Đức Anh, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định và Thiếu tướng Lê Văn Tưởng được dựng theo lối nửa chìm nửa nổi, cột kèo gỗ rừng, mái lợp lá trung quân, nép dưới tán cây và bụi le. Bạn sẽ đi qua hầm chữ A, hầm giao ban nằm hoàn toàn dưới đất, bếp Hoàng Cầm loại "đại táo" rộng hơn 100 m² và hội trường nửa chìm nửa nổi. Phòng trưng bày bổ sung có 84 hiện vật và một sa bàn về căn cứ; khu tưởng niệm có đền và nhà bia. Từ đầu năm 2024, khách có thể chọn đi ô tô, xe điện hoặc đạp xe trong khuôn viên.
Nên biết trước rằng phần lớn những gì bạn thấy là công trình phục dựng: hầm chữ A được phục hồi năm 1995, một số nhà trùng tu năm 2009, và từ năm 2015 khu di tích được tôn tạo với tổng mức đầu tư hơn 300 tỷ đồng. Đây là điểm về nguồn của nhiều đoàn học sinh, sinh viên. Giờ mở cửa, giá vé và lịch thuyết minh chưa có công bố chính thức, nên hỏi Ban Quản lý di tích trước nếu đi theo đoàn.
Đây là nơi tưởng niệm. Hãy ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng khi vào đền tưởng niệm và nhà bia, không leo lên mái hầm hay các nhà lá phục dựng.
Tà Thiết hợp với người muốn hiểu cách một sở chỉ huy thời chiến được tổ chức giữa rừng, và với các đoàn sinh hoạt truyền thống. Nếu bạn muốn thấy một dấu tích ít phục dựng hơn, Khu di tích Sân bay Lộc Ninh ở phường Lộc Ninh kế bên chỉ còn đường băng, cổng và bia, nơi diễn ra các đợt trao trả tù binh năm 1973.
Keywords
Heritage spaces
Tổ đình bên sông Đồng Nai do tổ sư Thành Nhạc khai sơn năm 1664, một trong ba ngôi chùa cổ nhất Đồng Nai; di tích quốc gia năm 1991.
Bên hữu ngạn sông Đồng Nai, cách trung tâm Biên Hòa cũ khoảng 1 km về phía tây, chùa Long Thiền (Tổ đình Long Thiền) là một ngôi chùa Phật giáo đang hoạt động, được Báo Đồng Nai và Giáo hội Phật giáo tỉnh xếp vào ba ngôi chùa cổ nhất Đồng Nai, cùng Bửu Phong và Đại Giác. Chùa nay thuộc phường Biên Hòa, thành phố Đồng Nai, là di tích lịch sử cấp quốc gia từ ngày 14/6/1991.
Theo tài liệu lưu tại Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Nai, chùa do tổ sư Thành Nhạc từ miền Trung vào khai sơn năm 1664, thời chúa Nguyễn Phúc Tần, ban đầu chỉ là ngôi chùa cột gỗ, vách ván, mái lá dừa nước. Năm 1664 là năm khai sơn; diện mạo hôm nay là kết quả của nhiều đợt trùng tu: năm 1748 xây Tổ đường, năm 1842 tu bổ giảng đường, giữa thế kỷ 20 đại trùng tu sau trận lụt năm 1952, rồi trùng tu chánh điện năm 2012 và phục dựng tam quan năm 2016. Đến năm 2025, chùa đã qua 41 đời trụ trì.
Long Thiền còn gắn với lịch sử kháng chiến. Năm 1945, Hòa thượng Thích Huệ Thành, trụ trì khi ấy, triệu tập đại hội thành lập Hội Phật giáo cứu quốc tỉnh Biên Hòa và chùa là trụ sở của hội; tăng ni, Phật tử của chùa góp sức nuôi giấu, tiếp tế cho kháng chiến.
Qua cổng tam quan là khoảng sân rộng nhiều cây cổ thụ; chánh điện, nhà thờ Tổ, giảng đường, tăng đường, nhà trù nối nhau theo hình chữ Tam. Trong chánh điện, hãy để ý các hàng cột chạm hoa điểu, bát tiên, lý ngư hóa long, tứ linh; theo Thư viện tỉnh Đồng Nai, chánh điện còn thờ nhiều tượng Phật cổ bằng đất nung và bằng đồng. Vườn chùa có nhiều bảo tháp, trong đó bảo tháp tổ Thành Nhạc có bia đá xanh chạm khắc, cùng hai ngôi mộ cổ tương truyền của một vị quan và phu nhân có công lập chùa. Khoảng đất giáp sông đã được chỉnh trang, người dân quanh vùng hay vào hóng mát buổi chiều.
Đừng kỳ vọng một công trình giữ nguyên dáng thế kỷ 17: phần lớn kiến trúc hiện nay là từ các đợt trùng tu thế kỷ 20 và 21. Ngày rằm chùa có bữa ăn miễn phí cho người dân, các dịp thả cá phóng sinh thu hút đông Phật tử. Giờ mở cửa và quy định tham quan chưa có công bố chính thức. Hướng dẫn đường đi trên báo đã cũ (2008), bạn nên kiểm lại bằng bản đồ.
Đây là nơi tu hành: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chánh điện, xin phép trước khi chụp ảnh chư tăng, không leo lên bảo tháp hay chạm vào tượng thờ. Các buổi thả cá phóng sinh do Giáo hội tổ chức là nghi lễ của Phật tử, khách nên đứng xem.
Long Thiền hợp với người quan tâm lịch sử Phật giáo Nam Bộ, dấu ấn Phật giáo trong kháng chiến, hoặc muốn một ngôi chùa ven sông yên tĩnh để ngồi lại buổi chiều. Nếu bạn muốn chùa cổ trên núi, ghép cùng một khu danh thắng, chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long, cũng thuộc nhóm ba chùa cổ của Biên Hòa, là lựa chọn khác.
Keywords
Heritage spaces
Di tích quốc gia nơi tù chính trị nổi dậy phá khám ngày 2/12/1956, giải thoát 462 người; nay là nơi tưởng niệm do Bảo tàng Đồng Nai quản lý.
Nhà lao Tân Hiệp nằm ở phường Tam Hiệp, phía đông bắc trung tâm Biên Hòa cũ. Tên gọi trong hồ sơ thời chiến là "Trung tâm cải huấn Tân Hiệp". Vị trí này từng được chọn vì phía trước là quốc lộ 1, phía sau là đường sắt Bắc Nam, thuận cho việc nhận tù và chuyển tù đi Côn Đảo, Phú Quốc. Ngày nay đây là di tích lịch sử cấp quốc gia và là nơi tưởng niệm, do Bảo tàng Đồng Nai trực tiếp quản lý.
Nơi này bắt đầu từ một đồn nhỏ quân Nhật dựng tháng 3/1945 để kiểm soát quốc lộ 1. Sau khi tái chiếm Biên Hòa tháng 10/1945, người Pháp mở rộng đồn thành trại giam của tỉnh; từ giữa năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cải tạo, mở rộng thành một nhà tù lớn ở miền Nam. Báo Đồng Nai ghi nhà lao rộng 46.520 m² với 8 trại giam, mỗi trại gần 200 m² nhưng có lúc giam 300 đến 400 người.
Chiều tối ngày 2/12/1956, các tù chính trị do Đảng ủy nhà tù đứng đầu là ông Nguyễn Trọng Tâm (Bảy Tâm) chỉ đạo đồng loạt nổi dậy, chiếm kho súng trước cổng rồi xô đổ cổng sắt. Cuộc phá khám kéo dài khoảng 40 phút; 22 người hy sinh, 462 người thoát ra và trở về với cách mạng (một số nguồn ghi gần 500). Ngày 15/10/1994, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng nơi này là di tích quốc gia.
Sau gần ba năm trùng tu, di tích được khánh thành đúng ngày 2/12/2016 với kinh phí hơn 24 tỷ đồng. Trong khuôn viên có đài tưởng niệm cuộc nổi dậy, miếu thờ liệt sĩ với bia khắc tên 22 liệt sĩ, nhà trưng bày hai tầng và nhà sinh hoạt truyền thống. Nhà trưng bày có tư liệu về Đảng ủy nhà tù, di ảnh cựu tù, xiềng xích. Dấu tích cũ còn lại gồm kho súng, phòng ngủ của lính, một đoạn nền móng trại giam và cổng nhà tù. Theo Báo Đồng Nai, miếu thờ liệt sĩ dựng năm 2013 còn thờ 18 nữ tù chính trị hy sinh khi khu nhà tù bị pháo kích đêm 3/6/1974.
Bạn nên biết trước: khu di tích hôm nay theo dự án tôn tạo rộng khoảng 6.000 m², nhỏ hơn nhiều so với nhà lao cũ, và phần lớn công trình là xây mới năm 2016. Khách đến chủ yếu là học sinh, đoàn viên, cựu chiến binh và gia đình cựu tù. Giờ mở cửa, giá vé và lịch thuyết minh chưa có công bố chính thức, nên hỏi Bảo tàng Đồng Nai trước nếu đi theo đoàn.
Đây là nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Hãy ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng ở miếu thờ và đài tưởng niệm, hỏi trước khi chụp ảnh các đoàn đang làm lễ. Tháng 7, dịp 27/7, và ngày 2/12 hằng năm là lúc nhiều đoàn đến dâng hương.
Nhà lao Tân Hiệp hợp với người muốn tìm hiểu lịch sử nhà tù thời chiến ở Đông Nam Bộ, các đoàn học sinh sinh hoạt truyền thống, và gia đình có người thân từng bị giam ở đây. Nếu bạn muốn xem một căn cứ kháng chiến giữa rừng thay vì một di tích trong đô thị, Chiến khu Đ với Địa đạo Suối Linh ở xã Trị An là lựa chọn khác trong thành phố Đồng Nai.
Keywords
Local markets
Chợ hạng 1 bên sông Đồng Nai, tên xưa là chợ Dinh, đặc trưng gian khô mắm miền Tây; nhà lồng giữa bị cháy, phá dỡ tháng 8/2026.
Chợ Biên Hòa nằm ở trung tâm Biên Hòa cũ, nay thuộc phường Trấn Biên, dọc công viên và phố đi bộ Nguyễn Văn Trị bên sông Đồng Nai. Người xưa gọi đây là chợ Dinh, chợ của dinh Trấn Biên, và câu ca dao "Đố anh con rết mấy chân / Cầu ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người" vẫn được báo địa phương nhắc khi viết về chợ.
Không ai biết chính xác chợ Dinh hình thành từ lúc nào. VnExpress dẫn tư liệu lịch sử cho biết chợ được dựng bằng gỗ, lợp mái năm 1889, chia ba khu bán cá, gạo và hàng tạp hóa. Qua nhiều lần sửa và mở rộng, chợ được xây mới trên nền cũ vào khoảng năm 2008 - 2009, với khu nhà lồng hai tầng rộng 3.400 m². Hiện chợ rộng hơn 8.100 m², là chợ hạng 1, có khoảng 300 ki-ốt xếp thành hai dãy và một nhà lồng ở giữa; tầng trệt để bán, tầng trên làm kho.
Báo Đồng Nai xếp chợ Biên Hòa vào nhóm "chợ Nam" lâu đời, khác các chợ đậm chất Bắc của Biên Hòa như chợ Sặt, chợ Tân Mai. Gian đặc trưng nhất là khô và mắm: mắm cá linh, cá sặc, cá cơm, ba khía; khô cá lóc, cá đù, cá đuối, cá sặc; tôm khô nhiều loại; đu đủ, dưa leo, cà pháo muối ngọt. Nhiều quầy lấy hàng từ Bạc Liêu, Cà Mau, Châu Đốc, bán lẻ từ vài nghìn đồng đến cả ký và bỏ mối cho quán ăn. Ngoài ra chợ bán thực phẩm, quần áo, đồ gia dụng, đồ thờ cúng, đồ mây tre, và có những nghề nhỏ như sửa giày dép, túi xách, quần áo, làm vàng bạc.
Cần biết trước khi đi: tối 5/8/2026, một vụ cháy do chập điện ở ki-ốt bán đồ mây tre đã thiêu rụi khoảng 600 đến 900 m² ở tầng trệt và tầng trên nhà lồng, làm sập mái vòm; khoảng 10 hộ mất gần hết hàng. Từ 19/8/2026, đoạn giữa nhà lồng dài 38 m bị phá dỡ để bảo đảm an toàn, trong khi các cửa hàng xung quanh vẫn buôn bán. Đến cuối tháng 9/2026 chưa thấy công bố phương án xây lại, nên mặt bằng bạn gặp có thể khác ảnh cũ.
Quanh chợ, nhất là trên đường Nguyễn Văn Trị, người bán hay bày hàng xuống vỉa hè và lòng đường vào giờ cao điểm và cuối tuần; Báo Đồng Nai từng phản ánh các điểm giữ xe tự phát thu phí sai quy định. Nên gửi xe ở nơi có vé rõ ràng, hỏi giá trước khi mua khô mắm theo ký, và hỏi cách bảo quản nếu mang đi xa. Giờ họp chợ chưa có công bố chính thức.
Nhiều tiểu thương đã buôn bán ở đây hàng chục năm, và không ít người vừa mất trắng hàng hóa sau vụ cháy. Hãy hỏi trước khi chụp cận mặt người bán, đừng đứng chắn lối đi hẹp giữa các sạp, và tránh khu vực đang rào chắn, phá dỡ.
Chợ Biên Hòa hợp với người muốn mua khô, mắm miền Tây làm quà, hoặc muốn xem nhịp buôn bán ở trung tâm Biên Hòa cũ rồi dạo phố đi bộ Nguyễn Văn Trị, ghé đình Tân Lân gần đó. Nếu bạn thích một chợ ven sông dân dã hơn, bán bông súng, bông điên điển, giá thường rẻ hơn, chợ Đồn (chợ Bửu Hòa) ở phường Biên Hòa là lựa chọn khác.
Keywords
Heritage spaces
Vùng căn cứ kháng chiến trong rừng Mã Đà với ba di tích quốc gia: Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy miền Đông Nam Bộ và địa đạo Suối Linh.
Chiến khu Đ là vùng căn cứ kháng chiến trong rừng phía bắc thành phố Đồng Nai, quanh khu vực Mã Đà cũ, cách trung tâm Biên Hòa khoảng 70 km. Báo Đồng Nai tính mốc hình thành chiến khu từ năm 1946. Ngày nay phần lớn vùng căn cứ nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, và khách đến đây chủ yếu để thăm ba di tích lịch sử cấp quốc gia nằm rải trong rừng.
Cần nói rõ một điều hay bị nhầm: Chiến khu Đ không có trong danh mục di tích quốc gia đặc biệt. Ba di tích được xếp hạng cấp quốc gia là Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam Bộ (ngày 29/11/1997), Địa đạo Suối Linh (Quyết định 61/QĐ-BVHTT ngày 13/9/1999) và Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Quyết định 02/2001/QĐ-BVHTT ngày 19/1/2001). Hai di tích đầu nay thuộc phường Trị An; căn cứ Trung ương Cục được Báo Đồng Nai năm 2026 ghi thuộc xã Phú Lý.
Ngày 23/1/1961, Trung ương Cục miền Nam được thành lập và đặt căn cứ ở Chiến khu Đ trong khoảng 1961-1962. Tháng 2/1961, Khu ủy miền Đông Nam Bộ ra đời tại Suối Linh và đứng chân ở đây đến năm 1967. Địa đạo Suối Linh là nơi Ban Thông tin khu Đông Nam Bộ làm việc giai đoạn 1962-1967, giữ liên lạc từ Trung ương xuống Khu ủy và các tỉnh.
Ở căn cứ Trung ương Cục, khu tôn tạo khánh thành năm 2004 có nhà bia cao 15 m, bia ghi danh các ủy viên Trung ương Cục, nhà trưng bày, đền tưởng niệm; sau đó bạn đi theo con đường giao liên trong rừng tới bia các ban, giao thông hào, ụ chiến đấu. Căn cứ Khu ủy nằm trên một đồi sỏi rộng khoảng 28 ha, có nhà ở, nhà làm việc, nhà quân y, bếp Hoàng Cầm nối với nhau bằng giao thông hào và địa đạo. Địa đạo Suối Linh dài 383,5 m, có 12 miệng, mỗi miệng vừa một người chui. Thuyết minh viên của khu bảo tồn dẫn khách và kể chuyện từng nơi.
Từ tháng 2 đến tháng 5, con đường hoa giấy, hoa sứ dài hơn 30 km trên ĐT761 từ Mã Đà vào Bà Hào nở rộ. Khách tham quan khu bảo tồn tăng từ 23.000 lượt năm 2017 lên hơn 55.000 lượt năm 2024.
Hạn chế lớn nhất là khoảng cách và thông tin: các di tích nằm xa nhau trong rừng, giờ mở cửa và phí tham quan chưa có công bố chính thức, phần mô tả hiện vật chi tiết đến từ bài báo năm 2006.
Đây là rừng đặc dụng có voi và bò tót hoang dã, nên chỉ đi theo tuyến có người dẫn và liên hệ khu bảo tồn trước khi vào. Ở đền tưởng niệm và bia ghi danh, hãy ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng như ở một nơi tưởng niệm.
Điểm này hợp với người quan tâm lịch sử kháng chiến miền Đông, đoàn học sinh và người muốn kết hợp rừng với di tích. Nếu bạn cần một di tích quốc gia đặc biệt cùng chủ đề, Căn cứ Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam (Tà Thiết, xã Lộc Thành) là lựa chọn; còn nếu chỉ muốn rừng và hồ, xem thêm Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai và hồ Trị An.
Keywords
Heritage spaces
Vòng thành đá ong thời Minh Mạng và hai biệt thự Pháp giữa trung tâm Biên Hòa, dân quen gọi Thành Kèn
Giữa khu trung tâm Biên Hòa cũ, trên đường Phan Chu Trinh, con đường người Pháp mở từ bờ sông Đồng Nai lên cổng thành và từng đặt tên là đại lộ Thành trì, còn lại một vòng tường đá ong đỏ ôm lấy hai ngôi biệt thự kiểu Pháp. Đó là Thành cổ Biên Hòa. Người địa phương quen gọi là Thành Kèn, vì thuở ấy mỗi sáng lính Pháp thổi kèn báo thức, tiếng vang cả một vùng.
Thứ bạn nhìn thấy hôm nay chỉ bằng khoảng một phần tám tòa thành của nhà Nguyễn. Năm 1834, vua Minh Mạng cho đắp thành bằng đất trên nền một thành cũ hơn (vì vậy thành còn có tên Thành Cựu), rồi năm 1837 cho xây lại bằng đá ong, chu vi nới lên 1.645 m, có hào nước, bốn cửa, bốn cầu đá và một kỳ đài. Thành Biên Hòa khi đó được xem là công trình kiến trúc quân sự lớn thứ nhì ở Nam Bộ, chỉ sau thành Gia Định. Sau tháng 12 năm 1861, quân Pháp thu gọn phạm vi thành, lấp hào phía đông, dựng doanh trại, biệt thự và nhà thương cho sĩ quan. Năm 2013, di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Vào trong khuôn viên, bạn đi dọc đoạn tường xây bằng đá ong đỏ và gạch thẻ gắn vôi vữa, ghé lô cốt ở góc Đông, rồi đến hai biệt thự. Ngôi phía Tây Bắc có một tầng trệt và hai tầng lầu, mái lợp ngói móc, cửa vòm cuốn gạch; ngôi phía Đông Nam nhỏ hơn, một trệt một lầu, rộng chừng 200 m². Cả hai từng là nơi ở và làm việc của sĩ quan Pháp, nay giữ những ô cửa sổ vòm rộng và dãy hành lang dài có hàng cột.
Điều ít người để ý là lớp đất bên dưới. Đợt khảo sát năm 2012 của các nhà khảo cổ thu được 3.277 tiêu bản trong và ven thành, phần lớn là đồ gia dụng, trong đó có những chiếc cà ràng, tức bếp lò bằng gốm, thuộc truyền thống văn hóa Óc Eo và hậu Óc Eo. Nghĩa là nơi này đã có người ở từ rất lâu trước khi thành được dựng, và các nhà nghiên cứu nói đến bốn, năm lớp văn hóa chồng lên nhau dưới nền thành.
Nên biết trước rằng phần còn lại của thành khá gọn và số hiện vật trưng bày bên trong không nhiều, nên một vòng tham quan thường ngắn. Giờ mở cửa chưa được công bố chính thức; báo chí năm 2020 ghi di tích đón khách miễn phí, và khu vực phía trước thành đang được tính làm quảng trường, nên lối vào có thể thay đổi. Tường đá ong đã gần hai trăm năm tuổi, nên bạn đừng trèo lên hay tì người vào những đoạn gạch đá cũ khi chụp ảnh.
Nơi này hợp với người thích lịch sử đô thị, kiến trúc thời thuộc địa và ảnh kiến trúc, đi kèm một buổi dạo trung tâm Biên Hòa cùng Nhà hội Bình Trước và Quảng trường Sông Phố. Nếu bạn chờ đợi một tòa thành còn đủ hào lũy, cổng lớn và kỳ đài thì thực tế sẽ khiêm tốn hơn hình dung; ghé xem sa bàn Thành cổ Biên Hòa tỷ lệ 1/400 ở Văn miếu Trấn Biên sẽ giúp bạn thấy được quy mô ngày xưa.
Keywords
Heritage spaces
Chùa Ni cổ trên núi Bửu Long, mặt tiền phủ phù điêu ghép sành sứ, cạnh khối đá Long Đầu; một trong ba chùa cổ của Đồng Nai.
Trên sườn núi Bửu Long, cổng tam quan nằm bên đường Huỳnh Văn Nghệ, chùa Bửu Phong là ngôi chùa Phật giáo Bắc tông đang hoạt động, được Thư viện tỉnh Đồng Nai và báo chí xếp vào ba ngôi chùa cổ có niên đại sớm của Đồng Nai, cùng Đại Giác và Long Thiền. Chùa thuộc phường Trấn Biên, nằm trong quần thể danh thắng Bửu Long; phần hồ Long Ẩn và khu vui chơi được giới thiệu ở mục Khu du lịch Bửu Long.
Năm lập chùa không thống nhất. Tương truyền từ đầu thế kỷ 17, nhà sư Bửu Phong đã dựng am tranh ở đây. Thư viện tỉnh Đồng Nai dẫn các nhà nghiên cứu cho rằng chùa có lẽ xây năm 1676, năm này cũng được ghi trên cổng; Báo Thanh Niên năm 2013 ghi năm 1679. Chùa trùng tu nhiều lần, các mốc 1829, 1944, 1963, 1964 được nhiều nguồn ghi, gần nhất là 2009 và 2013. Từ năm 1974 đây là chùa Ni. Ngày 16/9/2013, chùa cùng Khu danh thắng Bửu Long đón nhận quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia.
Thứ nhận ra ngay là mặt tiền chánh điện: bảy cửa vòm, ba cửa giữa cao 3 m, phủ phù điêu ghép mảnh sành sứ với cuốn thư, lân ngậm châu, ông Nhật bà Nguyệt, tứ linh. Thư viện tỉnh nhận xét lối trang trí này các chùa khác ở Đồng Nai không có. Bố cục ban đầu hình chữ Tam gồm chánh điện, giảng đường, nhà thờ Tổ, sau các lần mở rộng thành chữ Đinh. Chùa còn giữ cặp nai sơn son thếp vàng thời Nguyễn, đồ gốm đời Thanh, hoành phi và liễn đối gỗ.
Lối lên truyền thống là 99 bậc đá từ chân núi lên độ cao khoảng 30 m; nay có đường cho xe máy lên tới sân chùa. Bên trái chùa là khối đá Long Đầu, còn gọi Hàm Rồng; bên phải là hang Bạch Hổ và đài Tam Thế Phật xây năm 1964 trên cụm đá chồng. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí đã tả "phía tả có đá long đầu đứng sững, phía hữu có đá thiền sàng la liệt". Khu đá này từng là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng. Quanh chùa có vườn bảo tháp bằng hợp chất, đá ong và giếng nước gắn tên vua Gia Long.
Đừng kỳ vọng một công trình giữ dáng thế kỷ 17: diện mạo hôm nay là kết quả của nhiều lớp trùng tu, khuôn viên có thêm nhiều tượng lộ thiên cỡ lớn. Bậc đá dốc, trời mưa dễ trơn. Giờ mở cửa và quy định tham quan chưa có công bố chính thức; ngày rằm, lễ lớn đông Phật tử.
Đây là nơi tu hành của ni chúng. Ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chánh điện, xin phép trước khi chụp ảnh ni chúng, không leo lên bảo tháp hay các tảng đá thờ. Lễ giỗ Tổ khai sơn ngày 12 tháng 8 âm lịch là lễ của nhà chùa và Phật tử, khách nên đứng xem.
Bửu Phong hợp với người quan tâm chùa cổ Nam Bộ và nghệ thuật ghép sành sứ, dễ ghép cùng Văn miếu Trấn Biên và hồ Long Ẩn trong nửa ngày. Nếu bạn ngại bậc dốc, chùa Long Thiền bên sông Đồng Nai, cũng thuộc nhóm ba chùa cổ, nằm trên đất bằng.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi mộ đá lớn khoảng 2.000 năm tuổi ghép từ sáu tấm hoa cương, phát hiện năm 1927 bên Quốc lộ 56; di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2015.
Cách trung tâm Long Khánh cũ khoảng 8 km về phía nam, bên Quốc lộ 56 hướng đi Bà Rịa, Mộ cự thạch Hàng Gòn là một ngôi mộ đá lớn kiểu dolmen có niên đại khoảng 2.000 năm, nay thuộc phường Hàng Gòn, thành phố Đồng Nai. Người dân quen gọi nơi này là Mả Ông Đá; giới khảo cổ còn gọi là Di chỉ Hàng Gòn 7 hay Mộ Đông Dương. Ngày 23/12/2015, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng khu mộ là di tích quốc gia đặc biệt.
Năm 1927, kỹ sư cầu đường người Pháp Jean Bouchot phát hiện ngôi mộ khi mở con đường từ Xuân Lộc đi Bà Rịa, nay là Quốc lộ 56, trên đất một đồn điền cao su, rồi khai quật từ 14/4 đến 16/5 năm ấy. Năm 1995, người ta phát hiện thêm một khu chế tác đá gần hầm mộ. Các nhà khoa học xác định niên đại di tích trong khoảng 150 năm trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.
Hầm mộ là một khối hộp dài 4,2 m, rộng 2,7 m, cao 1,6 m, ghép từ sáu tấm đá hoa cương bằng hệ thống rãnh ngàm; riêng nắp mộ nặng khoảng 10 tấn. Quanh mộ từng dựng các trụ hoa cương dài hơn 7 m, đầu trụ khoét lõm hình yên ngựa, cùng các trụ sa thạch cao 2,5 đến 3 m. Theo các nhà địa chất được Báo Người Lao Động dẫn, loại hoa cương này không có ở Đồng Nai. Ai dựng mộ, chở đá bằng cách nào và mộ chôn ai vẫn là câu hỏi mở; nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là mộ hỏa táng của một thủ lĩnh.
Hầm mộ nằm sâu khoảng 3 m so với mặt đất, dưới một nhà bao che rộng 46,8 x 30 m. Bạn theo hành lang dốc đi xuống để nhìn tận nơi các phiến đá và những đoạn trụ gãy được xếp trên bậc thềm từ đợt trùng tu năm 1992. Khu di tích rộng 37.120 m² sau đợt tu bổ khởi công năm 2011, còn có khu chế tác, nhà trưng bày, miếu Ông Đá và miếu Thổ thần.
Giờ mở cửa và giá vé chưa có công bố chính thức, dù khu di tích có nhà trực ban, bán vé. Tháng 8/2025, phía trước di tích đang làm mương thoát nước và đường bê tông. Quanh đây ít quán xá, bạn nên tự mang nước uống.
Mộ cự thạch còn là nơi thờ tự của người Hàng Gòn. Vài năm sau đợt khai quật đầu tiên, người dân dựng am thờ "Ông Đá", nay là miếu Ông Đá cách hầm mộ khoảng 10 m. Lễ vía Ông Đá, còn gọi lễ Kỳ yên, diễn ra quanh ngày 12 đến 13 tháng 9 âm lịch, với nghi thức rước Ông Đá từ hầm mộ về miếu rồi hồi về; năm 2025 lễ rơi vào ngày 1/11 dương lịch. Bạn ăn mặc chỉnh tề, không leo hay đứng lên phiến đá, hạn chế chạm tay vì bề mặt đá đã được xử lý hóa chất bảo quản.
Điểm này hợp với người mê khảo cổ, học sinh và gia đình, và dễ ghép với chuyến ăn trái cây ở vườn Long Khánh mùa hè. Muốn xem thêm hiện vật cổ của vùng, Bảo tàng Đồng Nai ở phường Tân Triều đang giữ tượng tê tê đồng Long Giao, món đồ mà Báo Đồng Nai đặt câu hỏi về quan hệ với chủ nhân mộ Hàng Gòn.
Keywords
Heritage spaces
Cụm nhà mái vòm bê tông người Pháp xây năm 1936 cho vùng đồn điền cao su Lộc Ninh
Ở xã Lộc Tấn, giữa vùng cao su Lộc Ninh, có một cụm nhà thấp với những mái vòm bê tông nối nhau uốn lượn như sóng. Đây là Hôpital de Loc Ninh, bệnh viện người Pháp xây năm 1936, mà người trong vùng quen gọi là Nhà thương Làng 5, Bệnh viện Cinqgen hay Bệnh viện Lộc Tấn. Nơi này nay không còn khám chữa bệnh: từ tháng 9 năm 2008, Bệnh viện Lộc Ninh đã chuyển sang cơ sở mới ở địa điểm khác, còn cụm nhà cũ được giữ lại làm di tích.
Bệnh viện ra đời để khám chữa bệnh cho chủ đồn điền, phu cao su và một bộ phận người dân sống trong các đồn điền quanh Lộc Ninh, vào đúng những năm công nhân cao su ở đây đấu tranh đòi quyền lợi sôi nổi. Năm 1972, khi Lộc Ninh được giải phóng, chính quyền cách mạng tiếp quản, đổi tên thành Bệnh viện Lộc Ninh và vận hành theo mô hình quân dân y kết hợp; riêng năm 1973 nơi này còn được gọi là Bệnh viện Bình Phước. Trong những năm từ 1977 đến 1979, bệnh viện là nơi cứu chữa cho thương binh, bệnh binh và cả kiều bào từ Campuchia về lánh nạn.
Thứ đáng nhìn kỹ nhất ở công trình này là kiểu mái. Toàn bộ được xây kiên cố theo lối nhà mái vòm kiểu Pháp: lớp vòm bê tông cách nhiệt tốt nên bên trong mát vào mùa nắng, ấm vào mùa mưa, còn những mái hiên uốn cong làm mềm đi dáng vẻ của khối nhà. Các dãy nhà nhấp nhô, cao thấp khác nhau và không lặp lại một khuôn mẫu nào. Trên tường còn những ô thông gió có họa tiết hoa văn; bên trong là không gian thoáng rộng, chia thành các phòng khám và phòng điều trị nội trú. Sau gần một thế kỷ, hình dạng và cách quy hoạch của bệnh viện hầu như không thay đổi.
Năm 2012, công trình được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước xếp hạng di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh và bắt đầu được trùng tu, tôn tạo. Thông tin công khai gần nhất về việc tu bổ là từ giữa năm 2015, khi di tích vẫn đang được sửa chữa; đến nay không có thông báo chính thức nào về giờ mở cửa hay việc cho khách vào bên trong các dãy nhà. Bạn hãy chuẩn bị cho khả năng chỉ xem được kiến trúc từ bên ngoài, và hỏi Ủy ban nhân dân xã Lộc Tấn nếu muốn vào trong.
Công trình đã phục vụ người bệnh qua nhiều thế hệ và hiện là di tích được bảo vệ, nên xin đừng viết vẽ lên tường hay leo lên các mái vòm để chụp ảnh.
Nơi này hợp với người thích kiến trúc thời thuộc địa, lịch sử vùng cao su và nhiếp ảnh; cổng du lịch của tỉnh trước đây còn giới thiệu đây là điểm chụp ảnh cưới. Nếu bạn đang cần khám chữa bệnh thì đây không phải nơi cần tìm. Đã đến Lộc Tấn, bạn có thể ghép thêm Thành đất hình tròn Lộc Tấn 2 ở cùng xã để có một buổi đi qua hai lớp thời gian rất xa nhau.
Keywords
Nature & seasons
Ba khối đá granodiorit chồng lên nhau cao gần 40 m sát Quốc lộ 20, giữa quần thể hòn Dĩa, núi Đá Voi rộng hơn 8 ha ở xã Định Quán.
Đi Quốc lộ 20 từ ngã ba Dầu Giây lên Đà Lạt, tới khu trung tâm xã Định Quán bạn sẽ gặp ba khối đá khổng lồ xếp chồng lên nhau ngay sát mép đường. Đó là Đá Ba Chồng, cách TP HCM hơn 100 km, phần nổi bật nhất của một quần thể núi đá rộng hơn 8 ha, cao trung bình trên 100 m so với mực nước biển.
Toàn bộ quần thể là đá granodiorit, một loại đá magma cứng. Ba tảng chính cao gần 40 m (có nguồn ghi 36 m tính từ mặt đường), tảng trên cùng chìa ra như sắp đổ, và tên gọi Đá Ba Chồng xuất phát từ hình ảnh này. Phía sau là cụm hòn Dĩa với tảng lớn gác trên một tảng nhỏ hơn nhiều, cao khoảng 43 m. Phía tây nam là núi Đá Voi, còn gọi Bạch Tượng, hai khối đá như đôi voi nằm cạnh nhau; trên đỉnh "voi đực" có tượng Phật Thích Ca nhìn về hướng đông, đặt từ đầu thập niên 1970.
Nơi này còn là một điểm khảo cổ: dưới các mái đá, khe suối và sườn thung lũng đã tìm thấy công cụ của người tiền sử bằng đá, đồng, đất nung. Tương truyền trong các hang đá từng có đôi cọp trắng sinh sống. Theo Báo Đồng Nai, quần thể được xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia năm 1988; một vài bài báo khác ghi năm 1998.
Theo VnExpress (2019), khách thường gửi xe ở khu Trung tâm Văn hóa của huyện Định Quán cũ rồi đi ra phía sau dãy nhà để vào cụm đá. Từ hang Bạch Hổ dưới chân Đá Voi có lối bậc tam cấp len giữa hai tảng đá lên chỗ đặt tượng Phật, từ đó nhìn xuống đồng ruộng và khu dân cư quanh núi.
Cần biết trước: đây chưa phải một khu tham quan có tổ chức. Đá nằm giữa khu dân cư đông đúc, nhà dân xây sát chân đá, chưa có công bố chính thức về giờ mở cửa, vé hay thuyết minh. Xã Định Quán lên kế hoạch giai đoạn 2026-2027 giải phóng mặt bằng, quy hoạch bảo tồn danh thắng, rồi khởi công điểm tham quan Đá Chồng trong 2027-2028, nên lối vào có thể thay đổi.
Một số hòn có vết nứt vỡ; người dân nói chưa từng có tai nạn đá đổ, nhưng bạn không nên leo lên các tảng chênh vênh. Quốc lộ 20 qua đây là tuyến huyết mạch nối TP HCM với Đà Lạt, xe tải và xe khách chạy liên tục, vì vậy hãy dừng xe ở chỗ có lề và đừng đứng dưới lòng đường để chụp ảnh.
Tượng Phật trên đỉnh Đá Voi thuộc chùa Thiện Chơn dưới chân núi; khi lên đó bạn ăn mặc kín đáo và giữ yên lặng. Nhà cửa, vườn rẫy sát các tảng đá là không gian sống của người dân, không tự ý đi vào.
Đá Ba Chồng hợp với người đi Quốc lộ 20 muốn dừng chân ngắn để xem một cảnh quan địa chất lạ, hoặc người thích leo bậc đá ngắm cảnh. Nếu bạn muốn một điểm dừng có câu chuyện lịch sử, Di tích Chiến thắng La Ngà cũng nằm trên Quốc lộ 20 trong xã Định Quán, có nhà truyền thống và tượng đài trên đồi.
Keywords
Heritage spaces
Đền thờ và lăng mộ thầy Cự cùng 16 nghĩa binh Thiên Địa Hội ở Biên Hòa, giỗ mùng 8 tháng 4 âm lịch
Ở phường Tam Hiệp, nơi đường Đoàn Văn Cự gặp đường Phạm Văn Thuận, có một ngôi đền thờ người mà dân Biên Hòa xưa gọi thân mật là thầy Cự. Di tích mang tên ông gồm hai nơi tách nhau: ngôi đền này, và khu lăng mộ nằm bên dòng suối Linh Tuyền, nơi ông Đoàn Văn Cự yên nghỉ cùng 16 nghĩa binh. Người địa phương còn gọi khu mộ bằng một cái tên giản dị: Mộ 17 người.
Ông Đoàn Văn Cự sinh năm 1835 ở Bình An, tỉnh Biên Hòa xưa, trong một gia đình nhà nho. Về sau ông đến ở xã Tam Hiệp, dạy học và bốc thuốc. Chính uy tín của một người thầy khiến bà con các vùng chợ Đồn, Bình Đa, cù lao Phố tìm đến với ông khi ông bí mật tập hợp những người có chí hướng chống Pháp. Tổ chức của ông lấy tên Thiên Địa Hội, hoạt động theo lối hội kín, lập căn cứ ở vùng Bưng Kiệu khi ấy còn rừng rậm, tích trữ lương thực và mở cả lò rèn vũ khí.
Ngày mùng 8 tháng 4 năm Ất Tỵ, tức năm 1905, căn cứ Bưng Kiệu bị quân Pháp tấn công; ông Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh hy sinh. Người dân thương tiếc lập một ngôi mộ chung bên suối, rồi đến năm 1956 dựng đền thờ. Năm 1998, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng mộ và đền thờ là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, theo Quyết định số 722/QĐ-BVHTT ngày 25 tháng 4.
Khu mộ nay được ốp đá đen, phía trước có dòng chữ 'Lăng mộ Quốc Công Đoàn Văn Cự và 16 nghĩa binh', trong đó quốc công là tước hiệu dành cho người có công lao với đất nước. Sau mộ là một gian thờ, trên tường có những hàng chữ như 'Vị quốc vong thân' và 'Sanh vi tướng, tử vi thần'. Đây là chỗ nên đứng lại lâu hơn một chút: mấy chữ ấy nói gọn cách người Biên Hòa nhìn ông, lúc sống là người cầm quân, lúc mất được thờ như thần.
Ngày đông nhất trong năm là mùng 8 tháng 4 âm lịch, ngày giỗ, ngày dương thay đổi theo từng năm. Ban Quý tế thỉnh sắc từ khu lăng mộ, rước diễu hành trên đường Đoàn Văn Cự, rồi dâng hương, dâng hoa và cúng tiên thường. Ngoài lễ giỗ, đền còn có lễ kỳ yên vào ngày 11 và 12 tháng 11 âm lịch. Nếu muốn dự, bạn cứ đứng cùng bà con, nhường lối cho đoàn rước và ban tế, không chen vào khu hành lễ để chụp ảnh.
Ngày thường, đây là một nơi thờ tự của cộng đồng chứ không phải điểm tham quan có quầy vé hay người hướng dẫn, nên chuyến ghé thường ngắn. Đền và mộ không nằm cùng một chỗ, bạn nên hỏi đường người địa phương khi muốn đi cả hai. Khu mộ cùng cổng, tường rào xây đã lâu, vài chỗ bị lún nứt và đang chờ dự án tu bổ. Nơi này hợp với người muốn tìm hiểu phong trào chống Pháp đầu thế kỷ 20 ở Biên Hòa và người quen đi lễ ở các đền miếu Nam Bộ; nếu bạn cần một điểm có trưng bày, thuyết minh đầy đủ thì chưa hợp.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi chùa Nam tông lâu đời của người Khmer vùng Lộc Ninh, vừa là nơi thờ Phật vừa là lớp học chữ Khmer
Ở xã Lộc Hưng, phần đất trước đây là xã Lộc Khánh của huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước cũ, có một khuôn viên rộng viền bởi hàng dầu và những cây thốt nốt, loài cây gắn với đời sống người Khmer Nam Bộ. Đó là chùa Sóc Lớn, ngôi chùa Phật giáo Nam tông mang tên chính cái sóc nơi nó đứng, và được xem là chùa Khmer lâu đời nhất của vùng Bình Phước cũ.
Chùa được khởi công từ năm 1928, đặt đá xây chánh điện năm 1931 và khánh thành năm 1937. Năm 1972, giữa thời chiến, các công trình cũ sập hoàn toàn; bà con dựng một ngôi nhà tranh để giữ việc lễ Phật, đến năm 1997 mới xây được Sa La (giảng đường) bên cạnh nền chùa cũ. Sa La ấy hiện vẫn là nơi cử hành các nghi lễ chính, trong lúc một chánh điện mới với phần mái nhiều tầng đang được dựng từ năm 2016 và dự kiến hoàn thành năm 2028. Nói cách khác, bạn đến một ngôi chùa đang được chính cộng đồng của mình xây lại, chứ không phải một di tích đã đóng khung.
Từ cổng (hai cột vuông trang trí hoa văn Angkor), một lối đi dài chừng 70 mét với hai hàng cột đèn đối xứng dẫn vào trong. Ở các mái hiên, hãy nhìn lên những hình tiên nữ và chim thần Krut nâng mái; dọc hành lang là hình rắn thần Naga. Phía trong có tháp thờ Phật đặt dưới gốc bồ đề, và đối diện là dãy trường học hai tầng xây năm 2010, và đây là nét riêng của chùa Sóc Lớn so với nhiều ngôi chùa khác.
Dãy trường ấy nói lên vai trò thật của nơi này. Hơn 700 hộ Khmer ở ba ấp Sóc Lớn, Chà Đôn, Ba Ven coi chùa là trung tâm sinh hoạt chung; mỗi mùa hè chùa mở lớp dạy tiếng Khmer cho con em trong vùng và lớp tiếng Pali cho chư tăng. Các lễ lớn trong năm đều diễn ra ở đây: Phật Đản, Dolta, dâng y Kathina và Tết Chôl Chnăm Thmây vào các ngày từ 14 đến 16 tháng 4 dương lịch, khi thanh niên trong sóc chơi nhạc ngũ âm, đánh trống sa-dăm và các gia đình mang đến bún nước lèo, bánh tét, bánh ít, bánh gừng. Người Kinh, người S'tiêng, người Tày quanh vùng cũng đến dự.
Vì chánh điện mới còn đang thi công, một phần khuôn viên là công trường và diện mạo chùa sẽ còn thay đổi trong vài năm tới. Trước hết đây là nơi tu học hằng ngày của chư tăng và là lớp học của trẻ em trong sóc, nên hãy ăn mặc kín đáo, đi lại nhẹ nhàng và hỏi nhà chùa trước khi vào khu sinh hoạt hoặc chụp ảnh các sư, các em nhỏ; đi theo đoàn thì nên liên hệ nhà chùa trước.
Chùa Sóc Lớn hợp với người muốn hiểu đời sống của cộng đồng Khmer ở miền Đông Nam Bộ, nhất là vào dịp Chôl Chnăm Thmây. Nếu bạn chỉ tìm một công trình cổ còn nguyên dạng để ngắm kiến trúc, nên biết trước rằng phần lớn hạng mục ở đây được dựng lại từ thập niên 1990 trở đi.
Keywords
Museums
Phòng trưng bày của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai bên hồ Suối Cam, giữ bảo vật quốc gia đàn đá Lộc Hòa, trống đồng và hiện vật khảo cổ.
Nằm trên đường Hồ Xuân Hương, sát bờ hồ Suối Cam ở trung tâm Đồng Xoài cũ, Bảo tàng tỉnh Bình Phước (cũ) nay là các phòng trưng bày của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai tại phường Bình Phước. Theo Quyết định 151/QĐ-UBND ngày 01/7/2025, Bảo tàng tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở hợp nhất Bảo tàng tỉnh Đồng Nai và Bảo tàng tỉnh Bình Phước; Báo Đồng Nai gọi nơi này là Không gian trưng bày văn hóa Bình Phước.
Bảo tàng ra đời cùng năm tái lập tỉnh Bình Phước (1997) nhưng gần hai mươi năm mượn di tích Nhà giao tế ở Lộc Ninh làm trụ sở, nên người dân quen gọi "Bảo tàng Lộc Ninh". Trụ sở bên hồ Suối Cam được Báo Bình Phước ghi là hoàn thành cơ bản năm 2015; đến ngày 10/11/2020, hai phòng trưng bày cố định mới mở cửa đón khách tất cả các ngày.
Hiện vật đáng xem nhất là bộ đàn đá Lộc Hòa, nhạc cụ bằng đá niên đại khoảng 3.000 năm, do một nông dân xã Lộc Hòa (Lộc Ninh) phát hiện trong vườn tiêu tháng 10/1996, được công nhận bảo vật quốc gia ngày 25/12/2017. Bộ đàn đặt trên kệ gỗ trong tủ kính. Gần đó là các trống đồng Lộc Tấn, Thọ Sơn, Long Hưng và phần giới thiệu hệ thống thành đất hình tròn, loại di tích khảo cổ mà Bình Phước cũ đã tìm thấy hơn 70 điểm.
Phòng 1 (156,6 m²) giới thiệu vùng đất, văn hóa và con người Bình Phước; phòng 2 (371 m²) dành cho văn hóa các tộc người như S'tiêng, Khmer, M'nông và các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam. Mỗi hiện vật gắn mã QR để bạn đọc thêm trên điện thoại.
Bạn nên biết trước: không gian trưng bày không lớn. Báo Đồng Nai (7/2025) ghi nơi đây đang trưng bày trên 500 hiện vật, hình ảnh, tư liệu, trong khi kho của bảo tàng được các bài báo ghi từ 12.747 đến hơn 15.000 đơn vị. Khách chủ yếu là đoàn học sinh; ngày cao điểm có hơn 1.000 lượt, nên đi ngày thường nếu muốn xem yên tĩnh. Giá vé chưa có công bố.
Theo thông báo của Bảo tàng tỉnh Đồng Nai tháng 7/2025, phòng trưng bày mở cửa từ thứ Hai đến Chủ nhật, sáng 7h30 đến 11h30, chiều 13h30 đến 16h30. Đoàn đông nên liên hệ trước Phòng Giáo dục - Truyền thông của bảo tàng.
Phần kháng chiến có kỷ vật chiến tranh; phần tộc người trưng bày đồ dùng, nhạc cụ, trang phục của những cộng đồng vẫn đang sống ở vùng này. Không chạm vào hiện vật và không gõ thử đàn đá.
Nơi này hợp với người muốn hiểu nhanh lớp văn hóa tiền sử và các cộng đồng bản địa của Bình Phước trước khi lên Sóc Bom Bo hay các di tích Lộc Ninh, rồi dạo hồ Suối Cam ngay cạnh. Nếu bạn cần một bảo tàng lớn với hơn 40.000 hiện vật, Bảo tàng Đồng Nai ở số 01 Nguyễn Ái Quốc, phường Tân Triều là cơ sở chính.
Keywords
Heritage spaces
Ngọn núi 837 m ở Xuân Lộc, cao thứ hai Đông Nam Bộ sau núi Bà Đen; danh thắng quốc gia, có chùa Gia Lào và đường leo lên đỉnh.
Núi Chứa Chan, người địa phương còn gọi núi Gia Lào hay Gia Ray, nằm ở vùng Xuân Lộc, cách TP.HCM khoảng 110 km, nay thuộc phường Xuân Lộc, thành phố Đồng Nai. Đỉnh cao 837 m; VnExpress và VTC News xếp núi cao thứ hai Đông Nam Bộ, sau núi Bà Đen (986 m). Núi được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng danh lam thắng cảnh quốc gia năm 2012.
Núi gồm ba ngọn nối nhau hình vòng cung trên khoảng 1.400 ha, là nơi bắt nguồn các suối Gia Ui, Gia Miên, Gia Liêu, Gia Lào. Với nhiều người trong vùng, Chứa Chan trước hết là núi chùa: chùa Bửu Quang, quen gọi chùa Gia Lào, dựa vào vách và hốc đá ở độ cao trên 660 m; trên núi còn Lâm Sơn tự và Linh Sơn tự. Về niên đại chùa Gia Lào, VTC News ghi khai sơn đầu thế kỷ XX, còn Báo Pháp luật Việt Nam kể truyền thuyết nền chùa có từ thời Nguyễn.
Núi còn giữ lớp lịch sử khác: dấu tích nhà đá hai phòng thời Pháp trên đỉnh, và Mật khu Hầm Hinh ở triền bắc, nơi lực lượng kháng chiến đóng quân 1946 đến 1948. Điều tra năm 2022 ghi nhận gần 200 cá thể chà vá chân đen trong 7 đàn trên núi.
Có ba cách lên. Leo đường bậc truyền thống hoặc đường mòn theo trạm thông tin trên đỉnh, VnExpress năm 2019 ghi mất khoảng 2 giờ. Hoặc đi cáp treo do một doanh nghiệp vận hành; theo trang của khu cáp treo năm 2026, vé khứ hồi người lớn 200.000 đ, chiều lên 150.000 đ, trẻ em cao 1 m đến 1,4 m 100.000 đ khứ hồi; trẻ dưới 1 m, người trên 80 tuổi và người khuyết tật được miễn vé. Cáp chạy 6h đến 17h từ Chủ nhật đến thứ Năm, còn thứ Sáu, thứ Bảy, ngày 14, rằm, 30, mùng 1 âm lịch, lễ Tết và tháng Giêng thì chạy suốt ngày đêm. Lịch có thể đổi theo thời tiết.
Ngày rằm, mùng 1 và dịp đầu năm, người hành hương lên chùa đông, và cáp treo chạy suốt ngày đêm vào những ngày này. Nếu muốn yên tĩnh, bạn chọn ngày thường giữa tuần.
Leo bộ ở Chứa Chan cần chuẩn bị. Sườn dốc 30 đến 35 độ, nhiều lối mòn và vách đá. Năm 2019 một người leo tự phát lạc 3 ngày 2 đêm, phải huy động hơn 100 người tìm kiếm; năm 2021 một người leo núi được phát hiện tử vong trên đỉnh. Hãy đi theo đường bậc hoặc lối chính, đi theo nhóm, báo người ở nhà lộ trình, theo dõi thời tiết và mang đủ nước.
Trong chùa, ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không chen lấn nơi thắp hương những ngày đông.
Chứa Chan hợp với người muốn leo núi trong ngày từ TP.HCM hay Biên Hòa, và với khách hành hương. Nếu bạn muốn leo núi ít đông hơn và gắn với lịch sử nhà tù, núi Bà Rá ở Phước Long là lựa chọn khác trong thành phố Đồng Nai, nhưng xa hơn và cáp treo chưa rõ còn chạy.
Keywords
Heritage spaces
Hai vòng thành đất và một vòng hào đường kính 365 m của người tiền sử ở Lộc Tấn
Ở xã biên giới Lộc Tấn của vùng Lộc Ninh có một công trình mà đứng dưới mặt đất bạn chỉ thấy những bờ đất cao và một lòng hào trũng. Phải hình dung từ trên cao mới thấy hết hình dạng: hai vòng thành đất chạy song song, ôm lấy một vòng hào, khép thành một hình tròn đường kính 365 mét. Đó là Thành đất hình tròn Lộc Tấn 2, di tích khảo cổ quốc gia.
Thành được phát hiện năm 1999 và khai quật năm 2000. Từ các hiện vật đá, gốm và công cụ lao động như rìu, đục, bàn mài thu được tại đây, các nhà khoa học xác định di tích có niên đại khoảng 2.500 đến 4.000 năm cách ngày nay, thuộc thời kỳ đồ đá mới. Người tiền sử đã đắp các vòng đất cao và đào hào sâu để tạo một nơi cư trú có phòng ngự cho cả cộng đồng. Đây là loại hình di tích riêng của vùng Bình Phước cũ, và Lộc Tấn 2 được ghi nhận là thành rộng nhất, còn nguyên vẹn nhất trong các thành đất hình tròn ở vùng này.
Nếu đi từ ngoài vào, bạn lần lượt qua vòng thành ngoài, xuống hào, rồi lên vòng thành trong. Vòng trong thấp hơn vòng ngoài từ 1 đến 3 mét và cao hơn đáy hào từ 2 đến 3 mét, mặt thành khá phẳng. Hào rộng chừng 25 đến 30 mét, chỗ nông chỗ sâu: có đoạn chỉ thấp hơn bờ ngoài 3,5 mét, có đoạn sâu gần 9 mét, và càng về phía lối ra vào càng sâu. Qua hào là vùng trung tâm gồm ba lớp: một dải đất bằng rộng khoảng 80 mét, kế đó là một vùng trũng hơn khoảng 50 mét, và chính giữa là một gò cao hình bầu dục cỡ 20 nhân 30 mét.
Chi tiết đáng để ý nhất là hai lối ra vào. Chúng nằm đối xứng nhau theo trục Đông Bắc - Tây Nam và đều hướng ra nguồn nước; ở mỗi lối, bờ đất vòng ngoài được đắp thành hai ụ cao phình ra như hình móng ngựa. Lối đi hướng về nguồn nước là chi tiết gợi lại rõ nhất đời sống thường ngày của cộng đồng từng cư trú trong vòng thành.
Đây là một di tích khảo cổ ngoài trời chứ không phải khu tham quan có dịch vụ: giá trị nằm ở địa hình đất đắp, không có công trình xây dựng để ngắm, và chưa có thông tin chính thức về giờ đón khách hay thuyết minh tại chỗ. Vì toàn bộ di tích là đất đắp từ hàng nghìn năm trước, bạn hãy đi theo lối sẵn có, không đào bới, không nhặt mang về bất cứ mảnh đá hay mảnh gốm nào nhìn thấy trên mặt đất.
Nơi này dành cho người thích khảo cổ, lịch sử tiền sử và cho các chuyến học tập thực địa của học sinh, sinh viên. Nếu bạn đi cùng người lớn tuổi hoặc chỉ muốn một điểm dễ xem, dễ hiểu ngay, cụm công trình Bệnh viện Lộc Ninh thời Pháp thuộc cũng ở xã Lộc Tấn hay Nhà Giao tế ở phường Lộc Ninh sẽ nhẹ nhàng hơn.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi nhà vuông trang trí gốm Biên Hòa trên đường 30-4, nơi thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa năm 1945
Trên đường 30-4 ở trung tâm Biên Hòa cũ, gần Quảng trường Sông Phố và đối diện Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai cũ, giữa những dãy nhà hiện đại có một ngôi nhà vuông mái ngói đổ về bốn phía. Đó là Nhà hội Bình Trước. Cái tên giữ lại địa danh Bình Trước, tức tên thôn có từ thế kỷ 19, rồi là xã nội ô của Biên Hòa cho tới năm 1976, trước khi các tên phường mới thay thế.
Nhà hội vốn là công sở của làng: nơi hương chức, hội tề hội họp và làm việc trước năm 1945. Công trình được xây vào khoảng năm 1936 theo chủ trương của tỉnh trưởng Biên Hòa khi ấy, nhưng người trực tiếp làm nên nó là các nghệ nhân Trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa. Vì vậy, dù không phải đình, chùa hay miếu, ngôi nhà lại mang dáng trang nghiêm của đình làng Nam Bộ: mái ngói âm dương xen ngói lưu ly men xanh, bờ mái có gờ chỉ và cặp rồng uốn lượn.
Đứng ở tiền sảnh, bạn nên xem chậm phần gốm. Hai bức phù điêu chạm nổi kể các ngày hội truyền thống của người Việt. Phía trên là dòng chữ Hán tên nhà hội bằng gốm men xanh. Cửa chính có đôi câu đối cũng bằng gốm, và chữ đầu của hai câu ghép lại thành tên Bình Trước. Ba cửa gỗ ở tiền sảnh chạm hoa mai sáu cánh, vốn là tặng phẩm của Trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một thuở ấy; hai bên cửa là cặp lân đá trong tư thế phủ phục.
Ngôi nhà còn là một địa chỉ lịch sử. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Hội nghị cán bộ tỉnh Biên Hòa họp tại đây, có ông Hà Huy Giáp, đại diện Xứ ủy Nam Kỳ, đến dự; hội nghị quyết định thành lập Tỉnh ủy Biên Hòa đầu tiên sau khi giành chính quyền tháng Tám. Năm 1991, nhà hội được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, cùng quyết định với Quảng trường Sông Phố ở cuối đường.
Đây là một công trình nhỏ, chủ yếu để ngắm kiến trúc và phần trang trí, nên thời gian dừng lại không dài. Di tích vừa được tu bổ mái ngói, cổng sắt và tường rào, hoàn thành vào giữa năm 2024. Trước đây nhà hội mở cửa cho khách vào tham quan, chụp ảnh và có năm được dùng làm nơi triển lãm sách báo dịp Tết, nhưng giờ đón khách hiện nay chưa được công bố; nếu cổng đóng, bạn vẫn xem được mặt tiền và mái từ vỉa hè. Khi vào trong, đừng chạm tay lên các mảng phù điêu gốm đã gần chín mươi năm tuổi.
Nơi này hợp với người thích gốm mỹ nghệ Biên Hòa, kiến trúc công sở thời trước và lịch sử địa phương, ghép trong một buổi đi bộ dọc đường 30-4 ra Quảng trường Sông Phố rồi rẽ sang Thành cổ Biên Hòa. Nếu bạn tìm một điểm tham quan có trưng bày và thuyết minh đầy đủ, Văn miếu Trấn Biên cùng phường sẽ đáp ứng tốt hơn.
Keywords
Nature & seasons
Hồ thủy điện hơn 32.000 ha trên sông Đồng Nai, nằm trong vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai; chèo SUP, cắm trại, ngắm hồ mùa cạn.
Hồ Trị An là hồ chứa của nhà máy thủy điện Trị An trên sông Đồng Nai. Đập và nhà máy ở phường Trị An, thành phố Đồng Nai; mặt hồ trải qua vùng Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán cũ, nay bờ hồ thuộc phường Trị An và các xã Thống Nhất, La Ngà, Thanh Sơn, Định Quán. Hồ rộng hơn 32.000 ha, dung tích khoảng 2,7 tỷ m³.
Nhà máy xây từ năm 1984 với sự hỗ trợ của Liên Xô, tổ máy đầu tiên phát điện ngày 30/4/1988, khánh thành năm 1991, gồm 4 tổ máy tổng công suất 400 MW. Dự án mở rộng thêm 200 MW dự kiến phát điện cuối năm 2027. Hồ còn cấp nước cho Đồng Nai, Bình Dương cũ và TP.HCM. Khoảng 32.520 ha mặt hồ thuộc vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, do Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai quản lý. Năm 2024, hồ được xác định là địa điểm tiềm năng phát triển khu du lịch quốc gia, chưa phải khu du lịch quốc gia.
Hồ Trị An không có một cổng chung. Bạn đến từng bến, từng khu ven hồ do hộ dân hay doanh nghiệp làm dịch vụ: chèo SUP, đạp xe, câu cá, thả diều, cắm trại, ăn cá hồ. Theo Tuổi Trẻ, hồ có 76 đảo. Có thể ghép với cung đường tỉnh 767 xuyên rừng của khu bảo tồn.
Mặt nước thay đổi rõ theo mùa. Mùa khô, hồ phải xả nước phát điện, tưới và đẩy mặn nên mực nước hạ thấp; cuối tháng 7/2026 mép nước ở xã Thống Nhất lùi xa bờ gần 1 km, có nơi hơn 2 km, lộ bãi cỏ như ở Bến Nôm, nơi nhiều người cắm trại cuối tuần, nhưng cũng có tảo xanh dạt bờ. Từ tháng 8, mùa mưa, nước dâng lại.
Hạn chế lớn nhất là an toàn. Đầu tháng 4/2023, trong 7 ngày có 3 vụ đuối nước ở khu vực hồ, 4 người chết, 1 người mất tích; báo chí ghi nhận dịch vụ cắm trại, câu cá tự phát nhiều. Mùa mưa, thủy điện có lúc tăng lượng xả qua đập tràn, chính quyền phường Trị An khuyến cáo không đến gần sông, suối, hồ chứa và khu nước chảy xiết. Không tắm hồ ở nơi không có cứu hộ, mặc áo phao khi chèo SUP hay đi thuyền, chọn chỗ cắm trại có người quản lý.
Giá dịch vụ do từng khu, từng hộ đặt, không có bảng giá chung; hỏi rõ trước khi thuê.
Trên hồ có xóm nhà bè khoảng 155 hộ ở Suối Co, xã Định Quán, phần lớn là Việt kiều từ Campuchia sống bằng nghề chài lưới, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Đó là nơi ở của người dân, không phải điểm tham quan; đừng chèo thuyền vào sát nhà hay chụp ảnh khi chưa được đồng ý.
Hồ hợp với nhóm bạn, gia đình muốn cắm trại, chèo SUP một hai ngày gần TP.HCM. Nếu bạn muốn rừng và quan sát thú có hướng dẫn, Vườn quốc gia Cát Tiên cùng Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai có dịch vụ do vườn vận hành.
Keywords
Heritage spaces
Địa đạo dài 1,5 km, sâu 5-7 m dưới rừng Lòng Chảo, căn cứ Huyện ủy Nhơn Trạch thời chống Mỹ; di tích quốc gia từ năm 2001.
Cách trung tâm TP HCM khoảng 40 km về phía đông nam, địa đạo Nhơn Trạch nằm ở khu rừng Lòng Chảo, nay thuộc xã Phước An, thành phố Đồng Nai. Người địa phương còn gọi là địa đạo Phước An, vì thời kháng chiến nơi này thuộc xã Phước An, sau đó mới thuộc xã Long Thọ. Đây từng là căn cứ của Huyện ủy Nhơn Trạch, và được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia ngày 19/1/2001.
Theo Báo Đồng Nai, việc đào địa đạo khởi công ngày 19/5/1963. Khoảng 20 người chia hai tổ thay nhau đào ban đêm bằng cuốc, xẻng; đến cuối năm 1964 đường hầm đã dài 1,5 km, nằm sâu 5-7 m, cao khoảng 1,6-2 m, rộng 1-1,2 m, có giếng nước, bếp Hoàng Cầm, hầm bí mật và chứa được 300-500 người. Từ năm 1972, đây là nơi bám trụ của khoảng 500 cán bộ chiến sĩ Đoàn 10 Rừng Sác.
Điều đáng xem là cách đường hầm được tổ chức. Địa đạo chạy zích zắc, có nhiều ngách rẽ hai bên; giữa các đoạn có ngăn bí mật dày một mét, khoét lỗ vừa một người chui. Lỗ thông hơi hình phễu được ngụy trang như ụ mối đùn. Trên mặt đất, căn cứ Huyện ủy bố trí theo hình tam giác, ba mặt là giao thông hào có ụ chiến đấu.
Khu di tích được trùng tu từ năm 2006, khánh thành năm 2007 trên khoảng 2,5 ha. Bạn thường bắt đầu ở nhà trưng bày với sa bàn, hiện vật của lực lượng đặc công rừng Sác, rồi xuống địa đạo đã được lắp đèn và quạt thông hơi, đi ra giao thông hào và khu lán trại, bếp Hoàng Cầm phục dựng giữa rừng tre.
Phần đi được dưới lòng đất chỉ là một đoạn ngắn: các nguồn ghi khoảng 120 m đến 200 m được nạo vét lại. VnExpress tháng 7/2025 ghi một số lối đi đang tạm ngăn, khách chỉ đi theo đường thẳng. Giờ mở cửa và phí tham quan chưa có công bố chính thức. Khu đất 102 ha sát bên đã được đưa ra đấu giá cuối năm 2025 để làm khu đô thị và công viên, nên cảnh quan xung quanh có thể thay đổi.
Địa đạo thấp và hẹp, nên người cao lớn, người lớn tuổi hoặc sợ không gian kín có thể chỉ xem đoạn đầu rồi quay lên. Mang giày đế bám vì bậc xuống sâu khoảng 7 m.
Khu di tích nằm đối diện đền thờ liệt sĩ; nhiều đoàn khách viếng đền trước khi xuống địa đạo. Hãy ăn mặc lịch sự và giữ trật tự như ở một nơi tưởng niệm.
Địa đạo hợp với gia đình có con tuổi học trò, đoàn trường học và người muốn một chuyến nửa ngày từ TP HCM. Nếu bạn muốn một hệ thống địa đạo quy mô lớn hơn, dịch vụ đầy đủ hơn, địa đạo Củ Chi là lựa chọn quen thuộc; còn ở gần, căn cứ Sở chỉ huy Đặc khu quân sự Rừng Sác cùng vùng Nhơn Trạch cũ kể tiếp câu chuyện đặc công rừng Sác.
Keywords
Heritage spaces
Chùa Một Cột của Biên Hòa, nơi thờ pho tượng đá Vishnu bốn tay của người Chăm giữa chánh điện
Giữa khu dân cư Hòa Bình ở trung tâm Biên Hòa cũ có một ngôi chùa mà người trong vùng gọi bằng hai cái tên chẳng giống tên chữ chút nào: chùa Một Cột và chùa Phật Bốn Tay. Đó là chùa Bửu Sơn, ngôi chùa Bắc tông thuộc tông Lâm Tế, do dân thôn Bình Thành lập từ thế kỷ 18, ban đầu chỉ có vách tre, cột gỗ.
Tên chùa Một Cột đến từ cách dựng chánh điện. Trong hai lần trùng tu lớn năm 1937 và 1965, nhà chùa cho các vì kèo từ nóc quy cả về một cột chịu lực đặt ngay giữa chánh điện rộng chừng 100 m². Khác với chùa Một Cột ở Hà Nội, nơi cây cột nằm bên ngoài đỡ cả ngôi chùa, cây cột ở Bửu Sơn đứng bên trong, xung quanh là hệ thống tượng Phật bày theo lối Bắc tông. Nóc chánh điện hình bát giác; theo nhà chùa, tám cạnh tượng trưng cho tám con đường giải thoát khỏi khổ đau.
Tên chùa Phật Bốn Tay đến từ một pho tượng đá. Ngay ở cột giữa chánh điện, nhà chùa thờ một tượng ngồi cao khoảng 1,5 m, nặng gần một tấn, đó là tượng thần Vishnu do người Chăm tạc vào thế kỷ 15, mặt sau còn khắc chữ Chăm cổ. Năm 1861, người Pháp tìm thấy tượng trong một hốc cây gần chùa; các hương lão trong làng đến xin rước về thờ, và từ đó dân quanh vùng gọi luôn ngôi chùa theo dáng bốn tay của tượng. Pho tượng này được Báo Đồng Nai nhắc tới trong số những hiện vật quý trên đất Đồng Nai. Một tượng thần của cư dân Chăm xưa được người Việt giữ gìn, hương khói giữa chánh điện chùa Phật, và đó là lớp lịch sử ít nơi nào ở Biên Hòa còn thấy rõ như vậy.
Ngoài chánh điện, bạn có thể xem tầng dưới thờ năm vị Thập điện, hai vị Phán quan và Bồ Tát Địa Tạng; am nhỏ ngoài sân thờ tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt trên đài sen; điện nhỏ thờ Bồ Tát Quan Âm đối diện bảo tháp cao 3 m lưu giữ tro cốt các vị trụ trì. Ngẩng lên nóc chùa sẽ thấy tượng voi đứng giữa bốn con hạc.
Bửu Sơn là ngôi chùa đang sinh hoạt của cư dân, khuôn viên chỉ gần 1.000 m² nằm lọt trong khu nhà phố, không phải một điểm tham quan có quầy đón khách hay người thuyết minh, và giờ mở cổng chưa được công bố. Trong chùa có khu gửi tro cốt của người đã khuất, nên hãy ăn mặc kín đáo, nói nhỏ, và hỏi nhà chùa trước khi chụp ảnh tượng trong chánh điện.
Chùa hợp với người quan tâm kiến trúc chùa Nam Bộ và dấu vết văn hóa Chăm ở miền Đông, dễ ghép với Thành cổ Biên Hòa, Nhà hội Bình Trước trong một buổi đi bộ quanh phường Trấn Biên. Nếu bạn muốn một ngôi chùa cổ có cảnh quan núi non rộng rãi để dạo lâu, chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long sẽ hợp hơn.
Keywords
Heritage spaces
Trại lao động đặc biệt thời Pháp dưới chân núi Bà Rá; nay còn bia tưởng niệm và khu miếu Cây Cầy, phường Phước Long đang triển khai phục dựng.
Dưới chân núi Bà Rá, trong khu dân cư các khu phố Bình Giang của phường Phước Long, từng có một nhà tù thời Pháp mang tên "trại lao động đặc biệt Bà Rá". Hôm nay gần như không còn công trình nào của trại; những gì bạn thấy được là bia tưởng niệm, khu miếu Cây Cầy và vị trí các trại do nhà nghiên cứu xác định lại.
Năm lập trại được ghi khác nhau. Hội thảo khoa học về nhà tù Bà Rá tháng 6/2016 dẫn tài liệu của Trung tâm Lưu trữ quốc gia II cho biết trại thành lập ngày 31/7/1940; một bài Báo Bình Phước năm 2014 ghi năm 1925. Từ ngày 10/4/1941, người Pháp đưa thêm nữ tù chính trị lên và chia trại thành ba khu: trại A giam thường phạm, trại B giam nữ tù chính trị, trại C giam nam tù chính trị. Mỗi trại có khoảng 8 đến 10 lán tranh, mỗi lán dài chừng 40 m, rào thép gai bao quanh. Một báo cáo thanh tra tháng 6/1942 ghi trại có 925 tù nhân. Bà Nguyễn Thị Định là một trong những người từng bị giam ở đây.
Năm 1943, mộ phu và tù nhân xin dựng một ngôi miếu nhỏ ở gốc cây Cầy. Cùng thời gian đó, bốn chiến sĩ cách mạng không rõ danh tính bị chôn sống tại nơi này. Sau giải phóng, chính quyền địa phương dựng bia tưởng niệm các chiến sĩ bị tù đày ở Bà Rá giai đoạn 1940-1945 đã hy sinh và chôn cất tại đây; nhà bia được trùng tu năm 2004. Miếu sau đó dời ra sát đường, cách chừng 500 m, chính là miếu Bà Rá ngày nay.
Theo khảo sát năm 2016, trại C nằm quanh khu bia tưởng niệm trước cổng chợ Phước Long kéo đến bến xe; trại B kéo từ bên trái miếu Bà qua sân vận động khu phố Bình Giang I đến vườn cây của bà Ba Định. Muốn xem tư liệu và hiện vật, bạn nên ghé Bảo tàng Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, nơi có không gian trưng bày riêng về nhà tù Bà Rá và Thiếu tướng Nguyễn Thị Định.
Cần nói thẳng: nhà tù chưa được phục dựng, chưa thấy công bố xếp hạng di tích riêng, và giờ mở cửa hay thuyết minh chưa có thông tin chính thức. Năm 2026, phường Phước Long đang triển khai phục dựng khu di tích và làm con đường đi qua khu Cây Khế Bà Định và Nhà tù Bà Rá, nên hiện trạng có thể thay đổi.
Khu Cây Cầy là nơi tưởng niệm và cũng là điểm rước kiệu trong lễ hội miếu Bà Rá đầu tháng 3 âm lịch. Hãy ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng, không ngồi lên bia hay bệ thờ.
Nơi này hợp với người đã leo núi Bà Rá và muốn hiểu thêm lớp lịch sử dưới chân núi. Nếu bạn cần một nhà tù thời chiến đã trùng tu, có nhà trưng bày ngay tại chỗ, Nhà lao Tân Hiệp ở phường Tam Hiệp là lựa chọn rõ ràng hơn.
Keywords
Heritage spaces
Chùa trên cù lao Phố do nhà sư Thành Đẳng dòng Lâm Tế lập năm 1665, gắn với công chúa Ngọc Anh và tượng A Di Đà vua Gia Long cúng.
Chùa Đại Giác nằm ở khu phố Nhị Hòa trên cù lao Phố, phường Trấn Biên, mặt tiền nhìn ra sông Đồng Nai. Người địa phương còn gọi là Đại Giác cổ tự, chùa Phật Lớn hay chùa Tượng. Đây là chùa Phật giáo đang hoạt động và là di tích lịch sử, nghệ thuật cấp quốc gia từ năm 1990.
Theo tài liệu được Báo Đồng Nai và Tạp chí Nghiên cứu Phật học dẫn, chùa do nhà sư Thành Đẳng, đời 34 phái Lâm Tế, cùng những người chèo ghe đến cù lao khẩn hoang dựng năm 1665. Ông là một trong ba nhà sư dòng Lâm Tế từ miền Trung vào Đồng Nai truyền đạo giữa thế kỷ 17.
Tên gọi và hiện vật của chùa gắn với nhà Nguyễn. Khi chúa Nguyễn Ánh gây dựng lực lượng chống Tây Sơn, công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh (có nguồn ghi Ngọc Ánh) từng lánh nạn tại chùa, các báo ghi năm 1779. Năm 1802, vua Gia Long cho xây lại chùa và cúng pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ mít cao 2,25 m, nên chùa có tên chùa Phật Lớn. Năm 1820, thời Minh Mạng, chùa được tu sửa; công chúa gửi cúng bức hoành phi "Đại Giác tự" thếp vàng, khắc dòng "Tiền Triều Hoàng nữ đệ tam công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh", treo trước chánh điện. Báo Đồng Nai (2008) cho biết tấm biển đang treo là bản sao.
Công trình bạn thấy hôm nay phần lớn có từ đợt xây lại sau trận lũ năm Nhâm Thìn 1952: chùa được dựng lại bằng gạch, bê tông, khởi công năm 1959 và khánh thành năm 1961. Bên trong vẫn giữ lối cột tròn cao của chùa xưa vùng Đồng Nai, cùng hoành phi, liễn đối, phù điêu chạm khắc công phu. Khuôn viên khoảng 3.000 m²; giữa sân có cây bồ đề trồng năm 1939 và tượng Quan Âm Nam Hải đứng trên tòa sen. Trong điện, bên cạnh tượng Phật có tượng Quan Thánh Đế Quân, một dấu vết giao thoa Việt, Hoa trên cù lao.
Điều nên biết trước: giá trị của Đại Giác nằm ở lịch sử, pho tượng và hoành phi, không nằm ở kiến trúc gỗ cổ. Giờ mở cửa và quy định đón khách chưa có công bố chính thức; nếu đi theo đoàn, nên liên hệ nhà chùa trước.
Chùa là nơi tu tập của tăng ni. Mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chánh điện, không chạm vào tượng và hoành phi, hỏi nhà chùa trước khi chụp ảnh trong điện. Tránh làm phiền giờ tụng kinh.
Đại Giác hợp với người quan tâm lịch sử Phật giáo xứ Đồng Nai và giai đoạn chúa Nguyễn trên đất Biên Hòa, nhất là khi ghép cùng chùa Ông và đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh trên cùng cù lao. Nếu bạn muốn một ngôi chùa cổ gắn với cảnh núi đá, chùa Bửu Phong trên núi Bửu Long, cũng là di tích quốc gia trong phường Trấn Biên, là lựa chọn khác.
Keywords
Nature & seasons
Tám héc-ta chòi lá, dừa nước và trò chơi sông nước bên dòng Ông Kèo, xã Đại Phước
Qua phà Cát Lái rồi đi tiếp về phía xã Đại Phước, chừng 45 phút lái xe từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh, bạn tới Khu du lịch sinh thái Bò Cạp Vàng ở ấp Phước Khánh. Khu rộng 8 héc-ta, nằm ven sông Ông Kèo với đoạn bờ sông dài cả trăm mét, và là một điểm dã ngoại do doanh nghiệp vận hành đã hoạt động hơn hai mươi năm.
Nơi này khởi đầu từ một cù lao nhỏ mà một nhà giáo mua lại năm 1992, khi ấy chỉ có dừa nước, ao cá và vài căn nhà lá. Cái nền ấy vẫn còn thấy rõ: phần lớn trò chơi ở đây diễn ra ngay trên mặt sông chứ không phải trong hồ nhân tạo. Năm 2023 khu được Công an tỉnh Đồng Nai công nhận là điểm du lịch an toàn về an ninh trật tự; năm 2024 khu vào Top 7 điểm du lịch sinh thái của chương trình Top 7 Ấn tượng Việt Nam do báo Sài Gòn Tiếp Thị tổ chức. Mỗi năm có hơn 140 nghìn lượt khách tìm đến.
Một buổi ở Bò Cạp Vàng thường bắt đầu bằng việc nhận chòi lá ven sông, có sẵn võng và bàn ghế, đã tính trong vé cổng. Từ 8 giờ đến 16 giờ 30 bạn xuống sông: máng trượt đôi lao thẳng xuống nước, cầu nhảy hai tầng, cầu khỉ, phao thăng bằng đều không thu thêm tiền; các trò như cụm phao nổi liên hoàn, xe đạp nước, chèo SUP, thuyền chèo dạo sông tính phí riêng, từ 20.000 đến 100.000 đồng. Trên bờ có đường đua xe địa hình và bãi cỏ rộng cho sinh hoạt tập thể. Bữa trưa thường là gà nướng thố đất, cá lóc nướng trui hay lẩu cá thác lác riêu cua. Cuối tuần khu nhận khách cắm trại qua đêm.
Nên hình dung đúng về nơi này: đây là sông tự nhiên, nước sông chứ không phải nước hồ bơi, và khu nhận cả các đoàn công ty, trường học đến sinh hoạt tập thể, nên cuối tuần và lễ, Tết có thể khá đông. Vé cổng năm 2026 là 80.000 đồng cho người lớn vào ngày thường và 90.000 đồng vào cuối tuần, lễ, Tết, chưa gồm thuế; nhiều trò chơi và việc thuê áo phao tính thêm.
Quy định quan trọng nhất ở đây là áo phao: mọi người xuống nước đều phải mặc, cài đủ ba khóa trước ngực và hai dây giữa chân, áo thuê 20.000 đồng dùng cả ngày. Trẻ dưới 1 m được miễn vé nhưng phải có người lớn đi kèm. Vì cả khu dựa vào dòng sông và rặng dừa nước, bạn đừng để rác rơi xuống nước và dọn chòi trước khi về.
Bò Cạp Vàng hợp với gia đình, nhóm bạn và tập thể muốn một ngày vận động, ăn uống kiểu miệt vườn gần thành phố với chi phí vừa phải. Nếu bạn muốn hồ bơi nước trong và đường trượt quy mô lớn, công viên nước ở Khu du lịch Sơn Tiên sẽ hợp hơn; còn nếu cần yên tĩnh, hãy tránh cuối tuần.
Keywords
Heritage spaces
Đình làng trên cù lao Phố, xưa là Bình Quan võ miếu, nơi Thanh niên Tiền phong tập hợp năm 1945
Ở phía nam cù lao Phố, mảnh đất giữa sông Đồng Nai có tới mười một ngôi đình, sáu ngôi chùa cùng nhiều miếu cổ, có một khu xóm được người xưa ví như ốc đảo, bao quanh bởi rạch Lò Gốm và dòng sông. Đình Bình Quan nằm ở đó, trên chỗ đất cao ráo, lối vào và sân đình rợp những loại cây chịu được vùng đất thấp hay ngập nước.
Đình được dựng từ thế kỷ 19 với tên gọi Bình Quan võ miếu; tấm biển gỗ khắc bốn chữ ấy, làm vào khoảng giữa thế kỷ 19, vẫn còn. Thuở đầu đây chỉ là một ngôi nhà vuông (nhà tứ trụ có cột kèo và mái che, bốn phía để trống), vừa là chỗ thờ thần, vừa là nơi họp dân và, theo lời truyền, kiêm luôn chức năng điếm canh của xóm. Diện mạo hiện nay chủ yếu có từ lần trùng tu năm 1942, khi vách ván được thay bằng tường gạch thẻ, nền tôn cao, mái lợp ngói móc vảy cá nhưng bộ giàn mái cũ được giữ lại; đình còn được tu sửa năm 1989 và từ cuối 2003 đến đầu 2004. Năm 2004, đình được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.
Vào đình, bạn sẽ thấy tiền đình ba gian hai chái; chánh điện thờ Thần Thành hoàng bổn cảnh ở nơi trang trọng nhất, cùng Tả ban, Hữu ban, Tiền hiền, Hậu hiền, Ngũ hành nương nương; Thổ thần được đặt phía ngoài gần cửa, còn Tiên sư thờ phía sau chánh điện. Đình còn giữ hoành phi và binh khí bằng gỗ có từ thời lập đình.
Điều làm đình Bình Quan khác các đình cùng cù lao là phần ký ức năm 1945. Khi chuẩn bị giành chính quyền ở Biên Hòa, đội Thanh niên Tiền phong của Bình Quan lấy sân đình làm nơi sinh hoạt, luyện tập, rồi đi mít tinh ở Quảng trường Sông Phố. Vì vậy đình về sau phối thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và các anh hùng liệt sĩ của khu vực. Mỗi năm đình có hai ngày lễ lớn: lễ Kỳ yên (còn gọi là lễ cầu an) vào 15 và 16 tháng 11 âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm), và lễ dâng hương tưởng niệm ngày 27 tháng 7.
Đây là đình làng do cộng đồng địa phương trông coi, không phải điểm du lịch có giờ mở cửa, thuyết minh hay dịch vụ; ngày thường khá yên ắng. Muốn vào chánh điện, bạn nên hỏi người trông đình, ăn mặc kín đáo và giữ yên lặng, nhất là trước bàn thờ các liệt sĩ.
Đình Bình Quan hợp với người đang đi một vòng các đình, chùa của cù lao Phố và muốn thấy một ngôi đình nhỏ còn giữ dáng nhà vuông cùng câu chuyện của xóm mình. Nếu bạn chỉ có thời gian cho một điểm trên cù lao, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh, chùa Đại Giác hay chùa Ông, ba di tích cấp quốc gia ở đây, sẽ cho bạn nhiều thứ để xem hơn.
Keywords
Heritage spaces
Đình làng Bến Gỗ bên tả ngạn sông Đồng Nai, giữ lối chạm gỗ rồng thân xương cá của cư dân chài lưới
Đình An Hòa nằm bên tả ngạn sông Đồng Nai, trong làng Bến Gỗ, một làng xưa nay thuộc phường Long Hưng. Tiền đình quay mặt ra sông, đúng như cách người Bến Gỗ ngày trước đi lại và làm ăn bằng đường thủy. Với người trong vùng, nhắc tới Bến Gỗ là nhắc tới An Hòa, và ngược lại.
Đình được dựng từ cuối thế kỷ 18 (năm xây được ước đoán là 1792), ban đầu chỉ là một ngôi miếu nhỏ thờ Thành hoàng bổn cảnh, rồi qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1944, 1953, 1994 và 2009 mới có dáng hôm nay. Năm 1989, đình được xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Mặt bằng bố trí theo dạng chữ Công, gồm chánh điện, nhà tiền bối và nhà khách; riêng nhà võ ca dựng tách ra phía trước, đối diện chánh điện, là nơi diễn xướng và múa lân trong các kỳ lễ.
Thứ đáng xem kỹ nhất là gỗ. Bộ khung nhà tứ trụ ghép mộng, mái lợp ngói âm dương và ngói vảy cá, nền lát gạch tàu; bờ nóc gắn gốm men xanh hình rồng chầu mặt trời và cá chép hóa rồng. Trong chánh điện, hoành phi và liễn đối sơn son thếp vàng treo dài theo các hàng cột; đầu kèo, xà ngang, cửa võng chạm cúc, mai, dơi ngậm quả, mây sóng nước, cá vượt long môn. Bạn thử tìm bức lưỡng long triều nhựt được cách điệu: đầu là rồng nhưng thân lại là xương cá đao, một chi tiết các nhà nghiên cứu cho là phản ánh nghề chài lưới của lớp cư dân cũ ở khúc sông này. Đình còn giữ một đạo sắc phong vua Tự Đức ban năm 1852 cho Thần Thành hoàng của làng.
Đình vẫn là nơi sinh hoạt của làng chứ không chỉ là di tích. Rằm tháng 8 âm lịch hằng năm (ngày dương thay đổi theo năm), làng làm lễ Kỳ yên cúng Thành hoàng, quy tụ gần hai nghìn người trong và ngoài làng; cứ ba năm lại có một đại lễ với hát bội và lệ xô giàn. Ngày thường, người trông coi và hương khói là Ban Quý tế cùng ông từ của đình, đều làm công quả.
Bạn nên biết trước là đình không có giờ mở cửa hay quầy đón khách như một điểm du lịch; ngày thường khá vắng, không có thuyết minh và hầu như không có dịch vụ quanh đình. Nếu muốn vào chánh điện, hãy hỏi người trông đình trước. Ăn mặc kín đáo, đi nhẹ, không chạm vào sắc phong, hoành phi, đồ thờ; chụp ảnh bàn thờ thì xin phép.
Nơi này hợp với người thích kiến trúc gỗ đình làng Nam Bộ và muốn thấy một ngôi đình còn nếp sinh hoạt thật, nhất là quanh rằm tháng 8. Nếu bạn chỉ có ít giờ ở trung tâm Biên Hòa và cần một điểm dễ ghé, đình Tân Lân hay các đình trên cù lao Phố sẽ thuận đường hơn.
Keywords
Heritage spaces
Ngọn núi hơn 700 m ở Phước Long, di tích lịch sử – danh thắng quốc gia từ 1995; từ đỉnh nhìn xuống hồ thủy điện Thác Mơ.
Núi Bà Rá đứng giữa phường Phước Long, vùng Bình Phước cũ nay thuộc thành phố Đồng Nai, cách TP.HCM khoảng 160 đến 180 km tùy nguồn. Núi cao khoảng 723 đến 736 m tùy cách đo; từ đỉnh nhìn xuống hồ thủy điện Thác Mơ trên sông Bé. Người S'tiêng gọi núi là Bơnom Brah, nghĩa là núi Thần.
Quần thể núi Bà Rá - Thác Mơ được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích lịch sử và danh thắng quốc gia năm 1995. Giá trị lịch sử nằm dưới chân núi: năm 1925 thực dân Pháp dựng nhà tù Bà Rá, năm 1941 xây thêm trại giam tù chính trị. Trong kháng chiến chống Mỹ, đỉnh núi là căn cứ có sân bay trực thăng; chiến thắng Phước Long ngày 6/1/1975 gắn với vùng đất này.
Có hai cách lên đỉnh. Đi bộ khoảng 1.767 bậc đá từ đồi Bằng Lăng qua rừng trúc, lồ ô; hoặc đi cáp treo khánh thành năm 2010, dài hơn 2.000 m. Tình trạng hoạt động và giá cáp treo hiện nay chưa có công bố chính thức, nên bạn gọi hỏi trước khi đi. Mỗi đầu năm dương lịch, dịp kỷ niệm giải phóng Phước Long, có giải việt dã "Chinh phục đỉnh cao Bà Rá"; lần thứ 31 tổ chức ngày 4/1/2026.
Miếu Bà Rá, tên đầy đủ Linh Sơn Thánh Mẫu, dựng năm 1943, thờ Bà Chúa Xứ cùng Phật và Thiên Hậu. Tài liệu di sản ghi người lao động và tù nhân thời Pháp tìm đến Bà để cầu che chở, và miếu còn tưởng nhớ các chiến sĩ mất trong nhà tù Bà Rá. Lễ hội miếu Bà Rá, từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 3 âm lịch, là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019; lễ rước kiệu đầy đủ ba năm tổ chức một lần. Năm 2026 lễ hội kéo dài từ mùng 1 đến mùng 4 tháng 3 âm lịch, tức 17 đến 20/4.
Hạn chế cần biết: leo bộ gần 1.800 bậc là quãng dài, không hợp người yếu tim, đau khớp; trong khi cáp treo chưa rõ còn chạy. Mùa lễ hội miếu thu hút nhiều người hành hương. Hồ Thác Mơ là hồ chứa thủy điện đang vận hành; mùa mưa nhà máy có thể xả nước qua đập tràn và phát cảnh báo cho vùng hạ du, nên không tắm hồ, không xuống lòng sông phía dưới đập.
Khi vào miếu và đền tưởng niệm liệt sĩ trên đồi Bằng Lăng, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng. Trong ngày lễ chính, nghi thức do Ban quản lý miếu thực hiện; khách đứng ngoài khu hành lễ, không chen vào đoàn rước.
Bà Rá hợp với người thích leo núi trong ngày, người quan tâm lịch sử nhà tù và chiến dịch Phước Long, và khách hành hương dịp tháng 3 âm lịch. Nếu bạn muốn leo núi có hạ tầng đầy đủ hơn, núi Bà Đen ở Tây Ninh có cáp treo đang bán vé công khai trên trang của khu du lịch.
Keywords
Heritage spaces
Danh thắng quốc gia ở Biên Hòa, gồm hồ Long Ẩn hình thành từ khai thác đá, núi Bửu Long, chùa Bửu Phong và khu vui chơi.
Khu du lịch Bửu Long cách trung tâm Biên Hòa cũ khoảng 4 đến 6 km tùy nguồn, nay thuộc phường Trấn Biên, thành phố Đồng Nai. Cổng vào trên đường Huỳnh Văn Nghệ. Đây là một khu vui chơi có bán vé, nhưng nằm trong khu danh thắng Bửu Long được xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1990; vì vậy bạn sẽ gặp chùa cổ và trò chơi cảm giác trong cùng một buổi.
Khu rộng khoảng 84 ha. Phần làm nên cảnh quan là hồ Long Ẩn, hồ hình thành do khai thác đá qua nhiều đời, vách đá dựng quanh mặt nước và một ốc đảo cao khoảng 35 m giữa hồ. Đầu thế kỷ XIX, Trịnh Hoài Đức trong "Gia Định thành thông chí" gọi Bửu Long là "đệ nhất thắng cảnh trấn thành".
Trên núi có chùa Bửu Phong, theo báo chí năm 2013 xây năm 1679 thời chúa Nguyễn, được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2013; chùa giữ cặp nai vàng đời Nguyễn và tượng Phật nằm. Trên núi Long Ẩn có Long Sơn thạch động, còn gọi chùa Hang, lên bằng 88 bậc đá. Ngoài ra còn Thiên Hậu cổ miếu trên một ngọn đồi trong khu.
Một vòng thường gặp: vào cổng, đi quanh hồ Long Ẩn, lên chùa Bửu Phong và chùa Hang, rồi xuống khu trò chơi, công viên khủng long nếu đi cùng trẻ nhỏ. Theo trang của khu du lịch, vé người lớn đã gồm đò qua hồ, các khu chủ đề và một số trò chơi; gói trò chơi cảm giác như tàu lượn, xe điện đụng mua thêm.
Nói thẳng về hạn chế: phần lớn diện tích được khai thác như công viên giải trí, có khu "Trường Thành" dài hơn 400 m, tượng Quan Âm cao 19 m, nên nếu bạn chỉ muốn một danh thắng yên tĩnh thì sẽ thấy lẫn lộn. Dịp Tết và cuối tuần khu tổ chức chương trình biểu diễn, chợ quê, nên đông.
Thông tin thực dụng theo trang chính thức đầu năm 2026: mở 7h đến 17h, nghỉ thứ Ba (trừ ngày lễ, Tết); vé người lớn 150.000 đ, trẻ em cao 1 m đến dưới 1,4 m 60.000 đ, dưới 1 m miễn phí. Báo Đồng Nai tháng 2/2026 cũng ghi giá 150.000 đ. Giá có thể đổi theo mùa và chương trình, nên hỏi lại qua đường dây của khu trước khi đi. Đường lên chùa là bậc đá, nên mang nước và giày đế bám.
Chùa Bửu Phong, chùa Hang và Thiên Hậu cổ miếu là nơi thờ tự đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chính điện, không leo trèo lên tượng hay khu thờ để chụp ảnh.
Bửu Long hợp với gia đình có trẻ nhỏ và nhóm đi trong ngày muốn vừa chơi vừa viếng chùa. Nếu bạn quan tâm di tích hơn trò chơi, Văn miếu Trấn Biên ngay cạnh có không gian tĩnh hơn và gắn với lịch sử khoa cử của vùng đất Trấn Biên.
Keywords
Heritage spaces
Khu tưởng niệm trận Chi khu Đồng Xoài tháng 6/1965 ở phường Bình Phước, có tượng đài khánh thành năm 2007; di tích quốc gia từ năm 2014.
Giữa trung tâm Đồng Xoài cũ, nay là phường Bình Phước, thành phố Đồng Nai, khu di tích Địa điểm Chiến thắng Đồng Xoài ghi dấu trận đánh Chi khu quân sự Đồng Xoài tháng 6/1965. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng nơi đây là di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định 4103/QĐ-BVHTTDL ngày 12/12/2014.
Trận đánh là trận then chốt của Chiến dịch Đồng Xoài, diễn ra từ 10/5 đến 22/7/1965 trên địa bàn các tỉnh Phước Long, Bình Long và phía bắc Bình Dương thời đó. Đêm 9/6/1965 trận đánh mở màn; khoảng 4 giờ sáng 10/6, lực lượng Quân giải phóng làm chủ Chi khu Đồng Xoài; đến ngày 12/6 đợt tiến công kết thúc. Theo Cổng thông tin điện tử Đồng Nai, Trung đoàn 2, lực lượng chủ công, có 134 cán bộ, chiến sĩ hy sinh và 290 người bị thương. Sau trận này, trung đoàn được mang phiên hiệu Đoàn Đồng Xoài.
Tượng đài chiến thắng do tỉnh Bình Phước (cũ) quyết định xây nhân dịp 40 năm chiến thắng và khánh thành ngày 26/12/2007 sau hai năm thi công. Cả quần thể rộng gần 17.000 m², gồm tượng đài, phù điêu, tượng ba chiến sĩ, nhà trưng bày cùng quầy lưu niệm, cây xanh và ghế đá.
Bạn có thể bắt đầu ở quảng trường trước tượng đài, đi quanh các mảng phù điêu rồi vào nhà trưng bày, còn được gọi là nhà truyền thống, nơi lưu kỷ vật và là chỗ các đoàn dâng hương. Theo Báo Đồng Nai (9/2026), cán bộ của phường Bình Phước có giới thiệu di tích cho các đoàn đến tìm hiểu.
Nói thẳng, đây là một khu tưởng niệm trong đô thị, phần xem chủ yếu là tượng đài, phù điêu và một nhà trưng bày nhỏ, nên chuyến ghé thường không dài. Giờ mở nhà trưng bày, phí tham quan và lịch thuyết minh chưa có công bố chính thức. Vào các dịp 9/6, 27/7, 2/9 thường có lễ dâng hương của chính quyền và cựu chiến binh, khu tượng đài có thể đông.
Đây là nơi tưởng niệm những người đã hy sinh. Hãy ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng trong nhà truyền thống, không leo lên bệ tượng và hỏi trước khi chụp các đoàn đang làm lễ.
Di tích hợp với người tìm hiểu lịch sử kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ, đoàn học sinh và cựu chiến binh, dễ ghép với Bảo tàng tỉnh Bình Phước (cũ) và hồ Suối Cam cùng phường. Lịch trình mẫu của ngành du lịch Bình Phước cũ lấy tượng đài làm điểm xuất phát đi Chốt chặn Tàu Ô hoặc Sóc Bom Bo, Thác Đứng. Nếu bạn muốn một căn cứ kháng chiến giữa rừng thay vì khu tưởng niệm trong phố, Căn cứ Bộ Chỉ huy Miền Tà Thiết là lựa chọn khác.
Keywords
Heritage spaces
Tổ đình Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam bên Quốc lộ 51, lập năm 1974 trên đất cúng dường ở Phước Thái; chánh điện giữa hai hàng dương.
Nằm bên Quốc lộ 51, khoảng cây số 76-77, cách Biên Hòa chừng 44 km, Thiền viện Thường Chiếu ở xã Phước Thái, thành phố Đồng Nai là tổ đình của Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam. Đây là nơi tu học đang hoạt động của hơn một trăm vị tăng, không phải một điểm du lịch.
Thiền viện mang tên Thiền sư Thường Chiếu đời Lý, người từ quan xuất gia và có môn phong được coi là dòng chảy dẫn tới Thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần. Theo trang giới thiệu của thiền viện, khoảng năm 1973-1974, hai Phật tử chủ chùa Linh Quang ở Cát Lở cúng dường 52 mẫu đất ở Phước Thái để vị hòa thượng khai sơn, nay là Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, lập thiền trang. Tháng 10/1974, ngôi chùa đầu tiên là căn nhà lá vách đất dựng cạnh một cây bồ đề.
Điều làm Thường Chiếu khác các chùa quanh vùng là nếp sống. Từ năm 1975, thiền viện áp dụng thanh quy Bách Trượng, "một ngày không làm, một ngày không ăn": tăng chúng vừa tu thiền, vừa học, vừa tự làm ruộng rẫy. Chánh điện khánh thành ngày 15/4/1986, tổ đường đại trùng tu năm 1998.
Từ cổng tam quan, bạn đi trên lối đá thẳng giữa vườn điều cổ thụ, rồi tới chánh điện nằm giữa hai hàng dương cao. Chánh điện chỉ thờ một tượng Phật tay cầm hoa sen, gợi tích niêm hoa vi tiếu; hai bên là cặp độc bình gốm cẩn xà cừ cao 3,5 m, cửa gỗ chạm tứ linh. Trước chánh điện có lầu chuông, lầu trống; hai bên là tăng đường, thư viện; phía sau là tổ đình.
Cần biết trước: phía trong còn khu thiền thất, tăng thất, nội viện và ngoại viện, nơi khoảng 200 thất dành cho tăng ni tu tập, kể cả các vị lớn tuổi. Đó là chỗ ở và tu của người xuất gia, không phải khu tham quan. Giờ mở cửa cho khách và quy định tham quan chưa có công bố chính thức.
Ngày đông nhất là giỗ Tổ 19-20 tháng 12 âm lịch, khi hàng ngàn tăng ni, Phật tử về dự lễ; mỗi năm sau mùa an cư, Thiền phái cũng vân tập về đây khánh tuế vị Tông chủ. Đó là sinh hoạt của tông môn, khách nên tránh chen vào khu hành lễ.
Hãy mặc kín vai và gối, nói nhỏ, tắt chuông điện thoại, hỏi trước khi chụp ảnh tăng ni. Không bước vào các thất, không tự ý vào thiền đường khi đang có thời khóa.
Thường Chiếu hợp với người tìm hiểu Thiền tông Việt Nam, Phật tử muốn lễ Phật ở tổ đình, hoặc người đi Quốc lộ 51 muốn dừng chân nơi yên tĩnh. Nếu bạn muốn một thiền viện Trúc Lâm mở rộng cho du khách với cảnh hồ núi, Thiền viện Trúc Lâm ở Đà Lạt quen thuộc hơn.
Keywords
Heritage spaces
Nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của ngành cao su, giữa rừng cao su xã Thuận Lợi
Giữa vùng cao su của xã Thuận Lợi, ở ấp Làng 3, có một tượng đài cao 10 mét. Người trong vùng và công nhân cao su gọi nơi này là Phú Riềng Đỏ; trong hồ sơ di tích quốc gia, tên của nó là Địa điểm thành lập Chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng ở Phú Riềng.
Câu chuyện bắt đầu từ đồn điền cao su Phú Riềng của Công ty Michelin thời thuộc địa, nơi phu mộ từ miền Bắc và miền Trung làm việc trong chế độ lao động hà khắc. Năm 1928, Nguyễn Xuân Cừ được cử vào đây “vô sản hóa”, cùng Trần Tử Bình và một số người khác gây dựng tổ chức trong công nhân. Đêm 28 tháng 10 năm 1929, bên bờ suối Làng 3, chi bộ được thành lập do Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư; đây là chi bộ Đảng đầu tiên của vùng đất Bình Phước cũ và cũng là chi bộ đầu tiên của ngành cao su Việt Nam. Chỉ ba tháng sau, từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 6 tháng 2 năm 1930, khoảng 5.000 công nhân đồn điền bãi công suốt tám ngày, bắt đầu đúng mùng 1 Tết Canh Ngọ; cái tên “Phú Riềng Đỏ” ra đời từ đó, và phong trào lan sang các đồn điền Dầu Tiếng, Quản Lợi, Lộc Ninh.
Điều đáng để ý là ai giữ gìn nơi này. Đài tưởng niệm đầu tiên do Công ty Cao su Đồng Phú (đơn vị kế tục đồn điền Phú Riềng) dựng năm 1985; đến dịp 90 năm thành lập chi bộ (2019), ngành cao su tôn tạo lại và mở rộng khuôn viên lên 0,8 héc-ta. Ngày 28 tháng 10 hằng năm cũng là ngày truyền thống của ngành cao su Việt Nam, nên với người làm nghề cao su, đây không chỉ là một di tích mà còn là nơi bắt đầu truyền thống của ngành mình. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia ngày 12 tháng 2 năm 1999.
Khách đến thường dâng hương trước tượng đài và dành ít phút trong khuôn viên. Quanh ngày 28 tháng 10 và các dịp lễ lớn, cán bộ, công nhân ngành cao su và người dân xã Thuận Lợi về đây làm lễ dâng hương.
Phần đã hoàn chỉnh của khu di tích là tượng đài và khuôn viên; nhà trưng bày truyền thống và khu đón khách mới nằm trong bản quy hoạch tu bổ mà xã Thuận Lợi đang lập, nên diện mạo nơi này sẽ còn thay đổi. Khi có đoàn đang làm lễ dâng hương, hãy giữ yên lặng và ăn mặc chỉnh tề như ở mọi nơi tưởng niệm.
Nơi này hợp với người quan tâm lịch sử phong trào công nhân và ngành cao su, với các đoàn về nguồn, và với ai muốn hiểu vì sao vùng đất đỏ này gắn chặt với cây cao su. Nếu chỉ có ít thời gian và muốn một điểm nhiều hoạt động, chuyến ghé ở đây sẽ ngắn; có thể ghép với hồ Suối Lam cùng xã.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi đình hơn 200 năm bên sông Đồng Nai, giữ tên làng cổ Phước Lư qua những bao lam chạm gỗ
Ở khu vực Mũi Tàu của Biên Hòa, nay thuộc phường Trấn Biên, đình Phước Lư quay mặt ra sông Đồng Nai, còn hậu đình giáp đường Cách Mạng Tháng Tám. Cái tên Phước Lư đã không còn trên bản đồ hành chính, nhưng ngôi đình thì vẫn mang tên ngôi làng cổ từng là lỵ sở của trấn Biên Hòa xưa, và là nơi người trong vùng thờ Thần Thành hoàng suốt hơn hai trăm năm.
Điều khiến đình Phước Lư khác nhiều đình làng khác nằm ở bên trong. Hương án, bao lam, hoành phi, liễn đối đều bằng gỗ, do thợ chạm xứ Biên Hòa làm theo lối chạm lộng, nổi khối. Đề tài rất rộng: lưỡng long, tứ linh, chữ Hán, tượng người, tượng thú. Có bao lam khắc Thất thập nhị hiền, tức bảy mươi hai học trò tiêu biểu của Nho giáo; có mảng lấy điển tích Đạo giáo như Bát tiên, Nhị thập bát tú. Bốn mặt hương án chính lại chạm chuyện Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi.
Hãy nhìn kỹ những con vật trên bao lam. Bên cạnh hươu, nai, khỉ, chim sẻ, thỏ, người thợ còn chạm cả cá nược, tức cá heo, như một cách ghi lại thiên nhiên Đồng Nai thuở trước. Nhiều hoành phi, liễn đối và bảng chữ thờ ở đây có niên đại 1912, 1915, 1930, đã được bảo quản, sơn son thếp vàng lại. Nếu không đọc được chữ Hán, bạn vẫn hiểu được nội dung: Ban Quý tế đã cho phiên âm các câu đối ra chữ quốc ngữ và đặt bản nhỏ ngay cạnh bản gốc, chính là để lớp trẻ đến đình đọc được.
Mỗi năm đình mở lệ Kỳ yên vào ngày 16 và 17 tháng 11 âm lịch, ngày dương thay đổi theo năm, cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đình được xếp hạng di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh từ tháng 11 năm 2020.
Đình Phước Lư là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cư dân quanh vùng chứ không phải điểm tham quan có tổ chức dịch vụ: chưa có khung giờ đón khách, giá vé hay thuyết minh nào được công bố, đình cũng nằm trong kế hoạch tu bổ của tỉnh vào năm 2028 và Ban Quý tế đã xin sửa trước vài hạng mục, nên có thể bạn đến đúng lúc đình đang sửa chữa. Bạn nên hỏi người trông coi trước khi vào chánh điện và trước khi chụp ảnh bàn thờ, ăn mặc kín đáo, không chạm tay vào các mảng chạm và hiện vật đã hơn trăm năm tuổi.
Nơi này hợp với người mê chạm khắc gỗ và muốn tìm dấu vết Biên Hòa xưa giữa khu trung tâm, tiện ghép cùng đình Tân Lân và Văn miếu Trấn Biên trong cùng phường. Nếu bạn cần một điểm có hướng dẫn viên và nhiều hoạt động, hãy chọn nơi khác.
Keywords
Heritage spaces
Tượng đài ba chiến sĩ ở ngã ba cầu Đắk Lung, ghi dấu ngày 6-1-1975 của Phước Long
Ngay ngã ba cầu Đắk Lung ở trung tâm phường Phước Long, trước Bảo tàng Đường 14 - Phước Long, có một khoảng không gian rộng với tượng đài mang dòng chữ “Phước Long chiến thắng 6-1-1975”. Tượng hướng nhìn lên núi Bà Rá, bên cạnh là dòng sông Bé; với người Phước Long, đây là cột mốc quen thuộc của thị xã cũ.
Ngày khắc trên tượng là ngày kết thúc Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, diễn ra từ 13-12-1974 đến 6-1-1975, khi toàn tỉnh Phước Long được giải phóng. Trong lịch sử, chiến dịch này được gọi là “đòn trinh sát chiến lược”, góp phần củng cố quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975.
Tác giả tượng đài là nhà điêu khắc Đinh Rú, người Chăm, quê ở Ninh Thuận cũ. Điều ít người biết là suốt nhiều năm, không ai nhớ chắc tượng được dựng khi nào: công trình làm trong điều kiện khó khăn, kéo dài, tư liệu về việc thi công và khánh thành hầu như thất lạc. Phải đến dịp 50 năm ngày giải phóng Phước Long, qua những tấm ảnh chụp lễ kỷ niệm lần thứ 10 năm 1985 và lời kể của người đương thời, các mốc mới được xác định lại: tượng bắt đầu làm từ năm 1980 và hoàn thành năm 1985.
Đứng trước tượng, bạn có thể đọc công trình từ trên xuống. Trên cùng là nhóm ba nhân vật, hai nam một nữ, là những chiến sĩ giải phóng kề vai tiến về phía trước; cả tượng cao hơn 5 m. Bên dưới là khối đá cao gần 1 m mang dòng chữ tên tượng đài, rồi đến khối chân tượng cao 1,68 m khắc nổi, nhũ vàng hình các chiến sĩ và những cô gái người dân tộc thiểu số, biểu trưng cho tình đoàn kết quân dân. Tất cả đặt trên nền bệ tròn lát gạch đường kính khoảng 5 m, có bậc tam cấp bước lên.
Đây là một điểm dừng ngắn, không phải nơi tham quan nhiều giờ: tượng đài đứng ngoài trời ở khu trung tâm, xe cộ qua lại quanh ngã ba. Nên ghép với Bảo tàng Đường 14 - Phước Long ngay bên cạnh để hiểu bối cảnh, rồi đi tiếp lên núi Bà Rá. Hằng năm, lễ khai mạc Giải việt dã leo núi toàn quốc “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” cũng được tổ chức ngay tại đây.
Tượng đài là công trình tưởng niệm của địa phương, nên hãy giữ thái độ trang nghiêm, không trèo lên bệ và phần phù điêu khi chụp ảnh. Nơi này hợp với người quan tâm lịch sử và đang trên đường qua Phước Long; nếu bạn chỉ có ít thời gian và ưu tiên cảnh thiên nhiên, có thể dừng vài phút ở đây trước khi dành phần lớn buổi cho núi Bà Rá.
Keywords
Heritage spaces
Sóc của người S'tiêng từng giã gạo nuôi quân năm 1965, cảm hứng cho bài hát "Tiếng chày trên sóc Bom Bo"; di tích quốc gia từ 2025.
Sóc Bom Bo là một làng của người S'tiêng ở xã Bom Bo, vùng Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước cũ, nay thuộc thành phố Đồng Nai. Đường vào sóc rẽ từ ngã ba Minh Hưng trên Quốc lộ 14 theo đường tỉnh 760. Cái tên này quen với nhiều người Việt qua bài hát "Tiếng chày trên sóc Bom Bo" của nhạc sĩ Xuân Hồng, viết năm 1965.
Bài hát kể chuyện có thật. Năm 1963, không chịu vào ấp chiến lược, hơn 100 người trong sóc ban đêm vượt suối vào căn cứ Nửa Lon cạnh suối Đăk Nhau lập sóc mới. Từ năm 1965, sóc là hậu phương trực tiếp của chiến trường Phước Long - Đồng Xoài: ban ngày lên rẫy, ban đêm giã gạo nuôi quân, có đợt 3 ngày đêm giã được 5 tấn gạo. Năm 1989 bà con trở về lập lại sóc ở chốn cũ. Ngày 9/9/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử Sóc Bom Bo là di tích quốc gia; trước đó ít tháng, tập quán giã gạo bằng chày tay của người S'tiêng và M'nông được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nơi khách thường đến là Khu Bảo tồn văn hóa dân tộc S'tiêng, gồm nhà đón tiếp, nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà nghỉ, nơi trưng bày cồng chiêng, đàn đá và sân lễ hội. Ở đây có tái hiện cảnh giã gạo nuôi quân, trình diễn cồng chiêng, và phục dựng lễ hội kết bạn cộng đồng. Theo báo chí năm 2026, di tích lưu giữ hơn 100 hiện vật như hoa tai ngà voi, vòng đồng, cồng chiêng; ba nghề đan lát, dệt thổ cẩm, ủ rượu cần vẫn có khoảng 40 người làm và truyền dạy.
Cần nói thẳng: phần lớn những gì bạn xem là trình diễn và phục dựng cho khách, không phải sinh hoạt thường ngày. Lịch trình diễn, giờ mở cửa và giá vé chưa có công bố chính thức, nên bạn hỏi chính quyền xã hoặc ngành văn hóa địa phương trước khi đi, nhất là nếu muốn xem giã gạo hay cồng chiêng.
Sóc Bom Bo là nơi đồng bào đang sống, không phải khu trưng bày. Xin phép trước khi chụp ảnh người dân hay bước vào nhà, không tự ý đánh cồng chiêng hay chạm vào hiện vật. Lễ hội phục dựng cho khách khác với nghi lễ riêng của gia đình, dòng họ; khi không được mời thì không tham dự.
Điểm này hợp với người muốn hiểu lịch sử kháng chiến ở miền Đông Nam Bộ qua một cộng đồng cụ thể, và với các đoàn học sinh, cựu chiến binh. Nếu bạn chỉ tìm cảnh quan thiên nhiên, Vườn quốc gia Bù Gia Mập cùng vùng Bình Phước cũ có rừng và tuyến đi bộ, lại có nhà dài S'tiêng ở khu hành chính của vườn.
Keywords
Heritage spaces
Ngôi mộ hình kim tự tháp cụt của lãnh binh Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh, cách quốc lộ 51 chừng 300 m
Quốc lộ 51 nối Biên Hòa với Bà Rịa - Vũng Tàu; ở đoạn qua xã Long Phước, chỉ cần rẽ vào khoảng 300 mét là tới một khu di tích nằm giữa vườn cây trái và cánh đồng, có dòng Suối Cả chảy bên. Giữa khu ấy là một ngôi mộ xây kiên cố theo dáng kim tự tháp cụt: nơi yên nghỉ của lãnh binh Nguyễn Đức Ứng cùng 27 nghĩa binh.
Nguyễn Đức Ứng là một vị lãnh binh thời Nguyễn. Cuối năm 1861, sau khi thành Biên Hòa không giữ được vào ngày 16 tháng 12, ông chỉ huy đoàn quân lập tuyến phòng thủ Ký Giang - Long Thành, liên lạc với nghĩa quân Long Thành để ngăn bước tiến của quân Pháp từ Biên Hòa xuống Bà Rịa. Tại lũy Ký Giang, tuyến phòng thủ bị phá vỡ; ông và 27 nghĩa binh hy sinh. Theo lời truyền tụng của người địa phương, dân Long Thành đã an táng tất cả trong cùng một ngôi mộ đất.
Điều khiến nơi này khác một lăng mộ thông thường là cách người dân giữ nó. Họ tôn Nguyễn Đức Ứng làm phúc thần của làng, hằng năm góp công góp của làm lễ tế. Năm 1936, một người trong tộc họ Nguyễn của vị lãnh binh tìm đến và xây lại ngôi mộ bằng kiến trúc còn thấy hôm nay. Năm 1994, Mộ Nguyễn Đức Ứng và 27 nghĩa binh chống Pháp được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định số 2754/QĐ/BT ngày 15 tháng 10. Đợt tôn tạo khởi công tháng 7 năm 2010, do các doanh nghiệp tài trợ hơn 18 tỷ đồng, đã thêm đền thờ, nhà bia, nhà khách, chỉnh trang khu mộ và làm hồ nước phía ngoài.
Đến đây, bạn thắp hương ở đền thờ, đi quanh khu mộ và nhà bia. Từ tháng 8 năm 2024, di tích có mã QR: quét bằng điện thoại có kết nối mạng là xem được thông tin, hình ảnh và nghe lời thuyết minh, khá tiện khi bạn đến vào ngày thường. Ngày đáng chú ý nhất trong năm là 27 tháng 11 âm lịch, khi xã Long Phước tổ chức lễ kỷ niệm ngày mất của vị lãnh binh và các nghĩa binh; ngày dương thay đổi theo năm, lần gần nhất lễ diễn ra buổi sáng 15 tháng 1 năm 2026.
Các nguồn chính thống chưa công bố giờ đón khách hay mức vé, và nội dung tại chỗ chủ yếu là khu mộ, đền thờ và nhà bia, nên một lần ghé thường gọn. Đây là nơi thờ tự, bạn nên ăn mặc chỉnh tề và giữ yên lặng ở khu mộ và đền. Nơi này hợp để dừng chân trên đường xuôi quốc lộ 51 nếu bạn quan tâm đến những năm đầu chống Pháp ở Biên Hòa - Long Thành; nếu bạn mong một điểm có nhiều hoạt động thì nên chọn nơi khác.
Keywords
Community villages
Làng người Mạ, S'tiêng, Tày ở vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên, nơi tổ hợp tác cộng đồng đón khách học dệt thổ cẩm, đan lát, đi rừng cùng người địa phương.
Tà Lài nằm ở vùng đệm Vườn quốc gia Cát Tiên, giữa những cánh đồng lúa có hàng trăm cây dầu mọc xen; từ làng đạp xe khoảng 10 km là tới Vườn quốc gia. Ở ấp 4 xã Tà Lài có làng của người Mạ (Châu Mạ), sống cùng người S'tiêng và người Tày; đây là nơi hình thành mô hình du lịch cộng đồng do chính người bản địa làm.
Câu chuyện bắt đầu từ Nhà Dài Tà Lài, theo VnExpress là dự án du lịch sinh thái cộng đồng đầu tiên của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tại Việt Nam. Nhà dài dựng trên một đồi nhỏ, bên dưới là đập thủy lợi Vàm Hô, sát rừng Cát Tiên, mô phỏng nếp sinh hoạt của người Mạ. Người trong làng làm hướng dẫn viên rừng, nấu ăn, đón khách.
Tháng 3/2024, một nhóm người trong làng lập Tổ hợp tác du lịch cộng đồng Tà Lài với sản phẩm Tà Lài Eco Lodge. Năm 2025, dự án được nêu tên trong Giải thưởng Du lịch có trách nhiệm Đông Nam Á 2025 của ICRT, ở mức "One to Watch", hạng mục tăng cường nguồn cung địa phương. Đây là mức ghi nhận dành cho dự án còn mới, ban giám khảo muốn xem thêm bằng chứng tác động. Theo Báo Đồng Nai, dự án tạo việc làm cho 30 người và đã đón hơn 1.000 lượt khách.
Đến Tà Lài, bạn có thể ở nhà sàn phục dựng bằng tre, mây, đi bộ trong rừng cùng người dẫn địa phương, xem và học dệt thổ cẩm, đan rổ tre, làm túi từ lá dứa, dự buổi biểu diễn văn hóa do thanh thiếu niên trong làng dẫn, hoặc tham gia ngày chủ nhật xanh nhặt rác. Bữa ăn có cơm lam, canh bùi, lá nhíp, rượu cần.
Hạn chế cần biết: sau Covid-19, nhiều hạng mục xuống cấp, dịch vụ trải nghiệm còn ít và khách đến theo mùa. Số người giỏi nghề dệt, đan trong làng giảm từ gần 50 người năm 2020 xuống hơn 10 người năm 2025. Dịch vụ quanh Tà Lài chưa nhiều, nên đi xe riêng. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11 trong rừng có nhiều vắt, cần áo mưa, quần áo kín.
Tà Lài là nơi các gia đình đang sống. Hỏi trước khi chụp người, nhất là người già và trẻ em; mua đồ thủ công trực tiếp từ người làm; không tự vào rừng khi không có người dẫn.
Tà Lài hợp với gia đình, đoàn học sinh, người muốn ở lại vài ngày học nghề và đi rừng cùng người bản địa. Nếu bạn chỉ có một ngày và muốn xem rừng, Vườn quốc gia Cát Tiên ngay bên cạnh có tuyến tham quan và dịch vụ do ban quản lý vườn tổ chức.
Keywords
Heritage spaces
Di tích quốc gia bên Quốc lộ 13, nơi tưởng niệm 150 ngày đêm giữ chốt của Sư đoàn 7 năm 1972
Quốc lộ 13 đoạn giữa Chơn Thành và An Lộc băng qua một con suối tên là Tàu Ô, thuộc phường Tân Khai. Tên con suối ấy nay là tên một di tích lịch sử quốc gia, tức Địa điểm chiến thắng Chốt chặn Tàu Ô, với nhà bia và tượng đài tưởng niệm cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 7 cùng quân dân địa phương trong Chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972.
Năm ấy, Sư đoàn 7 được giao lập tuyến chốt trên đường 13 ở phía Nam và phía Bắc thị xã An Lộc, và Tàu Ô là chốt chính trên tuyến đường bộ từ Sài Gòn lên. Tuyến chốt kéo dài gần 20 km, trọng điểm là đoạn Tàu Ô - Xóm Ruộng. Những người lính dựa vào hệ thống công sự, hầm chữ A, hầm chữ L tự đào để giữ trận địa suốt 150 ngày đêm, từ ngày 5 tháng 4 đến ngày 28 tháng 8 năm 1972, với lời tự dặn “Chốt cứng, chặn đứng, giữ vững trận địa dài ngày”.
Công trình bạn thấy hôm nay được dựng năm 2009 trên khuôn viên 11.451,7 mét vuông, do chính Sư đoàn 7 đứng ra tổ chức xây dựng với sự góp sức của các địa phương miền Đông Nam Bộ và Ban liên lạc cựu chiến binh của sư đoàn. Ngày 29 tháng 3 năm 2012, nơi đây được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Từ đó khu di tích được chỉnh trang, trồng thêm cây xanh, có khuôn viên dâng hương và một khu trưng bày tư liệu.
Một chuyến ghé thường gồm thắp hương ở nhà bia, đứng trước tượng đài và xem phần tư liệu trưng bày. Điều làm nơi này khác một tượng đài bên đường là những người vẫn quay lại: các đoàn cựu chiến binh Sư đoàn 7 về thắp hương cho đồng đội, và đoàn viên trong phường thường tổ chức sinh hoạt truyền thống, chăm sóc khuôn viên bia tưởng niệm.
Đây là không gian tưởng niệm ngoài trời quy mô vừa, phần trưng bày còn gọn; phường Tân Khai cho biết đang lên kế hoạch sơn sửa, cải tạo khuôn viên và sưu tầm thêm hiện vật, nên hiện trạng có thể khác đi trong thời gian tới. Vì là nơi tưởng niệm, hãy ăn mặc chỉnh tề, giữ yên lặng và nhường không gian khi có đoàn đang làm lễ.
Điểm này hợp với người đi dọc Quốc lộ 13 muốn dừng lại ở một địa chỉ về nguồn, với cựu chiến binh và thân nhân, với các đoàn học sinh, sinh viên. Nếu bạn cần một bảo tàng có nhiều hiện vật và thuyết minh thường trực thì nên ghép thêm các di tích ở Lộc Ninh trên cùng tuyến đường.
Keywords
Heritage spaces
Nơi ghi dấu trận phục kích đoàn xe Pháp trên Quốc lộ 20 chiều 1/3/1948, di tích quốc gia năm 1986, tượng đài cao 15,5 m trên đồi bên sông La Ngà.
Qua cầu La Ngà trên Quốc lộ 20, bạn sẽ thấy một tượng đài trắng đứng trên đồi bên tả ngạn sông, nhìn xuống làng cá bè. Đây là khu tượng đài của Di tích Chiến thắng La Ngà, nay thuộc xã Định Quán, thành phố Đồng Nai, ghi dấu trận phục kích lớn của quân dân miền Đông Nam Bộ thời chống Pháp.
Chiều 1/3/1948, Chi đội 10 Biên Hòa cùng Liên quân 17 và lực lượng Xuân Lộc phục kích đoàn xe quân sự Pháp đi từ Sài Gòn lên Đà Lạt trên đoạn Quốc lộ 20 từ La Ngà đến Định Quán. Trận đánh kéo dài chưa đầy một giờ; 59 xe bị phá hủy, khoảng 150 lính và 25 sĩ quan Pháp bị tiêu diệt, trong đó có hai đại tá. Tù binh và hành khách dân sự được đối xử tử tế và cho về Sài Gòn hôm sau. Các đơn vị tham chiến được tặng Huân chương Quân công hạng Nhì.
Cụm di tích trải dài hơn 9 km trên Quốc lộ 20, được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia theo Quyết định 235/VH-QĐ ngày 12/12/1986. Năm 1998, nhân 300 năm Biên Hòa - Đồng Nai và 50 năm trận đánh, tỉnh dựng tượng đài tại cao điểm 100, nơi giao tranh ác liệt nhất: tượng cao 15,5 m trên bục 2,5 m, trong khuôn viên hơn 5 ha. Năm 2018, di tích được nâng cấp với hơn 10 tỷ đồng.
Chuyến thăm thường gồm dâng hương ở chân tượng, xem nhà truyền thống với hiện vật, hình ảnh về trận đánh, rồi đứng trên đồi nhìn xuống sông La Ngà và dải nhà bè. Di tích có mã QR giới thiệu. Năm 2025, nơi đây đón 232 đoàn với 51.510 lượt khách.
Hạn chế: thông tin về giờ mở cửa, vé và thuyết minh chưa được công bố chính thức; các hạng mục như mái che, ghế ngồi, lan can lối lên tượng mới nằm trong kế hoạch tu bổ. Quanh ngày kỷ niệm 1/3, di tích thường có lễ dâng hương và các đoàn về nguồn.
Tượng đài nằm ngay Quốc lộ 20, đầu cầu La Ngà, xe tải qua lại nhiều; hãy vào bãi trong khuôn viên thay vì đỗ ven đường.
Đây là nơi tưởng niệm những người đã chiến đấu, hy sinh. Ăn mặc lịch sự, giữ trật tự khi có đoàn làm lễ, không leo lên bệ tượng, không ngồi lên bục dâng hương.
Di tích hợp với người quan tâm lịch sử kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, đoàn học sinh, cựu chiến binh. Nếu muốn đi tiếp theo dấu Chi đội 10, Khu di tích Chiến khu Đ ở Vĩnh Cửu cũ là căn cứ mà đơn vị này xuất phát hành quân tới La Ngà năm 1948.
Keywords
Nature & seasons
Cụm khoảng 20 trảng cỏ thấp quanh hồ nước giữa rừng xã Thọ Sơn, nơi người M'nông, S'tiêng chăn thả trâu bò và khách đến cắm trại.
Cách Đồng Xoài khoảng 70 km, ở xã Thọ Sơn (xã Đồng Nai cũ của huyện Bù Đăng), trảng cỏ Bù Lạch là một cụm khoảng 20 trảng cỏ lớn nhỏ nối nhau giữa rừng, rộng chừng 500 ha. Trảng lớn nhất gần 100 ha, ôm một hồ nước lớn ở giữa.
Tên gọi có gốc từ tiếng M'nông. Theo lời các già làng được báo địa phương ghi lại, "lạch" nghĩa là trảng; trong trảng có bàu nước nên người xưa gọi là trảng Bàu Lạch, lâu dần đọc thành Bù Lạch. Mặt trảng phủ cỏ kim, cỏ chỉ mọc sát đất, chỉ cao chừng 4 đến 5 cm là úa vàng rồi lớp cỏ mới lại lên. Rừng và cỏ phân ranh rõ rệt; bìa rừng có sim, dã quỳ, đỗ quyên.
Đây không phải một công viên. Quanh trảng là làng của người M'nông, S'tiêng và Mạ. Một già làng ở xã cho biết trảng cỏ từ trước tới nay là nơi hái rau rừng, chăn thả gia súc và tổ chức sinh hoạt cộng đồng, nên bà con luôn gìn giữ. Bạn sẽ gặp đàn trâu, bò gặm cỏ, và chiều chiều người dân chèo thuyền đánh cá trên hồ; khách có thể mua cá tươi để nướng. Các món quen của vùng là đọt mây, lá nhíp, cá suối.
Khách thường dạo bộ hoặc đạp xe quanh các trảng, ngắm hoàng hôn trên mặt hồ, rồi dựng lều ở lại qua đêm. Băng qua chừng 100 m rừng theo lối mòn là sang trảng khác. Nước hồ lấy từ mạch ngầm và suối nhỏ, quanh năm không cạn.
Cuối mùa khô cả trảng ngả vàng; chỉ một cơn mưa đầu mùa là cỏ xanh trở lại, nên mùa mưa, từ khoảng tháng 5, là lúc trảng xanh nhất. Đêm dễ có sương mù, trùng ngày mưa thì lạnh.
Dịch vụ còn rất ít: tạp hóa, chợ nhỏ gần lối vào; đường vào đã được làm mới, đi được xe máy, ô tô, xe du lịch cỡ nhỏ. Dự án phim trường kết hợp khu du lịch sinh thái được duyệt quy hoạch từ năm 2014, nhưng chưa có công bố về đơn vị quản lý, phí tham quan hay giờ mở cửa. Hồ không có người giám sát, hãy trông chừng trẻ em nếu xuống nước; dựng lều xa bìa rừng và gốc cây lớn, kiểm soát lửa trại, giữ âm thanh nhỏ vì cư dân quanh đây ngủ sớm.
Hãy nhường đường cho trâu bò, không hái rau, bẻ cây của bà con, hỏi trước khi chụp ảnh người dân. Bù Lạch hợp với người tự túc cắm trại, thích đi bộ và chấp nhận ít tiện nghi. Nếu bạn cần một khu rừng có đơn vị quản lý, lối mòn và dịch vụ rõ ràng hơn, Vườn quốc gia Bù Gia Mập là lựa chọn gần đó.
Keywords
Nature & seasons
Thác Liêng Rót của người M'nông, đổ từ 20 m xuống ghềnh đá cạnh trảng cỏ Bù Lạch
Ở thôn 8 của xã Đồng Nai cũ, nay thuộc xã Thọ Sơn trên vùng Bù Đăng, cách trảng cỏ Bù Lạch khoảng 2 km, có một con thác mà từ xa đã nghe thấy trước khi nhìn thấy: mùa mưa, tiếng nước đổ của Thác Voi vọng xa đến chừng 2 km. Theo hồ sơ của Bảo tàng tỉnh Bình Phước, mặt thác rộng 10 m và cao 20 m tính từ đỉnh đến đáy dòng nước đổ.
Điều khiến Thác Voi khác nhiều thác trong vùng là dưới chân không có hồ: nước rơi thẳng xuống những tảng đá lớn rồi luồn qua các khe đá mà chảy đi. Phía sau màn nước còn có một hang đá rộng, đi bộ vào được để nhìn dòng thác từ bên trong. Ngày nắng, ánh sáng qua bụi nước thường làm hiện cầu vồng.
Người M'nông gọi nơi này là Liêng Rót: Liêng là đá, còn Rót là tên vị thần cai quản thác. Trước năm 1962, đồng bào M'nông quanh vùng vẫn đến đây cúng thần Rót, thần rừng, tổ tiên và mừng lúa mới vào tháng 12 âm lịch, với lễ vật là đầu heo, rượu cần, lúa gạo; từ đó đến nay lễ không còn được tổ chức tại thác. Còn cái tên Thác Voi, theo lời kể của các già làng, có từ khoảng 500 năm trước, khi vùng này còn nhiều đàn voi rừng và hai con voi đầu đàn đã giao đấu trên đỉnh thác.
Thác đổi dáng rõ theo mùa. Mùa mưa nước thượng nguồn về nhiều, mặt thác chảy xiết và đổ thành khối lớn; mùa khô nước ít hẳn, dòng thác mảnh như một dải lụa trắng. Bên phải thác là rừng với những cây lớn đường kính tới 70 cm, bên trái là vườn điều, dưới chân là thung lũng mọc nhiều tre và lồ ô. Năm 2017, thác được xếp hạng danh lam thắng cảnh cấp tỉnh.
Đường vào quanh co, nhiều đoạn dốc lên xuống dựng đứng. Hai bên dòng thác là vách đá cao, leo lên xuống được nhưng cheo leo; muốn vào hang phía sau thác phải lần theo từng bậc đá và bám dây rừng. Bạn nên đi giày bám tốt, mang đủ nước uống, và cân nhắc kỹ nếu đi cùng người lớn tuổi hoặc trẻ nhỏ, nhất là trong mùa mưa.
Đây từng là chốn linh thiêng của người M'nông, nên hãy giữ cho thác sạch và yên tĩnh như cách bạn bước vào một nơi thờ tự. Thác Voi hợp với người thích đi bộ đường rừng và muốn ghép cùng trảng cỏ Bù Lạch trong một ngày; nếu bạn cần một con thác dễ tới bằng ô tô và có sẵn hàng quán, đây chưa phải lựa chọn phù hợp.
Keywords
Nature & seasons
Bậc thác cuối của sông Đồng Nai, nay là bãi đá dưới đập tràn Thủy điện Trị An
Cách Biên Hòa khoảng 30 km về phía thượng nguồn, sông Đồng Nai có một quãng lòng sông toàn đá tảng: đó là thác Trị An, bậc thác cuối cùng trước khi con sông chảy vào đồng bằng. Nhiều người biết cái tên này qua hồ và nhà máy thủy điện, nhưng chính con thác mới là thứ có trước và cho cả công trình mượn tên.
Năm 1924, trong cuốn Địa chí tỉnh Biên Hòa, viên chức người Pháp M. Robert tả rằng ở đây con sông đổ ra hàng ngàn dòng thác nhỏ vào mùa nước thấp, còn mùa mưa thì thành những ghềnh lớn mang tên thác Trị An. Chỗ đá dốc đứng nhất được gọi là Hàn Ông Sâm; phía dưới, một phiến đá phẳng chiếm tới hai phần ba chiều rộng lòng sông và chỉ nổi lên khi nước xuống. Thác chắn ngang đến mức gỗ khai thác ở thượng nguồn không thể thả bè xuôi về Biên Hòa.
Tên thác cũng có chuyện của nó. Theo sự tích do người Chơro và người Mạ lưu truyền, được chép trong sách Truyện dân gian Đồng Nai, hai vị tộc trưởng vì cảm kích tấm lòng của một cô gái đã cứu đứa cháu của họ mà đặt tên thác là Tri Ân; về sau người địa phương đọc trại thành Trị An.
Thác hôm nay khác hẳn những tấm ảnh người Pháp chụp đầu thế kỷ XX. Công trình thủy điện khởi công năm 1984, đến tháng 1 năm 1987 tuyến đập tràn chặn dòng sông cách thác khoảng 2 km về phía thượng lưu. Từ đó, đoạn sông dài khoảng 5 km dưới đập thường xuyên cạn: thứ bạn thấy là những bãi đá lớn và một hồ nước nhỏ, chứ không phải dòng thác đổ. Chỉ vào mùa mưa, khi hồ Trị An xả nước qua đập tràn, nước mới cuộn trở lại quãng sông này.
Vì vậy đừng chờ đợi một khu du lịch: đây là lòng sông nằm dưới một công trình thủy điện đang vận hành. Trong những đợt xả nước, lực lượng chức năng của phường Trị An đặt biển và giăng dây khoanh vùng khu vực hạ lưu; bạn không nên đến gần đập tràn, không dựng lều, vui chơi hay bắt cá ở lòng sông khi dòng nước đang chảy mạnh.
Thác Trị An hợp với người tò mò về lịch sử sông Đồng Nai và muốn tận mắt xem một danh thắng của Biên Hòa xưa giờ ra sao, nhất là khi tiện đường ghé hồ Trị An. Nếu bạn tìm một con thác có nước đổ quanh năm để tắm mát và dã ngoại, thác Giang Điền ở phường Trảng Bom sẽ hợp hơn.
Keywords
Heritage spaces
Nhà thờ chính tòa của Giáo phận Xuân Lộc trên đường Hùng Vương ở Long Khánh, khởi công năm 1963, khánh thành năm 1966.
Trên đường Hùng Vương ở trung tâm Long Khánh cũ, nay thuộc phường Long Khánh, nhà thờ chánh tòa Xuân Lộc là nhà thờ chính tòa của Giáo phận Xuân Lộc, giáo phận có hơn một triệu giáo dân và hơn 270 giáo xứ. Chữ "Xuân Lộc" ở đây là tên giáo phận, không phải phường Xuân Lộc mới. Trang của giáo phận ghi là nhà thờ Chính Tòa, thuộc giáo xứ Chính Tòa, giáo hạt Long Khánh.
Năm 1945, giáo họ Xuân Lộc chỉ có khoảng 30 gia đình với một nhà nguyện nhỏ ở ngã ba Phan Thanh Giản - Thoại Ngọc Hầu. Ngày 15/9/1959, giáo họ được tách khỏi giáo xứ Suối Tre thành giáo xứ Xuân Lộc. Nhà thờ hiện nay khởi công ngày 2/2/1963 và khánh thành ngày 22/12/1966. Ngày 14/10/1965, Tòa Thánh thành lập Giáo phận Xuân Lộc; từ khi giám mục tiên khởi Giuse Lê Văn Ấn về nhận giáo phận tại đây, nhà thờ trở thành nhà thờ chính tòa.
Đây là nơi diễn ra các nghi lễ lớn của cả giáo phận, như thánh lễ khai mạc Năm Thánh sáng 29/12/2024 hay lễ kỷ niệm ngày thành lập giáo phận 14/10 hằng năm. Trước Năm Thánh 2000, giáo xứ đã đại tu nhà thờ và chỉnh trang khuôn viên, xây thêm nhà giáo lý, hội trường, nhà sách, nhà vãng lai, các tượng đài và bãi xe.
Theo trang thông tin của giáo phận (truy cập tháng 9/2026), Chúa nhật có lễ lúc 4 giờ 30, 6 giờ, 7 giờ 30, 16 giờ 30, 18 giờ và 19 giờ 30; ngày thường có lễ lúc 4 giờ 30 sáng và buổi chiều khoảng 17 giờ đến 17 giờ 30; ngày 13 hằng tháng có lễ kính Đức Mẹ lúc 19 giờ. Giờ lễ có thể thay đổi, bạn nên xem lại trước khi đi.
Nhà thờ là nơi sinh hoạt của một giáo xứ khoảng 9.000 giáo dân, không phải điểm tham quan có thuyết minh; giờ mở cửa cho khách chưa có công bố. Nếu đến ngoài giờ lễ, bạn ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không đi lên cung thánh; khi dự lễ thì tắt chuông điện thoại và không chụp ảnh gây phiền người đang cầu nguyện.
Điểm này hợp với người Công giáo muốn dự lễ ở nhà thờ chính tòa của giáo phận, hoặc người tìm hiểu lịch sử cộng đồng Công giáo miền Đông. Nếu bạn cần một điểm có nhà trưng bày để hiểu về vùng đất Long Khánh, Mộ cự thạch Hàng Gòn cách đó khoảng 8 km về phía nam là lựa chọn phù hợp hơn.
Keywords
Nature & seasons
Khu du lịch sinh thái của doanh nghiệp ở phường Tân Phú, hồ tắm nước mạch ngầm hơn 150.000 m², thác đá và bãi cắm trại cách TP HCM khoảng 120 km.
Từ Quốc lộ 20 đoạn qua Định Quán, Tân Phú, rẽ vào đường nhánh là tới Khu du lịch Suối Mơ, nơi đơn vị vận hành gọi là "Công viên Suối Mơ". Khu nằm ở phường Tân Phú, thành phố Đồng Nai, cách TP HCM khoảng 120 km, trên khu đất hơn 30 ha.
Điểm khác của Suối Mơ là nước. Nhiều dòng suối nhỏ từ mạch ngầm chảy qua khe đá, đổ vào một lòng hồ được chặn dòng thành hồ tắm có mặt nước trên 150.000 m², nhìn thấy sỏi và đàn cá nhỏ dưới chân. Báo Sài Gòn Giải Phóng (10/2025) mô tả dòng thác rộng khoảng 70-80 m, cao 5-7 m đổ qua các khối đá đen; cán bộ xã lân cận nói suối chưa bao giờ cạn, kể cả mùa khô.
Khu do Công ty CP Đầu tư du lịch Suối Mơ khai thác, kỷ niệm 10 năm thành lập vào năm 2024. Mùa hè 2023, khu đưa vào khai thác bãi tắm biển nhân tạo giai đoạn 2 dài khoảng 500 m.
Một ngày ở đây thường bắt đầu từ bậc đá xuống chân thác, tắm ở hồ trẻ em rộng gần 2.000 m² hoặc hồ người lớn khoảng 1.500 m², sâu 1 m đến 1,5 m, đáy lót cát. Ngoài ra có hồ bán nguyệt dưới thác, thuyền, xe đạp nước, các trò chơi phao trên hồ, bãi cỏ dựng lều, nướng BBQ. Khu có khách sạn, nhà hàng cho khách ở lại qua đêm.
Nên biết trước: đây là khu du lịch thương mại và rất đông vào cuối tuần, lễ Tết. Báo Đồng Nai ghi có ngày lễ lên tới 14 ngàn lượt khách; dịp 2/9/2025 khu đón hơn 11.000 lượt, riêng ba ngày Tết 2025 tiền vé cổng hơn 10 tỷ đồng. Muốn yên tĩnh, bạn nên đi ngày thường. Giá vé và giờ mở cửa không được đăng trên trang chính thức, hãy gọi đường dây nóng của khu trước khi đi.
Về an toàn, nước suối lạnh và có đoạn đá trơn quanh thác; trẻ em chỉ nên tắm ở hồ dành cho trẻ và luôn có người lớn đi kèm. Quy định của khu cho phép mang thức ăn vào khuôn viên nhưng không mang xuống khu hồ bơi.
Nguồn nước là thứ làm nên Suối Mơ, vì vậy đừng xả rác, dầu gội hay thức ăn xuống suối và hồ; rừng cây quanh khu góp phần giữ mạch nước.
Suối Mơ hợp với gia đình có trẻ nhỏ, nhóm bạn, đoàn trường hay công ty muốn một ngày tắm suối, cắm trại gần TP HCM. Nếu bạn muốn rừng thật và đi bộ, Vườn quốc gia Cát Tiên cách đây khoảng 25 km là lựa chọn khác hẳn.
Keywords
Heritage spaces
Di tích quốc gia ghi dấu cuộc nổi dậy năm 1933 của đồng bào S'tiêng ở vùng Bà Rá xưa
Ngã tư Phú Riềng, thuộc xã Phú Riềng, là nơi năm 1933 chính quyền thuộc địa dựng một tấm bia để tưởng nhớ viên quận trưởng quận Bà Rá. Về sau, cũng chính địa điểm ấy được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia, nhưng với một cái tên kể câu chuyện từ phía ngược lại: Cuộc nổi dậy của đồng bào S'tiêng - xã Phú Riềng chống thực dân Pháp ngày 25/10/1933. “Ngã tư Phú Riềng” là cách gọi theo vị trí; tên trong hồ sơ là tên của sự kiện.
Đầu thế kỷ XX, các đồn điền cao su mở rộng ở Nam Kỳ, trong đó có quận Bà Rá của tỉnh Biên Hòa khi ấy. Người S'tiêng trong vùng bị buộc “đi xâu”, tức đi phục dịch, làm việc không công. Năm 1933, hai anh em Điểu Môn và Điểu Mốt ở sóc Bù Sum, những người từng theo phong trào của thủ lĩnh N'Trang Lơng hồi thập niên 1920, vận động và quy tụ được khoảng 200 thanh niên S'tiêng. Ngày 25 tháng 10 năm 1933, nghĩa quân phục kích đoàn của viên quận trưởng đang đi đốc thúc dân đi xâu. Cuộc nổi dậy sau đó bị dập tắt, và tấm bia được dựng lên tại đây. Ngày 29 tháng 5 năm 1989, Bộ Văn hóa xếp hạng di tích với tên gọi của chính cuộc nổi dậy.
Vì thế điều đáng nghĩ khi đứng ở đây là cách một địa điểm đổi nghĩa: dựng lên để nhớ người cầm quyền, rồi được gìn giữ để nhớ những người đã đứng lên. Người S'tiêng là chủ thể của câu chuyện này, và cộng đồng S'tiêng hôm nay vẫn sinh sống ở miền đất Bình Phước cũ; khi nhắc lại sự kiện, nên dùng đúng tên người, tên sóc như sử liệu địa phương ghi.
Đây là một điểm dừng ngắn tại một giao lộ, không phải khu tham quan có nhiều hạng mục. Thông tin được công bố về di tích hầu hết là phần lịch sử, nên bạn hãy đến với tâm thế ghé thăm một dấu mốc hơn là một điểm tham quan dài.
Nơi này hợp với người quan tâm lịch sử các dân tộc ở miền Đông Nam Bộ và những ai đi ngang vùng Phú Riềng muốn hiểu thêm về miền đất mình đi qua. Lưu ý đừng nhầm với di tích Phú Riềng Đỏ (nơi thành lập chi bộ của công nhân cao su năm 1929) nằm ở xã Thuận Lợi; hai nơi khác nhau và có thể ghép trong cùng một chuyến.
Keywords
Local markets
Chợ hạng I ở trung tâm Long Khánh, lập năm 1983 và xây lại năm 2013 thành chợ kết hợp siêu thị; nơi mua trái cây và nông sản miền Đông.
Chợ Long Khánh là chợ trung tâm của Long Khánh cũ, nằm gần Quốc lộ 1 trong khu vực nay thuộc phường Long Khánh, thành phố Đồng Nai. Báo Đồng Nai xếp chợ vào nhóm chợ hạng I của tỉnh. Với người đi qua Quốc lộ 1, đây từ lâu là chỗ ghé mua nông sản và trái cây của miền Đông.
Chợ được lập năm 1983 với tên chợ Xuân Lộc, sau đổi thành chợ Long Khánh, trên khu đất hơn 32.000 m²; năm 2008 chợ có 519 hộ tiểu thương. Khi chợ cũ xuống cấp, thị xã cho xây lại từ năm 2010 theo mô hình chợ truyền thống ở tầng trệt, siêu thị ở các tầng trên và dãy phố chợ bên ngoài. Công trình hoàn thành cuối tháng 6/2013 và tiểu thương dời vào chợ mới trong tuần đầu tháng 12/2013. Mặt tiền nhà chợ hiện ghi "Trung tâm thương mại chợ Long Khánh".
Báo Đồng Nai những năm 2000 mô tả đây là nơi mua bán cà phê, tiêu, điều và trái cây như chôm chôm, sầu riêng, mít tố nữ, bên cạnh hàng thiết yếu cho dân trong vùng. Phía sau chợ, trên đường Trịnh Hoài Đức, có dãy ki-ốt chuyên bán trái cây. Vụ trái cây chính của Long Khánh rơi vào khoảng tháng 5 đến tháng 8, đó cũng là lúc hàng trái cây quanh chợ nhiều nhất.
Nguồn chính thức mới về giờ họp chợ, danh mục mặt hàng hay số tiểu thương hiện nay chưa có, nên bạn đừng kỳ vọng một khu chợ được tổ chức cho khách du lịch. Đây là chợ của người dân địa phương. Trưa 31/1/2023, lửa từ một ki-ốt bán trái cây chứa nhiều thùng xốp, thùng giấy đã thiêu rụi 8 ki-ốt phía sau chợ; không ai bị thương.
Khi mua trái cây theo ký, bạn hỏi giá trước, nhờ người bán chọn trái ăn ngay hay để vài ngày, và mang theo tiền mặt lẻ. Đi xe máy thì gửi xe ở chỗ có vé.
Chợ hợp với người muốn mua trái cây, nông sản mang về sau chuyến đi Long Khánh, hoặc muốn xem một buổi chợ tỉnh lẻ miền Đông. Nếu đi đúng mùa, bạn có thể mua sầu riêng, măng cụt, mít ngay tại nhà vườn ở phường Bình Lộc, hoặc ghé Lễ hội Mùa trái cây Long Khánh tổ chức cuối tháng 6 ở Công viên Bia Chiến thắng.
Keywords
Nature & seasons
Thác thấp trên suối Đắk Woa ở xã Bù Đăng, nước đổ qua vách cột đá lục lăng dựng đứng; danh thắng cấp tỉnh từ năm 2013.
Từ trung tâm Đồng Xoài cũ đi theo hướng Bù Đăng, qua khu Đức Phong rồi rẽ vào đường thôn, bạn sẽ gặp thác Đứng, một thác thấp trên suối Đắk Woa, nay thuộc xã Bù Đăng, thành phố Đồng Nai. Người S'tiêng quanh đây gọi thác là NHai Liên Por, nghĩa là máng nước chảy từ ghềnh đá trên cao xuống. Thác được xếp hạng danh lam thắng cảnh cấp tỉnh ngày 25/11/2013.
Cái riêng của thác Đứng nằm ở đá. Hai bờ là những khối đá hình lục lăng, hình hộp chữ nhật, đường kính khoảng 0,5 đến 1 m, dựng đứng sát nhau thành vách; phía hạ nguồn có cụm đá trụ ghép lại trông như hoa mai hay mai rùa. Theo Báo Bình Phước, thác rộng chừng 18 m, cao khoảng 8 m, lòng thác khoảng 15 m. Dưới chân thác có những tảng đá phẳng, khách hay ngồi nghỉ.
Thác nằm giữa vùng sóc của người S'tiêng như Bù Xiết, Bù Nhùi. Theo lời các già làng được báo tỉnh ghi lại năm 2016, bên thác từng diễn ra lễ mừng lúa mới, đánh cồng chiêng, cúng thần linh. Đây là không gian của cộng đồng; nếu gặp nghi lễ, bạn đứng xa quan sát và hỏi trước khi chụp ảnh người.
Nói thẳng, dòng suối từng bị ảnh hưởng nặng. Năm 2016, Báo Bình Phước ghi mùa khô suối cạn, rác từ khu dân cư phía trên làm nước ô nhiễm, một số trụ đá bị lấy cắp. Tình trạng gần đây chưa có công bố chính thức, nên hỏi chính quyền xã Bù Đăng trước khi đi.
Theo mô tả của báo năm 2016, từ Đồng Xoài đi khoảng 60 km hướng Bù Đăng qua Đức Phong, rẽ phải khoảng 7 km về khu Đoàn Kết cũ, rồi đi tiếp chừng 2,5 km đường liên thôn. Giờ mở cửa, phí tham quan chưa có công bố. Mùa mưa nước lớn, đá trơn; hãy đi giày bám và không trèo lên vách cột đá.
Thác hợp với người thích địa chất, chụp ảnh đá, hoặc đang đi tuyến quốc lộ 14 ghép Sóc Bom Bo và Trảng cỏ Bù Lạch như lịch trình mẫu của ngành du lịch Bình Phước cũ. Nếu bạn muốn một mặt nước rộng để ngắm cảnh cả buổi, cụm núi Bà Rá và hồ Thác Mơ ở khu vực Phước Long là lựa chọn khác trong thành phố Đồng Nai.
Keywords
Nature & seasons
Cụm thác đá giữa rừng phòng hộ Tân Phú, cạnh một bàu nước khoáng nóng tự nhiên 50–60°C quanh năm, ở xã Định Quán.
Thác Mai - Bàu Nước Sôi nằm trong rừng phòng hộ Tân Phú, vùng Gia Canh của huyện Định Quán cũ, nay thuộc xã Định Quán, thành phố Đồng Nai. Tên gọi dễ gây hiểu lầm: bàu không sôi. Theo cổng thông tin tỉnh, đây là bàu nước khoáng nóng tự nhiên, nhiệt độ khoảng 50 đến 60°C quanh năm.
Phần thác Mai là cụm thác đá. Tuổi Trẻ năm 2007 mô tả khu thác dài khoảng 2 km, có năm đảo, tảng đá hòn Voi Phục, hang Rùa; tên thác được giải thích do mai rừng từng mọc nhiều hai bên bờ. Rừng phòng hộ Tân Phú quanh đó còn có thác Chín Chì, Hang Dơi và sông La Ngà nhiều ghềnh đá.
Nơi này đang ở giai đoạn chuyển đổi. Theo cổng thông tin tỉnh năm 2023, đề án du lịch sinh thái của Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú giai đoạn 2021 đến 2030 đã được tỉnh phê duyệt, dự kiến 13 điểm, 8 tuyến. Năm 2024 một doanh nghiệp thuê 480 ha môi trường rừng để làm dự án du lịch dưới tán rừng; báo tỉnh cùng năm ghi dự án còn nhiều vướng mắc. Vì vậy đơn vị đang đón khách, giờ mở cửa, giá vé và các dịch vụ ngâm khoáng hiện nay chưa có công bố chính thức. Hãy gọi hỏi chính quyền xã Định Quán hoặc Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú trước khi đi.
Đường vào, theo mô tả năm 2007, rẽ từ Quốc lộ 20 ở khoảng km 112 thêm chừng 20 km đường rừng, mùa mưa lầy lội; hiện trạng đường nên hỏi lại. Tuổi Trẻ khi đó dẫn lời nhân viên khu du lịch rằng thác đẹp nhất sau Noel, khi nước bớt xiết, lộ đá và mai rừng nở.
Nước 50 đến 60°C đủ nóng để gây bỏng. Chỉ ngâm ở khu vực có người quản lý hướng dẫn, thử nhiệt bằng tay trước, trông kỹ trẻ nhỏ; không tắm thác khi nước lên sau mưa.
Điểm này hợp với nhóm thích khám phá rừng, chấp nhận thông tin chưa chắc chắn và tự hỏi trước. Nếu bạn cần dịch vụ rừng có tổ chức và bảng giá công khai, Vườn quốc gia Cát Tiên ở cùng hướng Quốc lộ 20 là lựa chọn rõ ràng hơn.
Keywords
Nature & seasons
Hồ nước giữa rừng cao su Đồng Phú, tên gọi từ màu lam của sương sớm trên mặt hồ
Từ Đồng Xoài theo đường ĐT741 khoảng 10 km, tới một ngã ba đường đất đỏ thì rẽ trái, chạy thêm chừng 3 km giữa hai hàng cao su là mặt nước hiện ra trước mặt. Đó là hồ Suối Lam, thuộc xã Thuận Lợi, cách Đồng Xoài khoảng 13 km.
Người dân quanh hồ giải thích cái tên rất giản dị: sáng sớm, sương bay là là trên mặt nước, được nước hồ phản chiếu thành một màu lam, nên gọi là Suối Lam. Bao quanh hồ là những lô cao su trồng thẳng hàng và các vạt rừng trồng lâu năm; vì thế tài liệu giới thiệu của ngành du lịch từng ví dáng hồ hao hao hồ Xuân Hương ở Đà Lạt. Hồ sâu khoảng 4 m, mặt nước phẳng lặng, có các loài cá nước ngọt quen thuộc như chép, trắm, lóc, mè.
Những việc người ta thường làm ở đây đều chậm rãi: ngồi câu trên các tảng đá lớn ven hồ, dựng lều trong rừng cây sát mép nước, đi dạo quanh bờ lúc ráng chiều khi mặt hồ lặng nhất.
Cần biết trước rằng Suối Lam hiện không vận hành như một khu du lịch. Khu này được giao cho doanh nghiệp làm du lịch từ giữa những năm 1990, nhưng đơn vị khai thác đã giải thể năm 2008 và các công trình cũ không còn được sử dụng. Từ năm 2014, mặt hồ được giao cho đơn vị thủy nông quản lý, đường vào do địa phương quản lý; đến cuối năm 2024 dự án du lịch hồ Suối Lam vẫn đang ở bước quy hoạch. Vì vậy bạn nên tự mang nước uống, đồ ăn và mang rác về; quãng đường đất đỏ cuối cùng đi qua rừng cao su, nên xem thời tiết trước khi vào.
Mặt hồ đang do đơn vị thủy nông quản lý và nằm giữa vùng người dân sinh sống, canh tác, nên hãy giữ sạch bờ hồ và hỏi người địa phương trước khi xuống nước hay dựng lều qua đêm.
Suối Lam hợp với người muốn một buổi yên tĩnh giữa rừng cao su, tự túc đi về trong ngày từ Đồng Xoài. Nếu bạn cần chỗ vui chơi có dịch vụ đầy đủ, hãy chọn một khu du lịch đang hoạt động trong vùng thay vì nơi này.
Keywords
Nature & seasons
Hồ nước giữa trung tâm Đồng Xoài cũ, khu hồ quy hoạch 237 ha, có công viên ven hồ mở năm 2021, giai đoạn 2 đang xây.
Ngay trung tâm Đồng Xoài cũ, cạnh Bảo tàng tỉnh Bình Phước (cũ) và Trung tâm Văn hóa tỉnh trước đây, hồ Suối Cam là khoảng nước lớn nhất của khu đô thị này, nay thuộc phường Bình Phước, thành phố Đồng Nai. Theo Báo Bình Phước, khu hồ quy hoạch rộng 237 ha, trong đó mặt hồ tự nhiên khoảng 68,84 ha; báo Sài Gòn Giải Phóng (11/2023) gọi đây là hồ tự nhiên lớn nhất thành phố Đồng Xoài lúc đó.
Hồ trước hết là công trình nước. Báo Bình Phước (2015) ghi khu vực có hai hồ: Suối Cam 1 chứa nước sinh hoạt cho Đồng Xoài, Suối Cam 2 được đắp thêm đập để tích nước mùa mưa và điều tiết khí hậu. Năm 2011, báo Công an Nhân dân viết hồ là nguồn nước duy nhất của nhà máy nước Đồng Xoài.
Phần khách hay đến dạo là công viên Suối Cam, khánh thành ngày 18/5/2021 với hai khu hơn 4 ha, gần 700 cây gỗ quý, đường đi bộ lát đá, đèn chiếu sáng và nhà vệ sinh công cộng. Bờ kè và công viên ven hồ được làm để người dân tập thể dục, đi bộ; cổng du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Phước cũ gợi ý ngắm hồ lúc hoàng hôn hoặc vào mùa sen nở.
Nói thẳng, hồ đang trong giai đoạn thay đổi. Dự án khu du lịch hồ Suối Cam giai đoạn 2 đã xây một số hạng mục và vẫn đang giải phóng mặt bằng trong năm 2026, nên nhiều đoạn bờ còn là công trường. Trước khi có kè, hồ từng bị lấn chiếm, xả thải gây ô nhiễm (Báo Bình Phước 2014, 2015).
Hồ là không gian mở; giờ, phí và quy định về bơi, chèo thuyền chưa có công bố chính thức. Bạn nên đi trên lối đi bộ và không xuống nước.
Hồ Suối Cam hợp với người đang ở Đồng Xoài muốn một buổi chiều đi bộ, dễ ghép với bảo tàng bên bờ hồ và tượng đài Chiến thắng Đồng Xoài cùng phường. Nếu bạn muốn một hồ rộng giữa núi rừng cho chuyến đi trong ngày, hồ Thác Mơ dưới chân núi Bà Rá ở khu vực Phước Long là lựa chọn khác.
Keywords
Heritage spaces
Nơi tưởng niệm đồng bào An Lộc năm 1972, di tích lịch sử quốc gia từ năm 1985
Ở phường Bình Long, phần đất trước đây là phường An Lộc của thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước cũ, có một khu tưởng niệm mang tên Mộ 3.000 đồng bào An Lộc. Đây là nơi yên nghỉ chung của những người dân An Lộc đã qua đời trong thời gian chiến sự năm 1972, và là nơi người Bình Long cùng khách phương xa đến thắp hương tưởng nhớ.
Ngày 1 tháng 4 năm 1985, Bộ Văn hóa xếp hạng nơi đây là di tích lịch sử quốc gia. Sau đợt tu bổ, tôn tạo khởi công năm 2013, khu di tích rộng hơn 4.000 mét vuông, gồm tượng đài tưởng niệm bằng đá tự nhiên cao 12,6 mét, khu mộ, nhà bia tưởng niệm, nhà đón tiếp, cổng chính và sân vườn. Vào các dịp lễ, Tết, chính quyền và người dân phường Bình Long vẫn tổ chức dâng hương tại đây, cùng với các hoạt động tri ân ở những địa chỉ tưởng niệm khác trong phường.
Một lần ghé thường chỉ gồm vài việc giản dị: thắp một nén hương trước tượng đài tưởng niệm, dừng lại ở nhà bia, dành ít phút yên lặng. Đây không phải điểm tham quan để đi nhanh hay chụp ảnh lưu niệm; ý nghĩa của nó nằm ở sự tưởng nhớ.
Vì là nơi yên nghỉ, hãy ăn mặc chỉnh tề, nói khẽ, không cười đùa và nhường không gian khi có gia đình hoặc đoàn đang làm lễ. Nếu đi cùng trẻ nhỏ, nên nói trước với các em rằng đây là nơi tưởng niệm.
Nơi này dành cho người muốn dừng lại tưởng niệm và hiểu thêm về vùng đất An Lộc - Bình Long. Nếu bạn đang tìm một điểm vui chơi, thư giãn thì đây không phải lựa chọn phù hợp.
Keywords
Heritage spaces
Văn miếu đầu tiên được dựng ở Đàng Trong năm 1715, nay là di tích lịch sử cấp quốc gia bên Khu du lịch Bửu Long
Di tích Văn Miếu Trấn Biên là một địa chỉ văn hóa đặc biệt ở Đồng Nai. Với không gian thoáng đãng và kiến trúc đặc sắc, đậm truyền thống văn hóa, hiếu học; nơi đây là điểm tổ chức nhiều sự kiện của địa phương như lễ Tết thầy, lễ hội hoa xuân, lễ hội thơ, lễ báo công, lễ viếng tiền nhân… Văn Miếu Trấn Biên gắn liền với công cuộc mở cõi về phương Nam. Đây là Văn Miếu đầu tiên được xây dựng (năm 1715) ở Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn.
Văn Miếu Trấn Biên được xem là "Văn Miếu Quốc Tử Giám" của Nam Bộ, là biểu tượng tiêu biểu cho truyền thống hiếu học, tinh thần hào khí và bản sắc văn hóa của người Việt phương Nam. Không chỉ mang giá trị về mặt kiến trúc, Văn Miếu Trấn Biên còn là biểu tượng cho truyền thống tôn sư trọng đạo, đề cao tri thức và lòng kính trọng đối với những người có công trong sự nghiệp giáo dục, văn hóa.
Ngày nay, Văn Miếu Trấn Biên là nơi thường xuyên diễn ra các hoạt động văn hóa, giáo dục ý nghĩa như lễ viếng các bậc tiền nhân, lễ báo công và các chương trình tuyên dương những cá nhân xuất sắc trên nhiều lĩnh vực. Đây cũng là điểm đến hấp dẫn, thu hút đông đảo người dân và du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu.
Keywords
Nature & seasons
Vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai, hơn 100.000 ha rừng đặc dụng và mặt nước hồ Trị An
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hoá Đồng Nai rộng hơn 100.000 ha, gồm 68.000 ha rừng tự nhiên thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt và hồ Trị An với tổng diện tích mặt nước hơn 32.500 ha, còn lại là diện tích rừng trồng. Là một trong những khu rừng đặc dụng có diện tích tự nhiên lớn nhất Việt Nam có hệ sinh thái rừng đặc trưng của vùng miền Đông Nam bộ, tồn tại nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng nằm trong sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN thế giới.
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai được xem là "lá phổi xanh" của vùng Đông Nam Bộ. Năm 2011, Khu Bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai.
Ngoài thiên nhiên phong phú, đa dạng, tuyệt đẹp thì Khu bảo tồn còn có giá trị văn hóa, lịch sử với 3 di tích lịch sử cấp quốc gia:
Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy miền Đông Nam bộ và Địa đạo Suối Linh. Đây là vùng đất Chiến khu Đ anh hùng, bất khuất qua 2 thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ xâm lược.
Keywords
Nature & seasons
Khoảng 25.600 ha rừng kín thường xanh giáp biên giới Campuchia, độ che phủ trên 90% và 39 cây di sản Việt Nam
Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Đồng Nai, giáp biên giới Campuchia, là một trong những khu rừng nguyên sinh tiêu biểu của vùng Đông Nam Bộ. Với diện tích hơn 25.000 ha, nơi đây sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới đa dạng, phong phú với nhiều loài động thực vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam. Không chỉ có giá trị bảo tồn thiên nhiên, Bù Gia Mập còn hấp dẫn du khách bởi cảnh quan hoang sơ, thác nước, suối rừng và những cung đường trekking khám phá thiên nhiên.
Keywords
Community villages
Cù lao trồng bưởi bên sông Đồng Nai, quê của bưởi đường lá cam và bưởi ổi được cấp chỉ dẫn địa lý năm 2012, trái rộ nhất vào mùa Tết.
Từ trung tâm Biên Hòa cũ đi chừng 10 km, qua cầu Tân Triều là vào tới cù lao Tân Triều, một dải đất phù sa có sông Đồng Nai bao quanh, nay thuộc phường Tân Triều, thành phố Đồng Nai. Hai bên đường làng là vườn bưởi nối nhau, cây sinh kế của nhiều đời người trên cù lao, tưới bằng nước sông quanh năm.
Tương truyền, khoảng năm 1869, hai cây bưởi giống từ Brazil được đem về trồng trước sân nhà thờ Tân Triều, người dân xin chiết cành và nhân rộng dần. Trước đó, đất cù lao chủ yếu trồng trầu và lúa. Báo chí ghi lại rằng sau một trận lũ lớn giữa thế kỷ 20 (có bài ghi năm 1950, có bài ghi năm Nhâm Thìn 1952), cả làng chuyển hẳn sang trồng bưởi.
Điều làm Tân Triều khác các vùng bưởi quanh Biên Hòa là tấm giấy chứng nhận: năm 2012, bưởi Tân Triều được cấp chỉ dẫn địa lý cho hai giống bưởi đường lá cam và bưởi ổi. Bưởi đường lá cam chiếm phần lớn diện tích, vỏ mỏng, múi dễ tróc, vị ngọt thanh xen chút chua nhẹ; bưởi ổi trái nhỏ, dáng như trái ổi, ngày càng ít người trồng vì năng suất thấp. Theo Báo Đồng Nai, riêng làng bưởi trên cù lao rộng gần 400 ha và phần lớn nhà vườn dùng phân hữu cơ, men vi sinh.
Đường vào làng là Đường huyện 9 (người dân quen gọi hương lộ 9), rẽ ngay sau cầu Tân Triều. Một số vườn mở cửa cho khách dạo dưới tán bưởi, mua bưởi hái tại vườn và ăn các món làm từ bưởi như gỏi bưởi, gà hấp bưởi, chè bưởi, trà và rượu bưởi; có vườn tổ chức đi thuyền một vòng quanh cù lao. Gần Tết, nhiều nhà vườn bán bưởi tạo hình hồ lô hoặc nổi chữ Tài, Lộc để chưng.
Tân Triều chưa phải một khu du lịch có ban quản lý chung. Mỗi vườn tự làm dịch vụ nên giờ đón khách, giá cả và món ăn khác nhau, có lúc thay đổi: một vườn du lịch lâu năm từng ngừng phục vụ ăn uống từ tháng 8/2024. Mô hình Làng Văn hóa - Du lịch Tân Triều theo kế hoạch của tỉnh đang trong giai đoạn thí điểm 2025-2026, nên bạn nên hỏi trước vườn nào đang đón khách.
Bưởi có trái quanh năm nhưng mùa rộ từ tháng 10 đến tháng Chạp âm lịch, đông nhất dịp cận Tết. Tân Triều là vùng trũng ven sông: Đài Khí tượng thủy văn Đồng Nai nhiều lần đưa Tân Triều vào danh sách có nguy cơ ngập do triều cường (tháng 10/2025, tháng 9/2026), đỉnh triều thường vào sáng sớm và chiều tối. Mùa mưa cuối năm, bạn nên xem cảnh báo trước khi đi.
Vườn bưởi là đất và tài sản của từng gia đình. Hãy hỏi trước khi vào vườn, không tự hái trái, không bẻ cành chụp ảnh, và mua bưởi trực tiếp từ nhà vườn khi có thể.
Làng bưởi hợp với gia đình và nhóm bạn muốn đi nửa ngày từ TP Hồ Chí Minh (khoảng một giờ xe), người mua bưởi Tết tận gốc, người thích chuyện nông nghiệp ven sông. Nếu bạn cần dịch vụ đồng bộ, lưu trú hay thuyết minh bài bản thì nơi này chưa đáp ứng. Muốn xem lớp lịch sử khai phá trên một cù lao khác của sông Đồng Nai, hãy đến cù lao Phố ở phường Trấn Biên.
Keywords
Community villages
Làng nhà bè nuôi cá trên sông La Ngà dưới chân cầu Quốc lộ 20, hình thành khoảng 1989-1990 từ các gia đình người Việt hồi hương từ Campuchia.
Đứng trên cầu La Ngà ở Quốc lộ 20 nhìn về phía hạ lưu, bạn thấy một dải nhà bè nối nhau trên mặt sông. Đó là làng cá bè La Ngà, theo VnExpress (2018) dài khoảng một km, nằm giữa hai xã Định Quán và La Ngà hiện nay, ngay dưới đồi tượng đài Chiến thắng La Ngà.
Làng hình thành khoảng những năm 1989-1990, khi một số gia đình người Việt từ Campuchia hồi hương về dựng nhà nổi trên sông La Ngà; sau đó có thêm người nghèo từ vùng Đồng Tháp Mười và miền Tây lên làm nghề. Họ sống và nuôi cá ngay dưới sàn nhà: cá lăng, diêu hồng, chình, bống, chép. Mỗi bè có diện tích mặt trung bình khoảng 40 m².
Quy mô làng thay đổi theo từng thời kỳ. Báo Sài Gòn Giải Phóng (2016) ghi trên 130 hộ với gần 600 nhân khẩu; VnExpress (2018) ghi khoảng 150 hộ với hơn 500 lồng cá. Nhiều bè nay lắp pin mặt trời trên mái vì điện lưới xa, và có hộ trồng hoa, cây cảnh quanh nhà.
Làng bè không phải khu du lịch và chưa có dịch vụ đón khách chính thức. Cách phổ biến là ngắm làng từ cầu, từ bờ sông hoặc từ đồi tượng đài phía tả ngạn. Cá lăng làng bè được xã Định Quán nêu là món ăn đặc trưng; theo kế hoạch 2026-2030, xã dự kiến xây bến thủy nội địa và trạm dừng chân ở cầu La Ngà trong giai đoạn 2027-2028.
Đời sống ở đây nhiều khó khăn. Mực nước sông những năm gần đây xuống thấp; tháng 5/2018 hơn 1.500 tấn cá bè chết sau những trận mưa lớn, tỉnh xác định do thiên tai và hỗ trợ 12,3 tỷ đồng cho 129 hộ. Tháng 4/2023, huyện vận động các hộ nuôi ở khu vực không được phép di dời bè đến vùng nuôi theo quy hoạch; khoảng 30 hộ gần cầu cam kết không thả giống mới. Vì vậy số bè có thể đã khác so với các bài báo cũ.
Các nhà bè là nhà ở của từng gia đình. Đừng tự ý bước lên bè hay chèo xuồng áp sát khi chưa được mời, hỏi trước khi chụp người, nhất là trẻ em. Chính quyền xã vẫn đang hỗ trợ trẻ em làng bè và giải quyết giấy tờ hộ tịch cho một số cư dân, nên hãy tôn trọng sự riêng tư của họ.
Nước sông sâu, có dòng chảy, không nên xuống nước. Cầu La Ngà nằm trên tuyến quốc lộ đông xe tải, hãy dừng ở chỗ an toàn khi ngắm cảnh.
Làng cá bè hợp với người đi Quốc lộ 20 muốn dừng lại hiểu thêm về sinh kế sông nước ở Đồng Nai, nhất là khi kết hợp với tượng đài La Ngà ngay bên cạnh. Nếu bạn muốn ngồi thuyền, câu cá có dịch vụ, nên tìm các điểm du lịch có đơn vị quản lý thay vì làng bè.
Keywords
Craft villages
Nghề gốm hơn 300 năm với men "xanh đồng trổ bông", dòng men được gọi tên quốc tế là vert de Biên Hòa
Gốm truyền thống Biên Hòa có lịch sử hơn 300 năm và nổi tiếng với men xanh đồng đặc trưng. Những sản phẩm tinh xảo nơi đây thể hiện giá trị văn hóa và tay nghề của các nghệ nhân địa phương.
Keywords