Skip to main content
Localis

North · Province

Quang Ninh

The wonder of Ha Long Bay, sacred Yen Tu mountain and the fishing villages and mining towns of the northeast.

61verified places
15nature & seasons
14heritage spaces
Cruise boats on Ha Long Bay at sunset
Cruise boats on Ha Long Bay at sunset
Limestone islets in Ha Long Bay
Limestone islets in Ha Long Bay
Ha Long Bay on a sunny day
Ha Long Bay on a sunny day

21.14°N · 107.38°E

where it sits in Vietnam

Background: Ha Long Bay from above

Explore Quang Ninh

Place names are shown in Vietnamese, as recorded in Localis data.

  • Chùa Quỳnh Lâm

    Chốn tổ Trúc Lâm trên núi Tiên Du, nơi Pháp Loa lập viện Quỳnh Lâm năm 1316

    Heritage spaces · Bình Khê

  • Lễ hội đình Lục Nà

    Hội xuân 16 và 17 tháng Giêng thờ Thành hoàng Hoàng Cần ở ngôi đình duy nhất của vùng Bình Liêu

    Festivals · Lục Hồn

  • Lễ hội Yên Tử

    Ba tháng hội xuân từ 10 tháng Giêng, hành hương về đất tổ Thiền phái Trúc Lâm, lên chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử

    Festivals · Yên Tử

  • Lễ hội Bạch Đằng

    Lễ "Giỗ Trận" mồng 6 đến 9 tháng Ba ở Quảng Yên, rước tượng Đức Thánh Trần từ đền về đình Yên Giang

    Festivals · Quảng Yên

  • Hát Then Bình Liêu

    Then cổ và then văn nghệ của người Tày Bình Liêu, đi cùng cây tính tẩu hai dây và chùm xóc nhạc

    Art & creative spaces · Bình Liêu

  • Chùa Ngọa Vân

    Am, chùa trên núi Bảo Đài, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn năm 1308, điểm Di sản thế giới

    Heritage spaces · Bình Khê

  • Lễ hội đình Quan Lạn

    Hội chèo bơi trên đảo Quan Lạn, chính hội 18 tháng 6 âm lịch, tái hiện chiến thắng Vân Đồn 1288

    Festivals · Vân Đồn, Quang Ninh · Khoảng 10 ngày

  • Lễ hội đình Trà Cổ

    Hội làng biển Trà Cổ từ 30/5 đến 3/6 âm lịch, với thi Ông Voi và rước thần ra biển

    Festivals · Móng Cái 1

  • Hội hát Soóng Cọ

    Hội tháng Ba của người Sán Chỉ ở Bình Liêu, ngày 16/3 âm lịch, hát đối giao duyên bên thác Khe Vằn

    Festivals · Bình Liêu

  • Lễ hội đền Cửa Ông

    Hội tháng 2 và tháng 8 âm lịch tưởng nhớ Trần Quốc Tảng, năm chẵn có đoàn rước trên bộ và trên biển

    Festivals · Cửa Ông

  • Bãi cọc Yên Giang

    Ao cọc lim, táu lộ thiên duy nhất còn lại của trận địa cọc Bạch Đằng năm 1288 bên cửa sông Chanh

    Heritage spaces · Quảng Yên

  • Hội Mùa vàng Lục Hồn

    Mùa lúa chín trên ruộng bậc thang Lục Hồn, từ cuối tháng 10 đến tháng 11, có Lễ mừng cơm mới của người Tày

    Festivals · Lục Hồn

  • Lễ hội đình Đồng Đình

    Hội đầu xuân của người Tày thôn Đồng Đình, có tái hiện Lễ Lồng tồng xuống đồng ngay ruộng sân đình

    Festivals · Tiên Yên

  • Lễ hội Tiên Công

    Lễ hội “rước người” ở đảo Hà Nam: sáng mùng 7 tháng Giêng, con cháu rước các cụ tròn 80, 90, 100 tuổi lên miếu

    Festivals · Phong Cốc

  • Lễ hội Đức ông Hoàng Cần

    Lễ hội ở ngôi đền Hải Lạng thờ vị Khâm Sai Đông Đạo Tiết Chế, mang đậm sắc màu văn hóa Sán Dìu

    Festivals · Hải Lạng

  • Đền Cửa Ông

    Đền thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng trên đồi nhìn ra vịnh Bái Tử Long, giữ hơn 30 pho tượng nhà Trần

    Heritage spaces · Cửa Ông

  • Hát đúm Quảng Yên

    Dân ca đối đáp giọng thổ của làng đảo Hà Nam, giữ nhiều lời cổ mang tên đất, tên làng Quảng Yên

    Art & creative spaces

  • Chùa Hồ Thiên

    Chùa Trúc Lâm thời Trần lưng chừng núi Phật Sơn, nơi Tổ Pháp Loa mở am năm 1327

    Heritage spaces · Bình Khê

  • Nghề làm miến dong Bình Liêu

    Nghề làm miến từ củ dong riềng của người Sán Chỉ ở Húc Động, phơi trên ruộng gốc rạ từ tháng 10 âm lịch

    Craft villages · Bình Liêu

  • Vịnh Bái Tử Long

    Khoảng 600 đảo ở phía Đông Bắc vịnh Hạ Long, đảo đá vôi xen đảo đất có làng chài và rừng ngập mặn

    Nature & seasons · Vân Đồn

  • Núi Cao Xiêm

    Đỉnh núi 1.429 m ở xã Lục Hồn, đường trekking qua rừng hồi, đồi thông và đồng cỏ đá tảng

    Nature & seasons · Lục Hồn

  • Đình Trà Cổ

    Đình làng chữ đinh của cư dân gốc Đồ Sơn bên biển Trà Cổ, Di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2023

    Heritage spaces · Móng Cái 1

  • Núi Cao Ly

    Đồng cỏ trên 1.000 m ở vùng biên Bình Liêu, nơi cắm trại săn mây và ngắm hoa mua tím cuối hè

    Nature & seasons · Hoành Mô

  • Thác Pạc Sủi

    Thác nhiều tầng mang tên "nước trắng" dưới đỉnh Trâu Đằm, có hồ nhỏ nối nhau và lối bậc đá hai bên dòng

    Nature & seasons · Tiên Yên

  • Làng gốm sứ Đông Triều

    Cụm làng gốm “nặng lửa” bên Quốc lộ 18A, nung lò bầu đốt củi, nổi tiếng chậu hoa men xanh cỡ lớn

    Craft villages · Mạo Khê

  • Đảo Ngọc Vừng

    Đảo đất có làng chài, ruộng lúa và bãi Trường Chinh giữa vịnh Bái Tử Long, nơi Bác Hồ ghé thăm năm 1962

    Nature & seasons · Vân Đồn

  • Đảo Cái Chiên

    Xã đảo của Hải Hà cũ với bãi Đầu Rồng dài hơn 2 km, rừng phi lao và ruộng lúa giữa đảo

    Nature & seasons · Cái Chiên

  • Vịnh Hạ Long

    Vịnh biển 1.553 km² với 1.969 hòn đảo, phần lớn là đảo đá vôi; di sản thiên nhiên thế giới, từ 2023 là một phần của di sản liên tỉnh "Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà".

    Heritage spaces

  • Đảo Quan Lạn

    Đảo dài khoảng 20 km trong vịnh Bái Tử Long, có bãi cát trắng Minh Châu, Sơn Hào, cụm di tích đình chùa Quan Lạn và lễ hội đua thuyền tháng 6 âm lịch.

    Nature & seasons · Vân Đồn

  • Chợ Hạ Long

    Chợ đầu mối bên bờ vịnh ở Hồng Gai: hải sản còn sống, chả mực giã tay, quà lưu niệm khảm trai và than đá

    Local markets · Hồng Gai, Quang Ninh · 1

  • Ruộng bậc thang Cao Thắng

    Ruộng bậc thang trên sườn tây núi Cao Xiêm, phần tiêu biểu của danh thắng cấp tỉnh Ruộng bậc thang Lục Hồn

    Nature & seasons · Lục Hồn

  • Chợ Cái Rồng

    Chợ trung tâm Cái Rồng từ năm 1995, cách phiên chợ cá rạng sáng ở bến cảng khoảng 1 km

    Local markets · Vân Đồn

  • Đền Cặp Tiên

    Đền thờ cô bé Cửa Suốt dưới chân núi Tiên, có giếng nước ngọt ngay bên bờ vịnh Bái Tử Long

    Heritage spaces · Vân Đồn

  • Chợ phiên Đồng Văn

    Chợ phiên thứ bảy dưới chân núi Cao Ba Lanh, nơi khách tự đi chợ mua thịt, rau rồi mang tới quán nhờ xào phở

    Local markets · Hoành Mô

  • Chợ Bình Liêu

    Chợ phiên chủ nhật ở trung tâm vùng biên Bình Liêu, nơi người Tày, Dao, Sán Chỉ mang sản vật núi rừng xuống bán

    Local markets · Bình Liêu

  • Khu di tích – danh thắng Yên Tử

    Núi thiêng nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành, lập Thiền phái Trúc Lâm; hệ thống chùa, am, tháp lên tới chùa Đồng trên đỉnh 1.068 m.

    Heritage spaces · Yên Tử

  • Nghi lễ Then của người Tày

    Lẩu then của người Tày Quảng Ninh: bà Then gảy đàn tính dẫn đoàn quân then lên Mường Trời cầu an, giải hạn

    Customs & etiquette · Bình Liêu

  • Đảo Cô Tô

    Đảo chính của đặc khu Cô Tô, cách đất liền khoảng 80 km, có các bãi Vàn Chảy, Hồng Vàn, Bắc Vàn, bãi đá Móng Rồng, hải đăng và Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Nature & seasons · Cô Tô

  • Bảo tàng Quảng Ninh

    Bảo tàng tổng hợp hạng I trong tòa nhà vỏ kính đen lấy ý tưởng từ khối than, bên bờ vịnh Hạ Long; ba tầng trưng bày về biển đảo, lịch sử và nghề mỏ.

    Museums · Hạ Long, Quang Ninh · 1

  • Thác Khe Vằn

    Thác ba tầng cao khoảng 100 m ở đầu nguồn suối Lục Ngù, nơi hẹn hò hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ

    Nature & seasons · Bình Liêu

  • Bãi biển Trà Cổ

    Bãi biển dài 17 km từ mũi Sa Vĩ đến mũi Ngọc ở Móng Cái, nơi bắt đầu hình chữ S của Việt Nam, bên đình Trà Cổ là di tích quốc gia đặc biệt.

    Nature & seasons · Móng Cái 1

  • Chợ Tiên Yên

    Chợ trung tâm nơi ngã ba Đông Bắc, đông chiều khi thuyền cập bến và sáng chủ nhật khi bà con vùng cao xuống chợ

    Local markets · Tiên Yên

  • Chợ Móng Cái

    Chợ 1 bốn tầng, gần 1.000 gian hàng ở khu thương mại sát cửa khẩu, chỉ họp buổi sáng

    Local markets · Móng Cái 1

  • Khu du lịch Bãi Cháy – Sun World Hạ Long

    Tổ hợp vui chơi khoảng 200 ha ở Bãi Cháy và đồi Ba Đèo, nối bằng cáp treo Nữ Hoàng có cabin 230 khách giữ kỷ lục Guinness; có vòng quay Mặt Trời và công viên nước.

    Nature & seasons

  • Chùa Ba Vàng

    Ngôi chùa tên cổ Bảo Quang Tự ở lưng chừng núi Thành Đẳng, độ cao khoảng 340 m phía tây Uông Bí; di tích cấp tỉnh, xây dựng lại quy mô lớn năm 2011–2014.

    Heritage spaces · Uông Bí

  • Đảo Ti Tốp

    Đảo nhỏ giữa vịnh Hạ Long có bãi cát hình trăng lưỡi liềm và khoảng 400 bậc lên đỉnh; tên đảo do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt năm 1962.

    Nature & seasons

  • Chợ Vườn Đào

    Chợ dân sinh của phố Vườn Đào, Bãi Cháy, đầu tư thành trung tâm thương mại hơn 15.000 m² từ năm 2000

    Local markets · Bãi Cháy

  • Lễ hội đình Đầm Hà

    Ba ngày hội từ 15 đến 17 tháng Giêng thờ Thành hoàng làng Đầm Hà, có hát nhà tơ và Lễ Cáo trạng khuyến học

    Festivals · Đầm Hà

  • Ngày hội Kiêng gió

    Ngày 4/4 âm lịch, người Dao Thanh Phán ở Đồng Văn cũ rời nhà đón thần Gió, cả bản đi chơi chợ

    Festivals · Hoành Mô

  • Miến dong Bình Liêu

    Miến làm hoàn toàn từ củ dong riềng của vùng Bình Liêu, sợi xanh lục nhạt, dai mà nấu lại không nát

    Souvenirs

  • Gốm Đông Triều

    Gốm nặng lửa nung lò bầu khoảng 1.300 độ C của Quảng Ninh, nổi tiếng chậu hoa men xanh cỡ lớn

    Souvenirs

  • Bình Liêu – cột mốc 1300

    Cột mốc biên giới Việt – Trung ở ngã ba Lạng Sơn – Quảng Ninh – Quảng Tây, đầu tuyến đường tuần tra biên giới Bình Liêu; mùa hoa lau tháng 10–12.

    Nature & seasons · Hoành Mô

Heritage spaces

Chùa Quỳnh Lâm

Chốn tổ Trúc Lâm trên núi Tiên Du, nơi Pháp Loa lập viện Quỳnh Lâm năm 1316

Bình Khê, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trên núi Tiên Du, một ngọn đồi thoai thoải thuộc dãy núi vòng cung Đông Triều, chùa Quỳnh Lâm quay mặt ra một hồ nước lớn, ba phía còn lại là đồi núi bao bọc, thế đất người xưa gọi là "rồng chầu hổ phục". Ngôi chùa nay thuộc phường Bình Khê (phường Tràng An cũ) và là một di tích của Khu di tích Quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều. Tên thường gọi của chùa là chùa Quỳnh, và câu "Sân chùa Muống, ruộng chùa Quỳnh" còn nhắc lại thời chùa có ruộng đất rộng lớn.

Chùa được khởi dựng từ thời Lý. Thiền sư Minh Không đã đúc tại đây pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6 trượng, khoảng 20 m, đặt trong tòa điện cao chừng 23 m; pho tượng đứng đầu "An Nam tứ đại khí", cùng tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh. Sang thế kỷ XIV, Pháp Loa, vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm, lập viện Quỳnh Lâm năm 1316, mở các giảng hội kinh Hoa Nghiêm và biến nơi này thành chỗ đào tạo tăng sĩ; chùa được coi là học viện Phật giáo đầu tiên của Đại Việt thời Trần, và năm 1329 được gọi là "Đệ nhất danh lam cổ tích của nước An Nam". Thế kỷ XVII, Thiền sư Chân Nguyên chọn Quỳnh Lâm làm điểm khởi đầu phong trào phục hưng Thiền phái Trúc Lâm. Năm 1991, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử, nghệ thuật cấp Quốc gia.

Điều nên biết trước khi bước vào: chùa đã nhiều lần bị phá hủy rồi dựng lại, và đến giữa thế kỷ XX chỉ còn là phế tích. Ngôi chùa bạn thấy hôm nay được khánh thành ngày 12/12/2020, sau hơn bốn năm tu bổ. Kiến trúc trung tâm được dựng lại đúng vị trí dấu vết kiến trúc thời Lê mà đợt khai quật năm 2009 làm lộ ra, dùng hơn 1.500 m³ gỗ lim, và tái sử dụng các chân tảng, bó thềm đá cũ tìm thấy tại chỗ. Gỗ là mới, còn nhiều viên đá dưới chân cột thì đã nằm ở đây hàng trăm năm.

Ngay trước tam quan là tấm bia "Trùng tu tái tạo Tiên Du sơn đệ nhất Quỳnh Lâm tự", cao khoảng 2,5 m. Bia vốn dựng thời Lý; đến thời Lê Trung hưng, người ta gọt bỏ toàn bộ minh văn để khắc lại, nhưng hình rồng uốn lượn kiểu Lý vẫn còn trên bia. Qua tam quan là ba tòa điện nối nhau rộng hơn 1.000 m²: Thích Ca Phật điện ở ngoài cùng với hai cột gỗ ngọc am, Di Lặc Phật điện ở giữa thờ Tam thế Phật, và Lưu Ly Phật điện phía sau đặt tượng Phật Thích Ca bằng ngọc nguyên khối nặng 3,5 tấn, cao 2,2 m. Gác chuông treo quả chuông đồng đúc thời Nguyễn. Dành thời gian cho vườn chùa: hệ thống tháp ghép bằng đá xanh, Tuệ Đăng tháp của Thiền sư Chân Nguyên, các chân tảng và bậc thềm đá thời Lý, Trần, Lê, hai cối quay bằng đá từng thuộc tòa Cửu phẩm liên hoa.

Phần lớn những gì đứng trên mặt đất là công trình mới; dấu xưa nằm ở bia, tháp và đá, nên nếu đi nhanh bạn dễ nghĩ đây chỉ là một ngôi chùa mới. Vào chùa không mất vé, còn giờ mở cửa hiện chưa thấy cơ quan quản lý công bố. Đông nhất là dịp lễ hội từ mùng 1 đến mùng 3 tháng 2 âm lịch, ngày dương lịch thay đổi theo năm: phần lễ có rước lễ của các khu phố, rước nước tại Hồ Quỳnh, gióng trống thỉnh chuông khai hội; phần hội có đua thuyền, vật cổ truyền, văn nghệ. Quỳnh Lâm là chùa đang có chư tăng tu hành và là nơi người dân đến lễ Phật, nên các nghi lễ trong ngày hội là việc của nhà chùa và các khu phố; khách hợp nhất là đứng xem phần lễ và cùng vui ở phần hội.

Chùa hợp với người muốn hiểu Thiền phái Trúc Lâm từ một nơi từng là trường đào tạo tăng sĩ của nó, và với ai đang đi Yên Tử hay khu di tích nhà Trần muốn thêm một chặng có câu chuyện. Nếu bạn chỉ tìm một ngôi chùa cổ còn nguyên kiến trúc gỗ xưa, Quỳnh Lâm sẽ không đáp ứng điều đó; khi ấy hãy ghép đền An Sinh, Thái miếu và các lăng vua Trần ở phường An Sinh, hoặc lên am, chùa Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên cùng phường Bình Khê để đi trọn mạch Trúc Lâm ở Đông Triều.

What to experience

  • Lễ Phật tại ba tòa điện gỗ lim
  • Chiêm bái tượng Phật ngọc Thích Ca nguyên khối
  • Xem bia đá thời Lý trước tam quan
  • Dạo vườn tháp đá xanh và chân tảng cổ
  • Dự lễ hội chùa (mùng 1–3 tháng 2 âm lịch)

Keywords

  • không gian di sản
  • chùa
  • Quảng Ninh
  • Đông Triều
  • phường Bình Khê
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • nhà Trần
  • An Nam tứ đại khí
  • lễ hội chùa Quỳnh Lâm

Festivals

Lễ hội đình Lục Nà

Hội xuân 16 và 17 tháng Giêng thờ Thành hoàng Hoàng Cần ở ngôi đình duy nhất của vùng Bình Liêu

Lục Hồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Rằm tháng Giêng vừa qua một ngày, sáng 16 tháng Giêng âm lịch, đồng bào Tày, Dao, Sán Chỉ ở xã Lục Hồn lại kéo về đình Lục Nà ở thôn Bản Cáu để khai hội. Lễ hội đình Lục Nà diễn ra hai ngày 16 và 17 tháng Giêng; ngày dương thay đổi theo năm, kỳ 2026 rơi vào 4 và 5/3. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của đồng bào các dân tộc trong xã, một trong bốn lễ hội lớn của vùng Bình Liêu, và mở đầu mùa hội xuân nơi biên giới trước Hội Soóng cọ, Hội Kiêng gió.

Đình thờ Thành hoàng làng Hoàng Cần. Sự tích kể rằng chàng trai Tày Hoàng Cần thông minh, sức vóc cường tráng, đã tập hợp trai làng ngày đêm luyện võ, rồi chỉ với chiếc gậy tre trong tay đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giữ yên bản làng. Sau khi ông mất, người Bình Liêu dựng đình, tôn ông làm Thành hoàng và mở hội mỗi dịp đầu xuân; đình cũng thờ các vị thần núi, thần sông, thổ công, thổ địa. Theo sử sách, đình có từ thời Hậu Lê, xưa là đình hàng tổng năm gian, và được UBND tỉnh xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2005. Điều đáng để ý là đình, vốn là thiết chế quen thuộc của làng miền xuôi, ở đây lại là ngôi đình duy nhất của huyện Bình Liêu cũ, và lễ hội là chỗ hai lớp văn hóa gặp nhau: nghi lễ tế tại đình do đội tế miền xuôi truyền lại, còn màn múa chầu đón thần sau lễ tế lại do các nghệ nhân hát then người Tày đảm nhận.

Sáng 16 tháng Giêng là lễ rước sắc phong, bài vị Thành hoàng đi một vòng quanh thôn Bản Cáu. Đi đầu là những người đội mâm lễ, cầm cờ hội, gồm thiếu nữ Tày áo chàm, Dao áo đỏ, Sán Chỉ áo xanh, rồi đến đoàn rước ngai, bà con nối nhau theo sau. Năm 2026, đoàn rước 96 người đi từ trong đình ra cổng chính, vòng qua hồ, qua đoạn quốc lộ rồi trở về sân đình, nơi công trạng Thành hoàng được tái hiện bằng các bài võ cổ truyền. Tiếp đó là lễ tế thần do ban tế 24 người thực hiện, người chủ tế được dân làng chọn kỹ từ một gia đình gương mẫu; ngoài ra còn lễ giã đình. Phần hội có giao lưu then cùng đàn tính với các câu lạc bộ từ Lạng Sơn, hát soóng cọ của người Sán Chỉ, đẩy gậy, tung còn, đánh quay, kéo co, giải bóng đá cúp đình Lục Nà; bà con còn trải chiếu thụ lộc ngay giữa sân đình.

Bạn nên biết trước rằng lễ hội được huyện Bình Liêu phục dựng từ đầu năm 2006, dựa trên tư liệu và trí nhớ của người cao tuổi; theo cán bộ văn hóa địa phương, nhiều yếu tố đã được sáng tạo thêm, và từ năm 2023 địa phương còn phối hợp với Viện Dân tộc học để nghiên cứu, hoàn thiện nghi lễ. Vì thế chương trình thay đổi khá nhiều qua từng năm: lộ trình rước, các giải thể thao, đêm văn nghệ đều do ban tổ chức sắp xếp lại mỗi kỳ. Nghi lễ chính chỉ diễn ra trong buổi sáng ngày 16; nguồn chính thức chưa nêu giờ cụ thể từng nghi lễ, có thu phí hay không, hay số liên hệ của ban tổ chức, nên hãy theo dõi thông báo của xã Lục Hồn trước khi đi.

Rước và tế là nghi lễ của cộng đồng: bạn đứng xem bên đường, nhường lối cho đoàn rước ngai, nhất là khi đoàn đi qua đoạn quốc lộ, và không chen vào khu vực đội tế đang hành lễ. Các trò chơi dân gian thì khác: từ năm 2026 chúng được bố trí thành không gian mở ở sân đình và sân cỏ thôn Bản Cáu để du khách cùng chơi thay vì chỉ đứng xem.

Lễ hội hợp với người muốn thấy hội xuân của cộng đồng Tày miền biên giới và nghe then cùng đàn tính giữa sân đình; nếu chỉ có một buổi, hãy đến vào sáng 16 tháng Giêng để kịp đoàn rước. Nếu bạn đến Lục Hồn vào mùa thu, bạn sẽ không gặp lễ hội này mà gặp Hội Mùa vàng: lễ khai mạc và Lễ mừng cơm mới của người Tày cũng diễn ra tại đình Lục Nà (năm 2026 dự kiến ngày 24 và 25/10), nhưng đó là một sự kiện khác, gắn với mùa lúa chín trên những thửa ruộng bậc thang Cao Thắng gần đó.

What to experience

  • Xem rước bài vị Thành hoàng sáng 16 tháng Giêng
  • Xem lễ tế thần và múa chầu đón thần tại đình
  • Nghe giao lưu hát then – đàn tính, hát soóng cọ
  • Chơi tung còn, đánh quay, đẩy gậy cùng người địa phương
  • Xem giải bóng đá cúp đình Lục Nà
  • Mua đặc sản OCOP tại gian hàng trong khuôn viên đình

Keywords

  • lễ hội
  • đình Lục Nà
  • Lục Hồn
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • người Tày
  • hát then – đàn tính
  • rước sắc phong
  • tháng Giêng

Heritage spaces

Quần thể di tích Thương cảng Vân Đồn

Hệ thống bến thuyền buôn lập năm 1149 trên các đảo vịnh Bái Tử Long, nay là di tích quốc gia đặc biệt

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ cảng Ao Tiên ở Vân Đồn, tàu cao tốc chạy gần một giờ để đưa bạn ra đảo Quan Lạn, nơi có bến Cái Làng, một trong hai bến trung tâm của Thương cảng Vân Đồn ở khu vực này. Thương cảng không phải một bến duy nhất mà là cả một hệ thống bến thuyền rải trên nhiều đảo của vịnh Bái Tử Long, trong phạm vi khoảng 200 km². Nó được thành lập năm 1149 dưới thời vua Lý Anh Tông và được tỉnh Quảng Ninh giới thiệu là thương cảng đầu tiên của nước Đại Việt.

Suốt gần bảy thế kỷ, tàu buôn từ Trung Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ, Philippines và châu Âu cập các bến Cống Đông, Cống Tây, Cái Làng, Cống Cái, Cái Cổng, Con Quy, Cống Yên, Cống Hẹp. Hàng xuất đi là trầm hương, ngọc trai, ngà voi, vỏ quế, vàng, bạc, đồng, hải sản; hàng nhập về là gấm vóc. Cuối thời Trần, đầu thời Lê, Vân Đồn còn là cửa ngõ đưa gốm men nâu thời Trần và men lam thời Lê sơ ra thị trường quốc tế. Đến đầu thế kỷ 19, thương cảng thôi hoạt động, các bến thành bến cá của cư dân địa phương. Thứ còn lại là hàng triệu mảnh sành sứ, nền nhà, nền chùa và tiền đồng trong lòng đất bờ vụng. Di tích được xếp hạng quốc gia năm 2003 và được nâng lên di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 1225/QĐ-TTg ngày 24/10/2023.

Vì sao cảng lại rải ra nhiều nơi như vậy? Nhìn vào đảo Cống Đông và Cống Tây sẽ hiểu: hai đảo nằm song song, kẹp giữa một dải nước sâu, kín gió mà người địa phương gọi là sông Cống Đông. Dọc hai bờ là hàng loạt vụng ăn sâu vào vách núi như vụng chùa Lấm, vụng chùa Cát, vụng Chuồng Bò, vụng Huyện, mỗi vụng là một chỗ neo thuyền riêng. Trên sườn núi các vụng, nhà Trần dựng chùa tháp để cư dân và thương thuyền cầu “thuận buồm mát mái, buôn bán hanh thông”; phế tích Bảo tháp nằm lưng chừng núi ở độ cao khoảng 60 m. Ở Quan Lạn, bờ phía đông bến Cái Làng có một dải khoảng 200 m chứa gốm men, sành của nhiều thời kỳ, và giếng Hệu, người dân còn gọi là giếng Nàng Tiên, vẫn đầy nước quanh năm. Gần đó là cụm đình, chùa, miếu Quan Lạn và đền thờ Trần Khánh Dư, vị Nhân huệ vương từng được vua Trần giao trấn giữ vùng Vân Đồn; đình Quan Lạn còn giữ bức tranh của một họa sĩ Tây Ban Nha phác họa bến Cái Làng.

Nói thẳng để bạn chuẩn bị: đây là quần thể có hàng chục điểm di tích nằm rải rác, cách xa nhau, nhiều chỗ chỉ còn là phế tích; diện mạo sầm uất xưa không còn, nên đừng chờ một khu thành cổ hay một phòng trưng bày đầy hiện vật tại chỗ. Các cụm di tích nằm trên những đảo khác nhau và chỉ đi được bằng tàu. Khi triều xuống thấp, tàu lớn khó cập bến Quan Lạn nên giờ xuất cảng từ Ao Tiên có lúc phải điều chỉnh theo con nước; chiều về đất liền thường chỉ có ba đến bốn chuyến trong ngày. Dịp lễ, tuyến đảo rất đông: riêng ngày 30/4/2026 có 61 chuyến tàu đưa gần 4.200 lượt khách ra Quan Lạn.

Ở đình, chùa, miếu Quan Lạn và đền thờ Trần Khánh Dư, người dân vẫn đang thờ tự, vì vậy hãy ăn mặc kín đáo và giữ trật tự. Những mảnh sành sứ, gạch ngói trên bờ vụng nằm trong khu vực bảo vệ của một di tích quốc gia đặc biệt, nên chỉ ngắm và chụp ảnh, không nhặt mang về.

Thương cảng Vân Đồn hợp với người mê lịch sử giao thương, khảo cổ và gốm sứ, nhất là khi bạn nghỉ lại Quan Lạn một đêm và dành thêm một buổi đi chậm qua bến Cái Làng, cụm đình chùa và giếng cổ. Nếu chỉ có nửa ngày hoặc không muốn đi tàu biển, nơi này sẽ khó trọn vẹn; muốn tận mắt xem hiện vật, bạn có thể tìm đến Bảo tàng Quảng Ninh, nơi đang trưng bày những mảnh gốm trang trí thế kỷ 13 và 14 từ Bảo tháp trên đảo Thắng Lợi. Còn nếu đã ra Quan Lạn mà chỉ muốn nghỉ ngơi, bãi cát Minh Châu và rừng trâm thuộc Vườn quốc gia Bái Tử Long ngay trên cùng hòn đảo là lựa chọn nhẹ nhàng hơn.

What to experience

  • Tham quan cụm đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn
  • Viếng đền thờ Trần Khánh Dư trên đảo Quan Lạn
  • Thuê xe máy hoặc xe điện đi lại trên đảo Quan Lạn

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • đặc khu Vân Đồn
  • đảo Quan Lạn
  • thương cảng cổ
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • khảo cổ học
  • vịnh Bái Tử Long

Festivals

Lễ hội Yên Tử

Ba tháng hội xuân từ 10 tháng Giêng, hành hương về đất tổ Thiền phái Trúc Lâm, lên chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử

Yên Tử, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Mỗi năm, ngày 10 tháng Giêng âm lịch, Yên Tử mở hội. Lễ khai hội diễn ra dưới chân núi (hai kỳ gần đây tại Cung Trúc Lâm, phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, tức xã Thượng Yên Công, Uông Bí cũ), rồi mùa hội kéo dài suốt ba tháng, đến hết tháng 3 âm lịch. Ngày dương thay đổi theo năm: kỳ 2026 khai hội ngày 26/2 và kéo đến 16/5. Đây là lễ hội lớn nhất đầu xuân của Quảng Ninh, dịp người ta về vùng đất tổ của Phật giáo Việt Nam để lễ Phật, cầu an.

Lý do của chuyến hành hương nằm ở một con người: Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308). Sau hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt kháng chiến thắng lợi trước quân Nguyên Mông (1285 và 1288), ông truyền ngôi cho con và năm 1299 lên núi Yên Tử tu hành, lấy Phật danh Điều Ngự Giác Hoàng, trở thành đệ nhất Tổ của Thiền phái Trúc Lâm; Pháp Loa và Huyền Quang kế tục, ba vị được gọi chung là Trúc Lâm Tam Tổ. Dòng thiền ấy đề cao tinh thần "nhập thế", tức hòa đạo với đời, nên với nhiều người, leo Yên Tử đầu năm vừa là lễ Phật, vừa là tri ân tiền nhân theo truyền thống "uống nước nhớ nguồn". Câu ca dao "Trăm năm tích đức tu hành, chưa về Yên Tử chưa thành quả tu" vẫn được nhắc lại mỗi mùa xuân.

Trước ngày khai hội, Hội Phật giáo tỉnh Quảng Ninh làm lễ mở cửa rừng tại chùa Trình. Sáng mồng 10, lễ khai hội mở đầu bằng đoàn rước kiệu do người dân thực hiện; năm 2025 có 11 đội kiệu của các xã, phường, mỗi kiệu 16 đến 20 người khiêng, đi từ Cổng Khai Tâm qua Quảng trường Minh Tâm vào Cung Trúc Lâm, dẫn đầu là Đôi Rồng, đội Bát âm, Bát bửu cùng cờ Phật giáo và cờ hội. Sau diễn văn khai hội, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh chủ trì nghi thức chúc phúc đầu năm; tiếng trống, tiếng chuông báo hội chính thức bắt đầu; tiếp đó là khóa lễ dâng hương cầu quốc thái dân an và lễ đóng dấu thiêng trên ấn Yên Tử. Phần lễ khép lại thì dòng người bắt đầu leo núi.

Đường hành hương đi qua chùa Giải Oan, vườn tháp Huệ Quang (Tháp Tổ), chùa Hoa Yên ở độ cao 535 m, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu rồi lên chùa Đồng trên đỉnh 1.068 m. Đi bộ mất khoảng 4 đến 5 giờ với hơn 6.000 bậc; đi hai tuyến cáp treo Hoàng Long và Bạch Long thì khoảng 2 giờ, nhưng từ ga trên vẫn phải leo bộ hơn nửa giờ mới tới chùa Đồng. Dưới chân núi, Quảng trường Minh Tâm có múa rồng lân, nhạc cụ dân tộc, trò chơi dân gian và món ăn của người Dao Thanh Y. Từ năm 2026 đến hết năm 2028, vé tham quan Yên Tử là 0 đồng theo nghị quyết của HĐND tỉnh, còn cáp treo vẫn tính phí riêng. Hãy chuẩn bị cho cảnh đông: chỉ riêng 9 ngày Tết năm 2026, khu di tích đã đón khoảng 171.000 lượt khách, và lễ khai hội năm 2024 có khoảng 20.000 người dự.

Đây trước hết là mùa hành hương của tăng ni, phật tử. Tại lễ khai hội 2026, lãnh đạo tỉnh đề nghị người dự hội tôn trọng không gian thiêng của di sản, giữ gìn cảnh quan và môi trường, bởi đường hành hương đi dưới tán cây cổ thụ của Rừng quốc gia Yên Tử. Lễ đóng dấu thiêng ở các kỳ gần đây do các đại biểu thực hiện ngay trong lễ khai hội; nếu muốn xem đoàn rước hay khóa lễ, hãy đứng ngoài lối đi của kiệu và khu hành lễ.

Lễ hội hợp với người muốn đi lễ đầu năm theo cách truyền thống của người Việt, và với ai quan tâm Thiền phái Trúc Lâm, Phật hoàng Trần Nhân Tông. Nếu ngại chen chúc, từ tháng 4 đến tháng 10 Yên Tử vắng hơn, không phải xếp hàng khi đi lại hay làm lễ, dù khi đó không còn không khí hội. Còn nếu muốn đi trọn dấu Trúc Lâm ở Quảng Ninh, bạn có thể ghép khai hội Xuân Ngọa Vân (mồng 9 tháng Giêng, đi trước Yên Tử một ngày) ở phường Bình Khê, chùa Quỳnh Lâm hoặc Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều.

What to experience

  • Dự lễ khai hội ngày 10 tháng Giêng tại Cung Trúc Lâm
  • Xem rước kiệu, gióng trống, thỉnh chuông khai hội
  • Hành hương lên chùa Hoa Yên và chùa Đồng
  • Đi cáp treo Hoàng Long, Bạch Long (vé tính riêng)
  • Xem múa rồng lân, trò chơi dân gian ở Quảng trường Minh Tâm
  • Thưởng thức ẩm thực của người Dao Thanh Y

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • Yên Tử
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • Phật hoàng Trần Nhân Tông
  • hành hương
  • tháng Giêng âm lịch
  • di sản thế giới UNESCO

Festivals

Lễ hội Bạch Đằng

Lễ "Giỗ Trận" mồng 6 đến 9 tháng Ba ở Quảng Yên, rước tượng Đức Thánh Trần từ đền về đình Yên Giang

Quảng Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Mỗi năm, từ mồng 6 đến mồng 9 tháng Ba âm lịch, người Quảng Yên lại mở Lễ hội Bạch Đằng tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Bạch Đằng, bên tả ngạn sông Bạch Đằng ở phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Ngày dương thay đổi theo năm: kỳ 2025 rơi vào 3 đến 6/4, kỳ 2026 vào 22 đến 25/4. Người địa phương gọi gọn là lễ "Giỗ Trận", tức ngày tưởng niệm những trận thủy chiến trên chính khúc sông này. Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa lễ hội vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lễ hội gắn với ba chiến thắng trên sông Bạch Đằng: năm 938 Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, năm 981 Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn đánh bại quân nhà Tống, và mùa Xuân năm Mậu Tý 1288 Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng quân dân nhà Trần đánh tan đoàn thủy binh của quân Nguyên Mông. Với người Quảng Yên, Trần Hưng Đạo không chỉ là nhân vật trong sử sách: theo lời người dân địa phương, vùng này suy tôn ông là Thành hoàng làng, và đình Yên Giang, nơi thờ Thành hoàng làng Yên Giang, chính là nơi tượng Ngài được rước về tế lễ trong những ngày hội. Vì thế "giỗ trận" vừa là lễ tri ân tiền nhân, vừa là việc của làng.

Đêm khai hội bắt đầu bằng nghi lễ dâng hương tại đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà, gióng trống khai hội, chương trình nghệ thuật tái hiện chiến thắng Bạch Đằng, rồi thả đèn hoa đăng ở Bến đò cổ. Tâm điểm là lễ rước tượng Đức Thánh Trần: hai kỳ 2024 và 2025, tượng được rước từ đền Trần Hưng Đạo về đình Yên Giang vào sáng mồng 7 và rước trở về đền vào mồng 8 tháng Ba. Đoàn rước có múa lân dẫn đầu, các đội tế mặc trang phục rực rỡ, mâm lễ chuẩn bị kỳ công, hình ảnh vua quan thời Trần được tái hiện; người tham gia từ các cụ cao tuổi đến học sinh; năm 2024 có 58 đoàn rước, năm 2026 hơn 40 đoàn. Dọc đường kiệu đi qua, người dân bày lễ vật trước nhà, và có tục để trẻ em chui qua kiệu rước, cầu sức khỏe, học hành tiến bộ. Lễ tế Yết diễn ra tại đình Yên Giang, còn tế Chính hội và tế Giã hội tại đền Trần Hưng Đạo.

Phần hội từ lâu có những trò diễn, trò chơi dân gian như hát đúm, cờ người, tổ tôm điếm, đánh đu, đấu vật, chọi gà và đua thuyền. Những năm gần đây, đua thuyền trên sông Bạch Đằng là hoạt động thu hút đông người xem nhất, bên cạnh kéo co, vật truyền thống, hát chèo, quan họ và văn nghệ quần chúng; danh mục trò chơi thay đổi theo từng kỳ.

Nên biết trước rằng lễ hội trải trên nhiều điểm: đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Yên Giang ở phường Quảng Yên, đền Trung Cốc ở phường Phong Cốc và đình Trung Bản ở phường Liên Hòa. Chương trình từng ngày được công bố theo năm (từ năm 2026, lễ hội do Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Yên Tử chủ trì), nên hãy xem thông báo của kỳ đó trước khi đi. Đêm khai hội và buổi rước thu hút hàng nghìn người, đoàn rước kéo dài hàng cây số trên các tuyến phố. Đây là nghi lễ của một cộng đồng đang thực hành tín ngưỡng: nếu muốn xem hay chụp ảnh, hãy đứng ở lề đường, không cắt ngang đội hình rước và không lấn vào mâm lễ người dân bày trước nhà.

Lễ hội hợp với người muốn thấy tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần còn sống trong đời sống một vùng quê, với gia đình có con tuổi đi học và người quan tâm lịch sử thời Trần. Nếu bạn ngại đông, có thể đến khu di tích vào ngày thường để xem đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà và bãi cọc Yên Giang trong không khí yên tĩnh hơn, chỉ là sẽ không gặp đoàn rước. Còn nếu muốn đi sâu thêm vào dấu tích nhà Trần ở Quảng Ninh, bạn có thể nối hành trình tới Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều hoặc danh thắng Yên Tử.

What to experience

  • Xem lễ rước tượng Đức Thánh Trần về đình Yên Giang
  • Dự đêm khai hội, thả đèn hoa đăng ở Bến đò cổ
  • Dâng hương tại đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà
  • Xem tế Yết, tế Chính hội, tế Giã hội
  • Xem đua thuyền trên sông Bạch Đằng
  • Xem trò chơi dân gian: cờ người, đánh đu, đấu vật

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • Quảng Yên
  • Giỗ Trận
  • Đức Thánh Trần
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • tháng 3 âm lịch
  • sông Bạch Đằng

Art & creative spaces

Hát Then Bình Liêu

Then cổ và then văn nghệ của người Tày Bình Liêu, đi cùng cây tính tẩu hai dây và chùm xóc nhạc

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở Bình Liêu, vùng biên giới phía Đông Bắc Quảng Ninh, hát Then là tiếng hát của người Tày đi cùng cây đàn tính và chùm xóc nhạc. Người Tày chiếm hơn một nửa dân số vùng Bình Liêu cũ, và làn điệu Then được giữ đậm nét nhất ở ba xã Bình Liêu, Lục Hồn, Hoành Mô. Chữ “Then” được giải thích là đọc chệch từ “Thiên”, nghĩa là trời: hát Then là khúc hát gửi lên trời, một loại hình diễn xướng dân gian gộp cả ca, múa, nhạc và diễn trò.

Hát Then ở đây có hai dạng. Then nghi lễ, hay then cổ, gắn với tín ngưỡng và là phần lời hát của nghi lễ lảu then. Then văn nghệ, còn gọi then tân hay then mới, là khi nghệ nhân đặt lời mới trên làn điệu cổ để hát trên sân khấu, trong dịp lễ Tết, tiệc cưới hay những buổi giao lưu. Lời then kể từng chặng đường của “đoàn quân then”: lúc giục giã, lúc khoan thai dừng nghỉ bên đường, khi thỉnh cầu tha thiết, khi vượt biển rộn rã; mỗi chương đoạn được gọi là “không” và “khái”. Nét riêng dễ nhận ra nhất nằm ở cây đàn. Tính tẩu, nghĩa là “đàn bầu”, có thân làm từ nửa quả bầu khô và cần gỗ trơn không phím; ở Bình Liêu đàn chỉ có hai dây thay vì ba dây như nhiều nơi khác, và người hát Then dùng thêm một chiếc chuông nhỏ. Quảng Ninh là một trong 11 tỉnh có di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái được UNESCO ghi danh năm 2019.

Hát Then sống nhờ các câu lạc bộ ở thôn, khu. Năm 2022, vùng Bình Liêu có 6 câu lạc bộ văn nghệ cấp xã và 7 câu lạc bộ cấp thôn, khu, mỗi nơi từ 15 đến 30 hội viên; những nơi như thôn Cốc Lồng ở Lục Hồn, khu Chang Nà, Nà Làng ở Bình Liêu hay thôn Cửa Khẩu ở Hoành Mô vẫn giữ tốt làn điệu. Dịp dễ nghe nhất là lễ hội đình Lục Nà ở xã Lục Hồn, ngày 16 tháng Giêng âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm): kết thúc lễ tế là màn múa chầu đón thần do các nghệ nhân hát then thực hiện, phần hội có thi hát then, đàn tính và giao lưu với các đội then từ Lạng Sơn, Cao Bằng. Ở các ngày hội, câu lạc bộ thường diễn những trích đoạn then cổ như Mả khoăn (gọi vía), Quá hải (vượt biển), xen với các bài then lời mới. Câu lạc bộ hát then và đàn tính xã Hoành Mô, khoảng 40 thành viên, cho biết họ biểu diễn phục vụ đoàn khách tại cơ sở lưu trú khi khách có nhu cầu.

Hát Then không có nhà hát hay lịch diễn cố định. Ngoài các dịp lễ hội, ngày hội, muốn nghe phải hỏi trước qua nơi lưu trú hoặc chính quyền xã, và hiện chưa có đầu mối đặt lịch hay mức phí nào được công bố chính thức. Lời hát bằng tiếng Tày, nên nếu không có người giải thích, bạn sẽ cảm nhận giai điệu nhiều hơn là hiểu lời. Lớp nghệ nhân giữ then cổ phần lớn đã cao tuổi, người biết làm đàn tính ở Bình Liêu còn rất ít, còn việc đưa Then thành sản phẩm du lịch cộng đồng mới đang được bàn thảo, như tại hội thảo khoa học về diễn xướng Then tổ chức ở Bình Liêu tháng 5/2024.

Với người Tày, then cổ vốn là một hình thức tín ngưỡng: người ta hát then để giãi bày với trời, để cầu chúc nhau an khang, mùa màng tốt tươi. Những trích đoạn giải hạn hay gọi vía bạn thấy trên sân khấu là phần tái hiện; còn một buổi Then nghi lễ thật diễn ra trong nhà gia chủ, là việc tín ngưỡng của gia đình, không phải tiết mục để đến xem.

Hát Then Bình Liêu hợp với người muốn nghe âm nhạc dân gian của người Tày ngay trong cộng đồng đang hát nó, nhất là khi đi đúng dịp đầu xuân và ghép với lễ hội đình Lục Nà. Nếu muốn hiểu phần tín ngưỡng phía sau làn điệu, hãy đọc thêm mục Nghi lễ Then của người Tày. Còn nếu bạn chỉ ghé Bình Liêu một buổi ngoài mùa lễ hội và không đặt trước, khả năng được nghe một buổi hát then là không chắc chắn.

What to experience

  • Nghe hát then – đàn tính dịp lễ hội đình Lục Nà
  • Xem trích đoạn then cổ tại các ngày hội ở Bình Liêu
  • Mời câu lạc bộ hát then biểu diễn cho đoàn khách

Keywords

  • nghệ thuật & sáng tạo
  • hát then
  • đàn tính
  • người Tày
  • diễn xướng dân gian
  • Bình Liêu
  • Lục Hồn
  • Hoành Mô
  • Quảng Ninh

Heritage spaces

Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều

Đất tụ cư đầu tiên của họ Trần, nơi có lăng các vua Trần, đền An Sinh và Thái miếu

An Sinh, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở cửa ngõ phía Tây Quảng Ninh, trên một đồi đất thôn Trại Lốc, đền An Sinh là cửa vào của cả một vùng di tích trải trên đất các phường An Sinh, Bình Khê và Đông Triều ngày nay. Theo tư liệu lịch sử và phả tộc họ Trần, Đông Triều là đất tụ cư đầu tiên của họ Trần; vua Trần Thái Tông về sau ban vùng này cho anh trai là Trần Liễu làm ấp thang mộc, nên các vua Trần luôn dành cho nơi đây sự quan tâm đặc biệt.

Khu di tích định hình rõ quy mô từ sau năm 1299, khi Thượng hoàng Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành, lập Thiền phái Trúc Lâm. Đến cuối thế kỷ XIV, nhiều lăng vua Trần được xây dựng hoặc chuyển về Đông Triều: lăng Tư Phúc của Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông, Thái Lăng của Trần Anh Tông và Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng hậu, Mục lăng, Ngải Sơn lăng, Phụ Sơn lăng, Nguyên lăng, và Hy Lăng dựng năm 1377. Cùng với lăng là đền miếu thờ các bậc tiên đế và chùa, am phục vụ việc tu hành, giảng đạo, khiến Đông Triều được xem là "Trung tâm Phật giáo" của Đại Việt thời Trần. Vùng bảo vệ của khu di tích rộng hơn 2.200 ha; ngày 09/12/2013, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng nơi này là di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 2383/QĐ-TTg). Tháng 7/2025, hai di tích của khu là Thái Miếu và am và chùa Ngọa Vân nằm trong 12 điểm của Di sản Văn hóa Thế giới Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Đền An Sinh rộng hơn 1.000 m², mặt bằng chữ Công với 5 gian tiền đường, trung điện và hậu cung 5 gian 2 chái, mái hai tầng tám mái. Hậu cung đặt tượng tám vị vua Trần, trung đường thờ Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn, tiền đường đặt bát hương công đồng. Hãy để ý những chân tảng kê cột bằng đá nguyên khối được bày theo ba thời kỳ lịch sử: đợt khai quật gần 900 m² ở điện An Sinh đã tìm thấy dấu tích 25 công trình kiến trúc từ thời Trần đến thời Nguyễn, và ngôi đền hôm nay được phục dựng trên chính nền cũ trong giai đoạn từ 1997 đến 2000. Gần đó, trên đồi Đình là Thái miếu, khởi nguyên là Tiên miếu do An Sinh Vương Trần Liễu dựng khoảng nửa đầu thế kỷ XIII để thờ tổ tiên nhà Trần; công trình được tu bổ từ năm 2014 trên diện tích 16.223 m² và khánh thành ngày 19/12/2017.

Điều cần biết trước: phần lớn lăng vua Trần nay chỉ còn phế tích hoặc dấu tích nền móng đã được khảo cổ định vị, như ba cấp nền ở Thái Lăng hay những viên gạch khắc chữ "Vĩnh Ninh trường" quanh Ngải Sơn lăng. Bạn sẽ đọc lịch sử qua nền đất và hiện vật hơn là qua công trình còn đứng. Các điểm nằm rải rác trên nhiều phường, am Ngọa Vân lại ở độ cao 600 m trên núi Bảo Đài, nên cần phương tiện riêng và sắp xếp thời gian. Giờ mở cửa và giá vé hiện chưa thấy cơ quan quản lý công bố.

Đền An Sinh và Thái miếu là nơi thờ tự đang có người dân hành lễ, các lăng là vùng di tích đã khoanh bảo vệ. Hãy đến với tâm thế của người viếng nơi thờ tổ tiên một dòng họ, và hỏi người trông coi trước khi vào hậu cung hay chụp ảnh. Đông nhất là dịp lễ hội đền An Sinh từ 20 đến 22 tháng 8 âm lịch, trùng ngày giỗ Hưng Đạo Đại vương, với các nghi lễ mộc dục, cáo yết, tế và trò chơi dân gian như kéo co, cờ tướng, đẩy gậy; ngày dương lịch thay đổi theo năm.

Khu di tích hợp với người muốn hiểu nhà Trần và Phật giáo Trúc Lâm từ gốc, người thích khảo cổ, hoặc ai đang đi Yên Tử và muốn thêm một chặng có chiều sâu. Nếu bạn chỉ tìm một công trình cổ nguyên vẹn để ngắm trong thời gian ngắn, đền An Sinh và Thái miếu là đủ; còn muốn đi trọn mạch Trúc Lâm, hãy ghép thêm chùa Quỳnh Lâm, am, chùa Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên ở phường Bình Khê.

What to experience

  • Viếng đền An Sinh, xem hậu cung thờ tám vị vua Trần
  • Xem chân tảng đá nguyên khối trưng bày theo 3 thời kỳ
  • Thăm Thái miếu trên đồi Đình
  • Thăm phế tích các lăng vua Trần
  • Dự lễ hội đền An Sinh (20–22/8 âm lịch)

Keywords

  • không gian di sản
  • nhà Trần
  • Quảng Ninh
  • Đông Triều
  • phường An Sinh
  • lăng các vua Trần
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • khảo cổ

Heritage spaces

Chùa Ngọa Vân

Am, chùa trên núi Bảo Đài, nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn năm 1308, điểm Di sản thế giới

Bình Khê, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trên núi Bảo Đài, phía Tây dãy Yên Tử thuộc vùng Đông Triều, am Ngọa Vân nằm ở độ cao khoảng 600 mét. Tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông lên tu trong một am nhỏ trên ngọn núi này, và ngày mồng 1 tháng 11 âm lịch năm 1308 Ngài nhập Niết bàn tại đây. Cái tên Ngọa Vân nghĩa là “mây nằm”: dãy núi Vây Rồng phía Bắc chặn hơi ẩm từ biển thổi vào, nên sườn Nam, nơi có đỉnh Ngọa Vân, gần như quanh năm mây phủ.

Nếu Yên Tử là nơi Phật hoàng tu luyện và giảng pháp, thì Ngọa Vân là chặng cuối của Ngài, và cũng vì thế mà nơi đây được gọi là Thánh địa của Thiền phái Trúc Lâm. Sau khi Ngài viên tịch, Tổ thứ hai Pháp Loa cùng triều đình mở mang am nhỏ thành một quần thể chùa tháp lớn. Tháp Phật hoàng giữ xá lị của Ngài được thiền sư Đức Hưng xây mới bằng đá năm 1707; ngay cạnh đó là Đoan Nghiêm tháp, tháp mộ của chính vị thiền sư ấy, và tấm bia đá ghi việc trùng tu cùng năm. Chùa Ngọa Vân được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia năm 2006, thuộc Khu di tích nhà Trần tại Đông Triều được xếp hạng quốc gia đặc biệt năm 2013, và từ ngày 12/7/2025 “Am chùa Ngọa Vân” là một trong 12 điểm của Di sản Văn hóa Thế giới Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc.

Quần thể chia ba lớp trên sườn núi. Bạn có thể lên bằng cáp treo, ga đặt ở khu Tàn Lọng, hoặc đi đường hành hương từ phía đền An Sinh men theo suối qua Phủ Am Trà, tới dốc Đô Kiệu, nơi tương truyền vua xuống kiệu vì từ đây chỉ còn cách leo bộ, rồi qua rừng thông Thông Đàn với hai tháp đá được phục dựng năm 2012. Lớp giữa là chùa Ngọa Vân trung, dựng lại trên nền chùa cũ và khánh thành năm 2016 theo lối chữ Nhị mô phỏng ngôi chùa thời Lê Trung hưng, trong tiền đường đặt tượng Phật hoàng bằng đá ngọc bích đỏ. Trên đỉnh là chùa thượng ba gian tường đá, am Ngọa Vân với tượng Phật hoàng trong dáng nằm nhập Niết bàn, hai tháp đá hình hoa sen, am Sơn thần và Bàn Cờ Tiên, điểm cao nhất, vốn là nền tịnh thất xưa.

Nên biết trước rằng phần lớn các công trình bạn thấy hôm nay được dựng lại từ năm 2000 đến 2016 trên nền cũ; lớp cổ còn lại là tháp đá, tấm bia, bệ tượng thời Lê Trung hưng, còn nhiều điểm dưới chân núi như Đá Chồng hay Ngọa Vân 6 chỉ là nền móng giữa rừng. Đường bộ từ Đô Kiệu trở lên dốc cao và dài, hai bên là vực. Vào chùa không mất vé, còn giờ mở cửa và giá cáp treo chưa được công bố trên kênh chính thức, nên hỏi trước tại chỗ. Một số bài báo gần đây ghi địa danh là phường An Sinh vì lối lên đi từ phía An Sinh, còn di tích theo hồ sơ thuộc phường Bình Khê.

Cửa Phủ trên đường lên là nơi thờ Thần Rừng, Thần Núi; theo lệ của người hành hương, ai vào rừng cũng dừng lại thắp hương xin phép trước khi đi tiếp. Am Ngọa Vân là nơi thờ Phật hoàng, gắn với khoảnh khắc Ngài nhập Niết bàn, nên đây là chốn chiêm bái chứ không chỉ là điểm ngắm cảnh. Mùa đông được người địa phương xem là lúc đẹp nhất để hành hương, khi mây phủ đỉnh núi; còn từ mùng 9 tháng Giêng âm lịch là mùa Lễ hội Xuân Ngọa Vân, khai hội trước Yên Tử một ngày, kéo dài đến hết tháng Ba âm lịch.

Ngọa Vân hợp với người muốn hiểu Thiền phái Trúc Lâm từ nơi kết thúc cuộc đời tu hành của Phật hoàng, người thích đi bộ đường rừng và những ai tìm một không gian tĩnh hơn Yên Tử. Nếu muốn đi trọn vẹn vùng di sản nhà Trần, hãy ghép với đền An Sinh và Thái Miếu ở chân núi, hoặc chùa Hồ Thiên trên cung đường Ngọa Vân - Yên Tử; còn nếu chỉ có nửa ngày và ngại leo dốc, cáp treo là cách hợp lý để kịp lên tới am và hai tháp trên đỉnh.

What to experience

  • Chiêm bái am Ngọa Vân, tháp Phật hoàng, Đoan Nghiêm tháp
  • Tham quan chùa Ngọa Vân trung và chùa thượng
  • Đi bộ đường hành hương qua Đô Kiệu, Thông Đàn
  • Lên núi bằng cáp treo (ga khu Tàn Lọng)
  • Dự Lễ hội Xuân Ngọa Vân (từ mùng 9 tháng Giêng)
  • Thiền trà, tọa thiền tại Làng thiền Ngọa Vân

Keywords

  • không gian di sản
  • chùa
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • Phật hoàng Trần Nhân Tông
  • Di sản Văn hóa Thế giới
  • Đông Triều
  • phường Bình Khê
  • Quảng Ninh
  • hành hương

Festivals

Lễ hội đình Quan Lạn

Hội chèo bơi trên đảo Quan Lạn, chính hội 18 tháng 6 âm lịch, tái hiện chiến thắng Vân Đồn 1288

Vân Đồn, Quang Ninh · Khoảng 10 ngày, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Giữa tháng 6 âm lịch, người dân đảo Quan Lạn ở đặc khu Vân Đồn mở hội làng lớn nhất trong năm. Lễ hội đình Quan Lạn, còn gọi là Lễ hội truyền thống Vân Đồn hay lễ hội chèo bơi, theo lệ cũ kéo dài khoảng mười ngày, từ mùng 10 đến 20 tháng 6 âm lịch (hai kỳ 2025 và 2026 tổ chức đến ngày 19), và chính hội luôn rơi vào ngày 18. Ngày dương lịch đổi theo năm: năm 2025 chính hội là 12/7, năm 2026 là 31/7. Ngày 20/12/2019, lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Lễ hội hướng về Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư và quân dân nhà Trần, những người năm 1288 đã đánh tan đoàn thuyền lương của tướng Nguyên Mông Trương Văn Hổ trên sông Mang, góp phần vào chiến thắng Bạch Đằng cùng năm. Ngày 18 tháng 6 vốn là ngày làng mừng công, đón sắc vua phong cho thành hoàng có công trong trận ấy. Nhưng với cư dân làm biển, đây đồng thời là ngày hội cầu mùa, cầu mưa thuận gió hòa. Lễ hội được phục dựng năm 1993 và diễn ra quanh đình Quan Lạn, miếu Đức Ông và nghè thờ Trần Khánh Dư; kỳ 2026 có thêm đền Trấn Hải, nơi đón Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh ngay trong buổi khai mạc.

Nhịp lễ đi theo lịch cũ của làng. Mùng 10 là lễ khóa làng: theo lệ, dân trong làng không đi đâu, còn người làm ăn xa và khách thập phương thì được về dự hội. Từ ngày 13, làng chia hai giáp Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ, mỗi bên dựng doanh trại riêng để luyện quân và chuẩn bị thuyền; thuyền đua là thuyền đi biển từ 5 đến 6 tấn, hạ buồm, gắn đầu rồng ở mũi. Ngày 16 là lễ nghinh thần, rước bài vị Trần Khánh Dư từ nghè cách đình khoảng 1,5 km về đình. Ngày 18 có rước sắc, tế thần ở đình, miếu, nghè, rồi lễ thu rầm, phong tướng, thu quân về doanh trại tại miếu Đức Ông và diễu hành trên sông Mang.

Khoảng 3 giờ chiều ngày 18, lúc nước triều lên sát bến đình, hai giáp xuất quân: bên văn áo trắng quần xanh, chân quấn xà cạp xanh; bên võ mặc xám hoặc đen. Hai đoàn gặp nhau ba lần ở sân đình, tượng trưng cho ba lần nhà Trần thắng quân Nguyên; đến lần thứ ba, hai vị tướng vào miếu Đức Ông tế và xin lệnh, rồi mới xuống thuyền. Sau ba vòng lượn thuyền trên biển và lời rao, cuộc đua thuyền chải dài 2.000 m bắt đầu. Chỉ có hai đội, một giải nhất và một giải nhì; năm 2025 hai giáp tranh tài hơn một giờ và Đoài Bắc Võ về nhất. Như báo địa phương viết, thắng thua không phải điều quan trọng nhất ở cuộc đua này.

Vì lễ hội diễn ra trên đảo, chuyến đi phụ thuộc vào tàu: từ cảng Ao Tiên ra Quan Lạn mất gần một giờ, chiều về đất liền thường chỉ có ba đến bốn chuyến vào sáng sớm, trưa và đầu giờ chiều, và giờ tàu có lúc điều chỉnh theo con nước. Cuộc đua lại bắt đầu lúc 3 giờ chiều, nên muốn xem trọn bạn gần như phải ngủ lại đảo. Lịch chi tiết từng năm do Ban Tổ chức công bố gần ngày hội và khung ngày có năm lệch nhau một ngày, vì vậy hãy xem thông báo của năm đó. Phần tế trong đình, miếu, nghè là nghi lễ của hai giáp và các vị tướng được chọn; với khách, chỗ theo dõi trọn vẹn nhất là màn diễu hành, ba lần giao quân ở sân đình và cuộc đua dưới bến Đình.

Nếu bạn muốn thấy một hội làng biển còn giữ nguyên cấu trúc doanh trại, phong tướng và đua thuyền theo con nước, hãy ra Quan Lạn trước ngày 18 tháng 6 âm lịch và ở lại ít nhất một đêm; ngoài mùa hội, đình Quan Lạn, miếu Đức Ông và bến Cái Làng của Thương cảng Vân Đồn vẫn đáng một buổi đi chậm. Còn nếu chỉ có nửa ngày hoặc không muốn đi tàu biển, lễ hội này khó trọn vẹn.

What to experience

  • Xem đua thuyền giữa hai giáp Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ
  • Xem hai giáp diễu hành, giao quân ba lần ở sân đình
  • Xem lễ nghinh thần rước bài vị Trần Khánh Dư về đình
  • Xem diễn xướng Thế trận Vân Đồn tại sân đình
  • Tham quan đình Quan Lạn, miếu Đức Ông, nghè Trần Khánh Dư

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • đặc khu Vân Đồn
  • đảo Quan Lạn
  • đua thuyền
  • Trần Khánh Dư
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • tháng 6 âm lịch

Community villages

Khu bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Y Bằng Cả

Nhà sàn, nhà mẫu và sân hội của cộng đồng Dao Thanh Y giữa thung lũng Bằng Cả, nơi mở hội làng mùng 1 tháng 2

Quảng La, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Đi hơn 20 km đường đồi núi theo quốc lộ 279 từ trung tâm Hoành Bồ cũ (thị trấn Trới, nay thuộc phường Hoành Bồ) về phía tây, bạn xuống thung lũng lòng chảo Bằng Cả, nay thuộc xã Quảng La. Giữa những thửa ruộng bậc thang trồng nếp nương, Khu bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Y rộng khoảng 5 ha là không gian chung của cộng đồng: một nhà sinh hoạt văn hóa làm theo lối nhà sàn, hai nhà mẫu phục dựng nhà ở truyền thống của người Dao Thanh Y và một khoảng sân rộng để mở hội.

Khu bảo tồn được xây dựng từ năm 2009 và là một trong những công trình văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng sớm nhất ở Quảng Ninh. Chủ nhân của nó là cộng đồng người Dao Thanh Y đã sống ở Bằng Cả khoảng 300 năm, chiếm hơn 97% dân số nơi đây. Đây không phải một bảo tàng đóng khung: hội làng Bằng Cả, lễ hội lớn nhất trong năm của người Dao Thanh Y, được tổ chức ngay tại nhà sinh hoạt cộng đồng; mỗi dịp hè, nơi này thành lớp học chữ Nôm Dao, nghề thêu và hát giao duyên do chính nghệ nhân trong làng đứng lớp. Ở các ngày hội, mặc trang phục truyền thống là điều được yêu cầu, thậm chí bắt buộc. Lễ cấp sắc của người Dao Thanh Y, nghi lễ đặt tên âm để người con trai được ghi tên vào phả tộc và coi là trưởng thành, đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 10/12/2024.

Thời điểm sống động nhất là hội làng ngày mùng 1 tháng 2 âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm); ngoài ra cộng đồng còn có các kỳ hội vào mùng 1 âm lịch các tháng 4, 7, 10 và 12, trong đó hội đầu năm và cuối năm lớn nhất. Dịp này bạn được xem nghi lễ cúng cầu mùa, thủ tục góp lễ, nghe hát đối, hát giao duyên, xem múa nghi lễ cấp sắc và thêu may trang phục thổ cẩm, chơi đẩy gậy, tung còn, bắn nỏ cùng người dân, nếm xôi ngũ sắc, ốc khe, cá khe, gà nấu gừng và rượu Bâu ủ bằng men lá. Ngoài mùa hội, khách đi theo đoàn có thể được Tổ du lịch của khoảng hai mươi hộ dân đón, đưa thăm nhà truyền thống, xem trình diễn nấu rượu Bâu, ngâm lá thuốc nam, xem và thử may thêu trang phục.

Nên biết trước vài điều. Công trình đã dùng hơn mười năm, báo tỉnh từng ghi nhận có chỗ đã cũ, không còn vẹn nguyên. Các hoạt động trình diễn và trò chơi chủ yếu diễn ra vào dịp hội làng, đầu xuân hoặc khi có đoàn khách; chưa có kênh chính thức công bố giờ mở cửa, giá tham quan hay số điện thoại liên hệ, nên cần hỏi trước qua chính quyền xã Quảng La. Một bài báo năm 2026 về xã Quảng La cũng nhận định tài nguyên du lịch ở đây còn phân tán, chưa thành tuyến trải nghiệm đủ để ở lại lâu, nên đừng kỳ vọng dịch vụ như một khu du lịch.

Các nghi lễ trong hội làng là việc cúng lễ thật của cộng đồng, do thầy mo thực hiện, không phải tiết mục biểu diễn. Hãy hỏi người của Tổ du lịch phần nào khách được cùng tham gia, phần nào chỉ nên đứng xem. Ngày hội, người trong làng mặc trang phục truyền thống theo quy định của chính cộng đồng, nên bộ váy áo bạn thấy hôm ấy là trang phục dự lễ, không phải trang phục biểu diễn cho khách.

Khu bảo tồn hợp với người muốn dành một ngày rời vịnh Hạ Long để tìm hiểu văn hóa Dao Thanh Y qua chính người trong làng, nhất là khi đi đúng dịp hội đầu tháng 2 âm lịch hoặc đi theo đoàn có hẹn trước. Nếu bạn cần một điểm mở cửa cố định, có hướng dẫn và dịch vụ sẵn mọi ngày, nơi này chưa đáp ứng được. Có thể ghép chuyến với cảnh quan quanh xã Quảng La như hồ Yên Lập liền kề khu bảo tồn, rừng lim và các suối, thác ở khu vực Tân Dân.

What to experience

  • Dự hội làng Bằng Cả (mùng 1 tháng 2 âm lịch)
  • Xem nhà sàn sinh hoạt và nhà mẫu của người Dao Thanh Y
  • Xem hát giao duyên, múa nghi lễ dịp hội
  • Chơi đẩy gậy, tung còn, bắn nỏ cùng người dân dịp hội
  • Xem và thử may, thêu trang phục Dao Thanh Y
  • Xem trình diễn nấu rượu Bâu (đi theo đoàn)
  • Ngâm lá thuốc nam cùng Tổ du lịch (đi theo đoàn)

Keywords

  • làng cộng đồng
  • Quảng Ninh
  • Quảng La
  • Bằng Cả
  • người Dao Thanh Y
  • hội làng Bằng Cả
  • lễ cấp sắc
  • thêu thổ cẩm
  • rượu Bâu

Festivals

Lễ hội đình Trà Cổ

Hội làng biển Trà Cổ từ 30/5 đến 3/6 âm lịch, với thi Ông Voi và rước thần ra biển

Móng Cái 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Cứ cuối tháng 5 âm lịch, những người con Trà Cổ đi làm ăn xa lại trở về làng biển nơi địa đầu Đông Bắc để dự hội đình. Lễ hội đình Trà Cổ diễn ra bốn ngày, từ 30/5 đến 3/6 âm lịch, tại đình Trà Cổ ở khu Nam Thọ, phường Móng Cái 1; năm nào tháng 5 âm lịch thiếu thì hội bắt đầu từ 29/5, và ngày chính hội là mùng 1/6. Ngày dương thay đổi theo năm: kỳ 2026 rơi vào 13 đến 16/7. Ngày 20/12/2019, Lễ hội truyền thống đình Trà Cổ được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Hội gắn với câu "Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn". Tương truyền thời Hậu Lê, mười hai gia đình ngư dân Đồ Sơn gặp bão, trôi dạt vào một bán đảo chỉ có sú vẹt và lau sậy; sáu gia đình quay về, sáu gia đình ở lại khai đất lập làng, rồi về quê cũ xin chân hương các vị thành hoàng ra thờ. Lễ hội tưởng nhớ các bậc tiền nhân lập làng, cầu mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng. Lễ được phục dựng và tổ chức thường niên từ năm 1993, nâng lên quy mô cấp thành phố từ năm 2015; nay do phường Móng Cái 1 tổ chức.

Nét riêng nhất là hội thi "Ông Voi", mà Ông Voi lại là lợn. Người Trà Cổ quan niệm chầu thần phải có voi, con vật của sức mạnh, nên chọn lợn thay voi và gọi trịnh trọng là Ông Voi. Mỗi năm làng bầu 12 cai đám, mỗi người chỉ được làm cai đám một lần trong đời; mỗi cai đám nuôi một Ông Voi trong khoảng một năm, chăm đến mức tối ngủ có mắc màn. Chiều 30/5, 12 Ông Voi được rước trong cũi sơn đỏ ra xếp thành hai hàng trước sân đình chầu thần, rồi được đo và cân; sáng 1/6 làng trao giải cho cai đám có Ông Voi đẹp nhất, và Ông Voi giải nhất được dâng làm lễ vật tế thần. Suốt những ngày hội, các cai đám túc trực ở đình và được dân làng kính trọng gọi là "ông đám".

Sáng 1/6 là lễ rước thần trên biển. Theo lệ, mỗi năm một vị Thành hoàng được rước từ đình ra miếu Đôi bên bờ biển để "canh giữ biển", thay cho vị của năm trước về đình dự hội. 12 cai đám mới khiêng kiệu, cầm lọng; đoàn đi qua Tràng Lộ, Tràng Vỹ rồi dọc bờ biển, dưới biển có thuyền chạy theo với trống chiêng, và các gia đình dọc đường bày mâm quả, tôm cua thắp hương. Ngoài ra còn lễ Mộc dục, rước cây đèn thần phải giữ lửa suốt kỳ hội, lễ Thỉnh sinh, lễ An vị, gọi sổ bìa xanh, cất cây cai đám. Phần hội có chấm thi Ông Voi, kéo co, đi cà kheo, bịt mắt đập niêu, viết thư pháp; một nghiên cứu về lễ hội còn ghi nhận hội đua thuyền đánh cá ra mốc ngoài biển cách bờ khoảng 1 km.

Đây trước hết là lễ của một cộng đồng làng: các nghi lễ do ông đám, đội tế và Ban tổ chức thực hiện; du khách đứng xem dọc đường rước, dâng lễ ở đình vào ngày 1/6 và xem các trò chơi phần hội. Lịch dương, giờ từng nghi lễ và chương trình phần hội đổi theo từng năm, nguồn chính thức chưa công bố giá vé hay số liên hệ của ban tổ chức, nên hãy theo dõi thông báo của phường Móng Cái 1 trước khi đi. Nghi lễ Ông Voi có phần hiến sinh theo tục lệ, bạn nên biết trước nếu đi cùng trẻ nhỏ. Khi đoàn kiệu đi qua, hãy nhường lối và để ý một chi tiết của lệ làng: đoàn rước thần đi mà không thắp hương.

Lễ hội hợp với người muốn thấy một hội làng biển còn giữ tục lệ riêng, nhất là khi bạn đang nghỉ ở bãi biển Trà Cổ đúng dịp đầu tháng 6 âm lịch, vì đình chỉ cách bãi biển khoảng 200 mét. Nếu bạn tìm một lễ hội có sân khấu lớn để vui chơi, phần hội ở đây khá mộc, chủ yếu là trò chơi dân gian. Ngoài mùa hội, đình Trà Cổ vẫn đón khách tham quan, chiêm bái; kiến trúc và lịch sử của đình có ở mục riêng.

What to experience

  • Xem rước Ông Voi ra đình chầu thần chiều 30/5 âm lịch
  • Xem chấm thi và trao giải Ông Voi sáng 1/6 âm lịch
  • Xem đoàn rước thần dọc bờ biển ra miếu Đôi
  • Dâng lễ tại đình Trà Cổ ngày chính hội
  • Xem trò chơi dân gian: kéo co, cà kheo, đập niêu
  • Xem viết thư pháp, triển lãm tranh phần hội

Keywords

  • lễ hội
  • Trà Cổ
  • Móng Cái
  • Quảng Ninh
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • hội thi Ông Voi
  • rước thần trên biển
  • làng biển

Customs & etiquette

Lễ Đại Phan của người Sán Dìu

Đại lễ cầu mùa của người Sán Dìu ở Quảng Ninh, quanh cây phan tre, nghi thức leo đao và lội than

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Lễ Đại Phan, người Sán Dìu gọi là Thai phan, còn gọi là “lễ cơm lớn” hay “lễ được no”, là lễ hội lớn nhất của cộng đồng Sán Dìu, những cư dân trồng lúa nước sống lâu đời ở Quảng Ninh. Lễ không có một ngày chung cho cả tỉnh: mỗi cộng đồng tự tổ chức, thường vào dịp cuối năm, đầu xuân hoặc những ngày nông nhàn sau vụ cấy, vụ gặt. Những năm gần đây, lễ được ghi nhận ở Vân Đồn, Hoành Bồ, Tiên Yên và Cẩm Phả.

Gốc của Đại Phan là lễ cầu mùa. Từ lời cầu cho cây lúa, nghi lễ mở rộng thành một đại lễ tổng hợp: cầu an, giải hạn, cầu siêu cho các vong linh, cấp sắc cho người học nghề thầy cúng, và thanh tẩy cho cả người đã khuất lẫn người đang sống, như mở ra một chu kỳ mới cho cả làng. Tâm điểm là cây phan (cây Thí Phan, hay phan chốc): một cây tre tươi, thẳng, để nguyên ngọn, dựng giữa sân lễ, trên đỉnh treo tấm phan đỏ tượng trưng cho chiếc cầu nối trời đất. Mỗi gia đình dự lễ cũng mang theo một cây tre buộc dải phướn ghi chữ Hán: màu hồng, đỏ để cầu phúc lộc, màu trắng để cầu tự.

Theo cổng thông tin của tỉnh, lễ có bốn phần chính: rước hình Sơn Thái nhân để thỉnh thần linh về chứng giám, lễ chém súc dâng lễ vật, lễ leo đao (leo gươm) và lễ lội than. Các phan sư, tức thầy cúng, mở đường đón thần bằng điệu múa hành quang. Trong lễ leo đao, một thầy cúng chân trần leo lên cây thang gắn 12 lưỡi dao, tượng trưng 12 tầng trời, 12 khổ nạn; tương truyền vua Cóc từng bò qua 12 nấc thang để cầu trời đổ mưa, và khi tới nấc cao nhất, thầy vẩy thóc gạo xuống cho mọi người đón lấy. Ở lễ lội than, người trong làng lần lượt bước qua một quãng than hồng để thanh sạch tâm tư. Với người Sán Dìu, đó không phải màn trình diễn mạo hiểm mà là niềm tin rằng tâm sáng, lòng thành thì được thần linh che chở.

Lễ cần các thầy cúng cao tay và sự góp sức của cả cộng đồng (năm 2017 ở thôn Làng, xã Thống Nhất có 50 gia đình phan chủ cùng lo), nên từng gián đoạn hàng chục năm: xã Cộng Hòa (Cẩm Phả) gần 60 năm mới làm lại vào tháng 1/2016, Thống Nhất gần 70 năm mới làm lại vào cuối năm 2017. Hiện lễ không diễn ra đều đặn ở một nơi cố định, nên muốn dự phải theo thông báo của địa phương. Kỳ gần nhất được báo chí ghi nhận là ngày 31/1 và 1/2/2026 tại Nhà văn hóa cộng đồng dân tộc Sán Dìu, đặc khu Vân Đồn, do UBND đặc khu tổ chức. Lễ xưa kéo dài 5 ngày 4 đêm; kỳ 2026 gói trong 2 ngày, có thêm thi gói bánh chưng gù, làm bánh bạc đầu, chợ quê và trò chơi dân gian.

Đây là nghi lễ tín ngưỡng của một cộng đồng, không phải chương trình biểu diễn. Các chuyên gia được cổng du lịch tỉnh dẫn lời đã lưu ý cần giữ tính trang nghiêm của nghi lễ, tránh sân khấu hóa; với người đến xem, điều đó có nghĩa là giữ yên lặng quanh đàn lễ và miếu thành hoàng, không chen vào lối các thầy cúng khi leo đao, lội than. Theo lời kể ở Hoành Bồ và Cộng Hòa, trong những ngày lễ, ai đến cũng được người Sán Dìu đón như khách quý.

Đại Phan hợp với người muốn hiểu đời sống tín ngưỡng của một cộng đồng nông nghiệp vùng Đông Bắc và sẵn lòng đi theo lịch của làng thay vì lịch tour. Nếu không trùng kỳ lễ, Làng Văn hóa - Du lịch dân tộc Sán Dìu ở thôn Voòng Tre (đặc khu Vân Đồn), khai trương cuối năm 2024 với nhà trưng bày hiện vật về đời sống người Sán Dìu, là nơi bắt đầu tìm hiểu cộng đồng này; còn hát Soọng cô, lối hát đối đáp giao duyên vẫn vang lên trong lễ Đại Phan, đã là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2023.

What to experience

  • Tìm hiểu nghi lễ cầu mùa của người Sán Dìu
  • Xem múa hành quang, nghe hát Soọng cô dịp lễ
  • Thưởng thức bánh chưng gù, bánh bạc đầu dịp lễ

Keywords

  • phong tục
  • nghi lễ
  • người Sán Dìu
  • Quảng Ninh
  • Vân Đồn
  • lễ cầu mùa
  • cây phan
  • leo đao lội than

Festivals

Hội hát Soóng Cọ

Hội tháng Ba của người Sán Chỉ ở Bình Liêu, ngày 16/3 âm lịch, hát đối giao duyên bên thác Khe Vằn

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ngày 16 tháng 3 âm lịch hằng năm (ngày dương thay đổi theo năm), người Sán Chỉ ở vùng Húc Động cũ, nay thuộc xã Bình Liêu, mở hội lớn nhất trong năm của mình: Hội hát Soóng Cọ, còn gọi là hội tháng Ba. Trong tiếng Sán Chỉ, "soóng cọ" nghĩa là xướng ca, hát đối, hát giao duyên; tên bản ngữ của hội được các báo ghi là "Shặm nhịp hội" hay "Slằn nhịp hội". Húc Động cũ có khoảng 82% dân số là người Sán Chỉ, nơi người Sán Chỉ cư trú đông nhất Bình Liêu, nên hội ở đây có từ lâu đời.

Theo lời các bô lão, hội ra đời hơn 300 năm trước. Các báo kể rằng thời hôn nhân còn do cha mẹ sắp đặt, người Sán Chỉ dành ra một ngày để trai gái được mang lời ca trao gửi tình cảm. Hội mở khi lúa chiêm vừa cấy xong; trước kia diễn ra ở các phiên chợ tháng ba, trai gái bản trên bản dưới rủ nhau lên đồi, xuống khe suối hát từ tối đến sáng, và thác Khe Vằn là một điểm hẹn quen. Không ít đôi nên vợ nên chồng từ những đêm hát ấy. Hội cũng có lệ riêng: không hát với người cùng huyết thống, dòng tộc, họ hàng.

Hát Soóng Cọ là hát đối, một bên nam, một bên nữ đứng đối diện, có lúc nhiều tốp cùng hát, không có nhạc cụ đệm. Mỗi bài thường bốn câu, mỗi câu bảy chữ; mở đầu bằng một câu hò đệm ngân dài rồi đến câu hát mời, bên này hát một đoạn thì bên kia đối lại. Lời hát ví von chuyện đời thường: "Chàng đến muộn, em mong đợi chàng. Con ngựa chân ngắn chàng đến muộn…". Ai đặt được lời, thuộc nhiều bài và hát được lâu nhất sẽ thành trung tâm của cuộc hát. Ngày 10/11/2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định 3421/QĐ-BVHTTDL công nhận nghệ thuật hát Soóng cọ của người Sán Chỉ ở Bình Liêu, Ba Chẽ, Đầm Hà, Tiên Yên và Móng Cái là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngày nay hội được chính quyền tổ chức thành ngày hội hằng năm, và lịch dương mỗi năm một khác: năm 2023 diễn ra từ 5 đến 7/5, năm 2024 từ 20 đến 30/4. Năm 2026, UBND xã Bình Liêu tổ chức Ngày hội Soóng Cọ từ 30/4 đến 3/5 tại Khu du lịch sinh thái thác Khe Vằn, khai mạc tối 2/5 trên sân khấu thực cảnh bên thác với hơn 150 người biểu diễn Soóng Cọ, Then và nhạc cụ dân tộc. Ban ngày có thi đẩy gậy, đánh quay, kéo co, và trận bóng đá nữ mà các cô, các chị Sán Chỉ ra sân trong váy đen, áo xanh, khăn vấn. Ở thôn Lục Ngù, khách vào nhà truyền thống của người Sán Chỉ, xem làm miến dong; tối đến có lửa trại giao lưu hát.

Vì lịch được công bố gần ngày hội và có năm không trùng đúng ngày 16/3, hãy theo dõi thông báo của xã Bình Liêu trước khi lên đường. Thác Khe Vằn cách Hạ Long khoảng 100 km và cách trung tâm Bình Liêu khoảng 12 km; xe chỉ vào tới điểm dừng ở thôn Khe Vằn, rồi đi bộ chừng 15 phút tới chân thác. Hát đối là cuộc trò chuyện thật giữa những người Sán Chỉ, có lệ riêng về người được hát cùng; đêm lửa trại có phần giao lưu hát giữa nghệ nhân, người dân và du khách, đó là lúc bạn có thể góp giọng, còn lễ cầu may là nghi lễ của cộng đồng, bạn nên đứng xem.

Hội hợp với người muốn nghe một lối dân ca giao duyên còn được hát giữa núi rừng, người quan tâm văn hóa các dân tộc vùng biên Quảng Ninh, và những ai lên Bình Liêu vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng 5. Nếu bạn chỉ có nửa ngày từ Hạ Long hoặc ngại đường núi nhiều khúc uốn lượn, chuyến đi sẽ vội. Ngoài mùa hội, thác Khe Vằn và thôn Lục Ngù vẫn đáng ghé, nhưng muốn nghe Soóng Cọ trọn vẹn nhất thì nên canh đúng dịp tháng Ba âm lịch.

What to experience

  • Nghe hát đối giao duyên Soóng Cọ của người Sán Chỉ
  • Xem chương trình nghệ thuật khai mạc bên thác Khe Vằn
  • Xem bóng đá nữ Sán Chỉ trong trang phục truyền thống
  • Xem thi đẩy gậy, đánh quay, kéo co
  • Thăm nhà truyền thống người Sán Chỉ ở thôn Lục Ngù
  • Giao lưu hát Soóng Cọ ở đêm lửa trại

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • xã Bình Liêu
  • người Sán Chỉ
  • hát Soóng Cọ
  • hát giao duyên
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • tháng 3 âm lịch

Festivals

Lễ hội đền Cửa Ông

Hội tháng 2 và tháng 8 âm lịch tưởng nhớ Trần Quốc Tảng, năm chẵn có đoàn rước trên bộ và trên biển

Cửa Ông, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Mùng 3 tháng 2 âm lịch, giữa mùa hành hương đầu năm, đền Cửa Ông trên ngọn đồi nhìn ra vịnh Bái Tử Long, cách trung tâm Hạ Long khoảng 40 km về phía Đông Bắc, mở chính hội. Lễ hội diễn ra hai lần mỗi năm: chính hội mùng 3 và 4 tháng 2, hội mùa thu mùng 3 và 4 tháng 8 âm lịch, ngày dương thay đổi theo năm; mùa hội xuân kéo dài từ mùng 3 tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch. Người làm nên lễ hội là cộng đồng phường Cửa Ông, từ đội tế nam, đội tế nữ đến các khu phố. Năm 2016, Lễ hội đền Cửa Ông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Đức Ông được rước trong hội là Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, con thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người hai lần được giao trấn giữ Cửa Suốt, cửa biển trọng yếu của vùng Đông Bắc. Sau khi ông mất năm 1313, nhân dân lập đền thờ ở Cửa Suốt, nay là Cửa Ông. Gắn với hình ảnh người trấn giữ cửa biển, nét riêng có của lễ hội là đoàn rước đi đồng thời trên bộ và trên biển: khi kiệu đi dọc đường ven biển, đoàn thuyền của ngư dân Cẩm Phả, Vân Đồn diễu hành song song, tái hiện hình ảnh Đức Ông vi hành tuần tra biển đảo. Dọc đường kiệu đi qua, nhiều gia đình bày sẵn mâm cỗ để kính dâng. Lễ hội từng gián đoạn từ những năm 50 của thế kỷ XX, được tổ chức lại năm 1996 và phục dựng bài bản, quy mô năm 2002.

Chính hội mở bằng lễ trình xin mở hội tại đền Thượng. Theo thông lệ, vào năm chẵn, sáng mùng 3 có lễ rước Đức Ông và các nhân thần vi hành khu an ngự: đoàn rước theo đường nghinh thần ra đường Lý Thường Kiệt, phố Hoàng Cần, đường Trần Quốc Tảng rồi dừng ở sân lễ hội. Kỳ năm 2026 có 40 đoàn rước, khoảng 2.500 người và khoảng 30 thuyền trên biển. Tại sân lễ hội là trống hội, múa "Hào khí Đông A", diễn thần tích, sau đó kiệu được rước hoàn cung. Buổi chiều, đội tế nam làm lễ tế Đức Ông tại đền Thượng, đội tế nữ dâng hương Thánh Mẫu tại đền Mẫu; chiều mùng 4 là lễ giã hội.

Phần hội kéo dài hai ngày ở sân lễ hội và hồ Baza. Các khu phố chia thành liên khu để thi kéo co, đẩy gậy, cờ người, cờ bỏi, chọi gà, tổ tôm điếm, đua thuyền, hát quan họ trên hồ, và hội thi dâng soạn lễ gồm bày mâm quả, têm trầu cánh phượng, vừa hành quân vừa thổi cơm. Hội tháng 8 thì khác hẳn: ít hội hè, dành không gian cho nghi lễ, có lễ tưởng niệm ngày mất Trần Quốc Tảng 16/8 và Trần Quốc Tuấn 20/8 âm lịch.

Mùa hội rất đông: những ngày Tết Nguyên đán 2024, đền đón từ 15.000 đến 20.000 khách mỗi ngày, và đoạn Quốc lộ 18A qua cổng đền thường được phân luồng, khách gửi xe ở bãi. Đoàn rước lớn ra phố và trên biển gắn với năm chẵn; các năm lẻ báo chí vẫn ghi có rước kiệu dọc đường nghinh thần về sân đền, nên hãy xem chương trình của từng năm trước khi đi. Đây là lễ hội của một nơi thờ tự đang hoạt động: Ban Quản lý từng bố trí quầy cho mượn áo dài đi lễ ngay tại cổng đền cho người mặc váy ngắn trên gối hay trang phục chưa phù hợp, và loa trong đền thường nhắc hạn chế đốt hương, vàng mã. Mâm cỗ bên đường là lễ của từng gia đình dâng Đức Ông.

Nếu muốn thấy đoàn rước trên bộ và trên biển, hãy chọn mùng 3 tháng 2 âm lịch của năm chẵn và đến sớm. Nếu quan tâm nghi lễ hơn đám đông, hội tháng 8 hợp hơn. Cách đền khoảng 2 km là đền Cặp Tiên, điểm di tích còn lại của cùng di tích quốc gia đặc biệt, có hội riêng vào mùng 6 tháng Giêng, có thể ghép trong một chuyến.

What to experience

  • Xem lễ rước Đức Ông trên bộ và trên biển (năm chẵn)
  • Dâng hương tại đền Thượng trong mùa hội
  • Xem lễ tế của đội tế nam, đội tế nữ
  • Xem trống hội, múa Hào khí Đông A ở sân lễ hội
  • Cổ vũ hội thi đua thuyền, kéo co, cờ người, cờ bỏi
  • Nghe hát quan họ trên hồ Baza
  • Dự lễ tưởng niệm 16/8 và 20/8 âm lịch (hội mùa thu)

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • phường Cửa Ông
  • đền Cửa Ông
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • Trần Quốc Tảng
  • rước kiệu trên biển
  • tháng 2 âm lịch

Heritage spaces

Bãi cọc Yên Giang

Ao cọc lim, táu lộ thiên duy nhất còn lại của trận địa cọc Bạch Đằng năm 1288 bên cửa sông Chanh

Quảng Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ ngã tư Quảng Yên đi về hướng Phà Rừng khoảng 2 km rồi rẽ trái chừng 500 m, giữa cánh đồng gần cửa sông Chanh ở phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, là một ao nước có kè bao quanh và một tấm bia đá. Đây là bãi cọc Yên Giang, một phần trận địa cọc trên sông Bạch Đằng năm 1288, và là bãi duy nhất trong ba bãi cọc đã phát lộ (Yên Giang, Đồng Vạn Muối, Đồng Má Ngựa) còn một ao cọc lộ thiên để bạn nhìn tận mắt.

Những cây cọc ở đây phần lớn là thân lim hoặc táu, còn nguyên vỏ, dài từ 2,6 đến 2,8 m, phần gốc đẽo nhọn dài từ 0,5 đến 1 m để cắm xuống lòng sông; cọc lim có đường kính từ 20 đến 30 cm, cắm thẳng, cách nhau trung bình từ 0,9 đến 1,5 m. Mẫu cọc Bạch Đằng định tuổi bằng phương pháp C14 cho kết quả tập trung vào thế kỷ 13. Chúng còn đến hôm nay vì nằm trong lớp trầm tích sú vẹt yếm khí nơi cửa biển: ở những cọc được vớt lên, phần giác đã mục nhưng lõi vẫn chắc và dẻo. Những cây cọc Bạch Đằng đầu tiên được người dân phát hiện năm 1953 khi đào đất đắp đê; năm 1958, Yên Giang trở thành bãi cọc đầu tiên được tổ chức khai quật, rồi tiếp tục khai quật vào các năm 1969, 1976, 1984 và 1988.

Bãi dài khoảng 118 m, rộng 20 m, đã được khoanh vùng bảo vệ, xây kè xung quanh và dựng bia giới thiệu; phần ao lộ thiên rộng khoảng 120 m². Tấm bia giải thích vì sao trận địa nằm ở đây: lòng sông Bạch Đằng thế kỷ XIII có nhiều bãi bồi và dải đá ngầm, Trần Hưng Đạo cho đóng cọc ở những vị trí hợp lý để chặn đường rút của đoàn thuyền quân Nguyên Mông. Theo các nhà nghiên cứu, Yên Giang là nửa phía Bắc của trận địa, bãi Đồng Vạn Muối là nửa phía Nam; giữa hai bãi có một dải cồn đá cao khiến thuyền phải đi sát bờ khi triều xuống, nên cọc được cắm hai bên cồn đá thành một phòng tuyến hình chữ V chặn họng sông. Năm 1988 bãi cọc được xếp hạng di tích quốc gia, năm 2012 thuộc Khu di tích lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, và năm 2025 là một trong các điểm tiêu biểu của Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới.

Đừng hình dung một rừng cọc nhọn nhô khỏi mặt nước: đa phần đầu cọc đã mục gãy do nước bào mòn, một góc bãi được giữ ngập nước để bảo tồn, và phần lớn câu chuyện nằm ở tấm bia hơn là ở những gì mắt thấy. Điểm tham quan nhỏ, gói gọn quanh ao cọc. Hai bãi Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa ở phường Phong Cốc đã được lấp lại sau khai quật để bảo tồn nguyên vẹn, nên Yên Giang là nơi duy nhất còn thấy cọc ngoài trời.

Đây là hiện vật gốc hơn 700 năm của một trận chiến, đồng thời là nơi tưởng niệm. Cọc một khi rời môi trường bùn ngập nước phải qua quy trình ngâm tẩy muối, ngâm hóa chất ổn định gỗ rồi phơi khô chậm mới giữ được hình dạng, vì vậy hãy đứng ngoài kè quan sát, không chạm vào cọc hay thả vật gì xuống ao.

Bãi cọc hợp với người mê lịch sử, khảo cổ và các gia đình có con đang học về ba lần chiến thắng trên sông Bạch Đằng (938, 981, 1288). Quy hoạch khu di tích lấy cụm đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, bến đò cổ gắn với bãi cọc Yên Giang làm trung tâm, nên bạn dễ ghép cả cụm trong một buổi. Nếu bạn tìm không gian thờ tự và những câu chuyện dân gian, đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà sẽ có nhiều điều để xem hơn; còn nếu muốn thấy tận mắt chứng tích của trận địa cọc, đây là nơi duy nhất.

What to experience

  • Xem ao cọc lộ thiên của trận địa cọc Bạch Đằng 1288
  • Đọc bia giới thiệu trận địa cọc bên bãi

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • Quảng Yên
  • bãi cọc Bạch Đằng
  • Chiến thắng Bạch Đằng 1288
  • di tích khảo cổ
  • Trần Hưng Đạo
  • di sản thế giới UNESCO

Festivals

Hội Mùa vàng Lục Hồn

Mùa lúa chín trên ruộng bậc thang Lục Hồn, từ cuối tháng 10 đến tháng 11, có Lễ mừng cơm mới của người Tày

Lục Hồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Cuối tháng 10, khi lúa trên những thửa ruộng bậc thang ở xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu cũ) bắt đầu chín vàng, xã mở Hội Mùa vàng, mùa hội của đồng bào Tày, Dao, Sán Chỉ kéo dài qua tháng 11. Hội tính theo dương lịch và ngày cụ thể đổi theo từng năm: năm 2025 diễn ra từ 24/10 đến hết tháng 11; năm 2026 chuỗi hoạt động bắt đầu từ 17/10, lễ khai mạc dự kiến ngày 24/10 trên sân khấu đình Lục Nà. Từ năm 2020 đến 2024, hội mang tên Hội mùa vàng Bình Liêu và do huyện tổ chức trong Tuần Văn hóa - Du lịch; nay là hội của xã Lục Hồn.

Hội ra đời năm 2020, gắn với lịch sản xuất lúa mùa. Ngay đêm khai mạc đầu tiên, tối 7/11/2020, ruộng bậc thang Lục Hồn được công bố là di tích danh thắng cấp tỉnh, nên không gian hội xoay quanh các bản có ruộng đẹp nhất như Cao Thắng, Khe O, Ngàn Pạt trên sườn tây núi Cao Xiêm, ở độ cao khoảng 300 đến 600 m. Với người dân, mùa lúa chín không chỉ là cảnh đẹp mà còn là dấu hiệu của một năm ấm no: đây là lúc gặt lúa, phơi thóc và chuẩn bị Lễ mừng cơm mới. Người Tày ở Lục Hồn làm lễ tại đình Lục Nà và trong nhiều gia đình, dâng tổ tiên xôi nếp mới quét nước lá gừng tươi cho xanh cùng khâu nhục, gà, cá, và có nghi thức đưa hồn lúa từ nương về nhà.

Hội không dồn vào một ngày mà rải ra nhiều thôn, nhiều cuối tuần. Bạn có thể xuống ruộng gặt lúa cùng người dân (hoạt động kéo dài đến khi hết vụ gặt), chụp ảnh ruộng vàng ở Cao Thắng, xem kéo co, đẩy gậy, tung còn hay trận bóng đá nữ của các cô gái Sán Chỉ quấn khăn, mặc váy ra sân. Lịch năm 2026 mở đầu bằng giải trekking, cắm trại lên đỉnh Cao Xiêm ngày 17/10; các cuối tuần từ 17/10 đến 22/11 có làm bánh dày của người Sán Chỉ, thêu trang phục Dao Thanh Phán, Dao Thanh Y, giao lưu hát Then cùng đàn tính và Soóng Cọ; từ 23 đến 25/10 có không gian sản phẩm OCOP, đặc sản tại đình Lục Nà, ngày 25/10 có trải nghiệm Lễ mừng cơm mới; sang tháng 11 là gặt lúa ở Cao Thắng, Ngàn Vàng. Nhiều homestay nhà sàn đón khách ở lại, cùng giã cốm, thổi xôi, ăn cơm mới.

Đây là hội do chính quyền địa phương tổ chức: lịch năm 2026 được công bố đầu tháng 10 và nhiều mục còn ghi "dự kiến", nên hãy xem thông báo mới nhất của xã Lục Hồn trước khi đi. Các hoạt động nằm rải giữa các thôn trên đường núi, bạn cần phương tiện riêng và thời gian di chuyển. Mùa lúa chín cũng là mùa đông khách của Bình Liêu; xã bố trí bãi đỗ xe và người hướng dẫn vào giờ cao điểm, còn chỗ ở nên đặt sớm. Chưa có nguồn chính thức nào nói về vé hay phí tham dự.

Những thửa ruộng là ruộng canh tác của từng hộ và đang vào vụ đẹp nhất trong năm; chính người dân thôn Cao Thắng dặn nhau giữ ruộng, không xả rác, không lấn chiếm lối đi chung. Khi chụp ảnh, hãy đi theo lối chung và đừng bước vào phần lúa chưa gặt. Lễ mừng cơm mới là nghi thức thiêng liêng của người Tày; khách được dự lễ tại đình Lục Nà, và sau lễ là phần hội, khi bà con cùng ăn cơm mới và mời khách thưởng thức.

Hội hợp với người mê ruộng bậc thang mùa lúa chín, muốn ở lại vài ngày trong bản và thử một ngày làm nông cùng người Tày, Dao, Sán Chỉ. Nếu bạn chỉ có một buổi hoặc thích một lễ hội tập trung có giờ cố định, hãy canh đúng ngày khai mạc hoặc ngày Lễ mừng cơm mới. Muốn kéo dài chuyến đi mùa thu, mùa đông, bạn có thể nối với đỉnh Cao Xiêm, cột mốc 1305 hoặc hội Hoa Sở ở Bình Liêu vào tháng 12.

What to experience

  • Gặt lúa cùng người dân trên ruộng bậc thang
  • Chụp ảnh mùa lúa chín ở Cao Thắng, Khe O, Ngàn Pạt
  • Dự trải nghiệm Lễ mừng cơm mới của người Tày
  • Xem chương trình nghệ thuật khai mạc tại đình Lục Nà
  • Thêu trang phục Dao, làm bánh dày của người Sán Chỉ
  • Trekking, cắm trại lên đỉnh Cao Xiêm
  • Mua sản phẩm OCOP, đặc sản tại không gian hội

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • xã Lục Hồn
  • Bình Liêu
  • ruộng bậc thang
  • mùa lúa chín
  • Lễ mừng cơm mới
  • Tày, Dao, Sán Chỉ

Heritage spaces

Khu di tích lịch sử Bạch Đằng

Đền, miếu, đình và ba bãi cọc thời Trần bên sông Bạch Đằng ghi dấu chiến thắng năm 1288

Quảng Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Bên tả ngạn sông Bạch Đằng ở phường Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, có một khu di tích không gói gọn sau một cổng vào: đền, miếu, đình, một bến đò cổ và ba bãi cọc gỗ nằm rải rác qua các phường Quảng Yên, Phong Cốc và Liên Hòa. Tất cả cùng ghi dấu Chiến thắng Bạch Đằng ngày 9/4/1288 (mồng 8 tháng 3 âm lịch), khi quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đánh tan đoàn thuyền quân Nguyên Mông.

Điều khiến nơi này khác một ngôi đền thờ danh nhân thông thường là chứng tích còn nằm ngay dưới lòng đất. Ba bãi cọc Yên Giang, Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa là phần còn lại của trận địa cọc năm xưa, cắm theo các cửa sông Chanh, sông Rút, sông Kênh; mẫu cọc định tuổi bằng phương pháp C14 cho kết quả tập trung vào thế kỷ 13. Ngày 27/9/2012, khu di tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, và năm 2025 bãi cọc Bạch Đằng 1288 trở thành một trong 12 cụm điểm của Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới.

Câu chuyện người Quảng Yên hay kể nhất lại thuộc về một người bình thường. Tương truyền, bên bến Đò Rừng có bà cụ bán nước đã chỉ cho Trần Hưng Đạo lịch con nước, địa thế lòng sông và cách kết hợp hỏa công; sau chiến thắng, bà được tâu vua phong là "Vua Bà", miếu thờ dựng ngay trên nền quán nước bên gốc cây Quếch. Ngày nay miếu Vua Bà nằm sát đền Trần Hưng Đạo, nơi còn giữ 9 đạo sắc phong của các vua triều Nguyễn, còn cây Quếch cổ thụ hơn 700 năm tuổi vẫn đứng trước bến. Cụm đền, miếu và bến đò này là trung tâm của khu di tích nên hợp để bắt đầu; từ đây bạn đi tiếp tới bãi cọc Yên Giang, nơi duy nhất còn một ao cọc lộ thiên, rồi đình Yên Giang thờ Thành hoàng làng, đền Trung Cốc gắn với tích Trần Hưng Đạo và Phạm Ngũ Lão mắc thuyền khi đi thị sát, và đình Trung Bản còn giữ bộ kiệu bành bát cống.

Nên biết trước rằng các điểm nằm rải rác qua ba phường, muốn đi hết bạn phải di chuyển giữa nhiều nơi chứ không dạo bộ trong một khuôn viên. Hai bãi cọc Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa đã được lấp lại để bảo tồn nguyên vẹn sau khai quật, nên phần cọc thấy tận mắt chủ yếu ở bãi Yên Giang; bến đò cổ cũng đang trong quá trình khôi phục. Năm 2025 khu di tích đón khoảng 263.000 lượt khách, hơn một nửa là học sinh, nên những dịp kỷ niệm, ngày lễ lớn và Tết Nguyên đán thường đông đoàn trường.

Đây vừa là nơi tưởng niệm vừa là nơi thờ tự đang được người dân hương khói; đình Đền Công là nơi thờ những người đã hy sinh trong trận chiến năm 1288. Nếu đến vào mùa Lễ hội Bạch Đằng, từ mồng 6 đến mồng 9 tháng 3 âm lịch, bạn sẽ gặp đoàn rước tượng Đức Thánh Trần từ đền về đình Yên Giang, người dân hai bên đường bày lễ vật khi kiệu đi qua, vì vậy hãy đứng sang lề và quan sát, giữ sự trang nghiêm khi vào các gian thờ.

Khu di tích hợp với người muốn hiểu lịch sử ngay tại hiện trường, gia đình có con tuổi đi học và người quan tâm tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần. Nếu chỉ có một buổi, hãy ưu tiên cụm đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, bến Đò Rừng và bãi cọc Yên Giang; nếu muốn đi sâu hơn vào thời Trần, có thể ghép với Khu di tích Nhà Trần tại Đông Triều hoặc Yên Tử. Còn nếu bạn chỉ tìm một điểm ngắm cảnh sông nước trong ít phút, khu di tích phân tán này có thể sẽ không hợp bằng một điểm dừng tập trung.

What to experience

  • Dâng hương tại đền Trần Hưng Đạo và miếu Vua Bà
  • Xem ao cọc lộ thiên ở bãi cọc Yên Giang
  • Nghe thuyết minh lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng
  • Hóa thân lễ rước Thánh, mặc cổ trang bên sông (theo dịp)
  • Thả đèn hoa đăng cầu phúc (theo dịp)
  • Dự Lễ hội Bạch Đằng mồng 6–9 tháng 3 âm lịch

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • Quảng Yên
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • Chiến thắng Bạch Đằng 1288
  • Trần Hưng Đạo
  • sông Bạch Đằng
  • di sản thế giới UNESCO

Festivals

Lễ hội đình Đồng Đình

Hội đầu xuân của người Tày thôn Đồng Đình, có tái hiện Lễ Lồng tồng xuống đồng ngay ruộng sân đình

Tiên Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Quãng giữa tháng Giêng âm lịch, khi Tết Nguyên đán vừa qua, người Tày ở thôn Đồng Đình, xã Tiên Yên lại mở hội đình. Lễ hội đình Đồng Đình được tổ chức hằng năm dịp sau Tết, nhưng không cố định vào một ngày âm lịch: kỳ 2024 rơi vào 24 và 25/2 (tức 15 và 16 tháng Giêng), kỳ 2026 vào 28/2 và 1/3 (tức 12 và 13 tháng Giêng). Phần lễ diễn ra tại đình, còn khai mạc và phần hội đặt ở làng Văn hóa dân tộc Tày cùng thôn, gắn với Ngày hội Văn hóa, Thể thao của địa phương.

Điều khiến ngôi đình này khác những nơi khác là chỗ nó đứng. Đình làng vốn là thiết chế của làng Kinh dưới xuôi, vậy mà đình Đồng Đình nằm giữa một cộng đồng đông người Tày và mang kiến trúc vùng đồng bằng Bắc Bộ. Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong xã, đình có từ thời vua Gia Long, do hai anh em ông quan người Kinh họ Lê từ dưới xuôi lên khai phá vùng đất này; sau khi hai ông mất, dân làng lập đình thờ làm thành hoàng. Sách lịch sử của xã ghi đình xưa dựng bằng gỗ quý, ba gian, bốn mái, tám cột, ba cửa, và trong gian thờ có những ô riêng dành cho các thầy mo ngồi theo thứ tự: một ngôi đình kiểu miền xuôi nhưng là nơi các thầy mo Tày hành lễ. Đình tồn tại đến những năm 30 của thế kỷ XX, sau đó không còn do chiến tranh, và mới được phục dựng trong những năm gần đây.

Phần lễ mở bằng lễ cúng thần, rước cỗ và dâng hương, báo cáo, xin phép Thành hoàng làng trong đình. Tiếp đó là màn tái hiện Lễ Lồng tồng, tức lễ xuống đồng cầu mưa thuận gió hòa của người Tày, ngay trên khu ruộng ở sân đình, nơi người dân cùng làm nghi thức xuống đồng, gieo hạt đầu năm mới; xen vào là trích đoạn Lẩu Then, nét văn hóa riêng của đồng bào Tày thôn Đồng Đình. Phần hội có đua bè mảng trên sông Đồng Đình, đẩy gậy, kéo co, bắn nỏ, thi gói bánh gio và bày mâm cỗ Tày, hát then cùng đàn tính, thi trang phục 'Duyên dáng Đồng Đình'. Từ năm 2026 hội còn có các cuộc thi 'Vua gà', 'Hoa hậu gà' gắn với thương hiệu gà Tiên Yên, kèm đấu giá sau khi trao giải.

Bạn nên biết trước vài điều. Ngày hội đổi theo từng năm và được công bố sát ngày (bài thông báo kỳ 2026 trên cổng thông tin tỉnh đăng trước khai hội chỉ năm ngày), nên hãy theo dõi tin của xã Tiên Yên từ sau Tết. Vì gộp với Ngày hội Văn hóa, Thể thao, phần lớn thời gian là thi đấu, văn nghệ và gian hàng nông sản; phần nghi lễ ngắn và tập trung ở đình. Nguồn chính thức chưa nêu giờ từng nghi lễ, có thu phí hay không, cũng như số liên hệ ban tổ chức.

Phần lễ là việc làng báo cáo, xin phép Thành hoàng, nên đó là lúc để quan sát hơn là nhập cuộc. Ngược lại, các trò chơi dân gian như bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt gà, đánh đu ngày xuân được ban tổ chức bày ra chính là để du khách cùng chơi; kỳ 2024 khách còn được thử đi bè mảng và chèo SUP trên sông.

Lễ hội hợp với người muốn thấy một hội làng Tày đầu xuân ở quy mô thôn xã, xem tận mắt nghi thức Lồng tồng và nghe then giữa sân đình, rồi ghép thêm chợ Tiên Yên (cách khoảng 6 km đường chim bay) hay thác Pạc Sủi trong cùng chuyến. Nếu bạn tìm một lễ hội cổ còn nguyên dạng hay một sự kiện có lịch cố định để đặt trước từ xa, nơi này khó đáp ứng; còn nếu đang ở vùng ngã ba Đông Bắc những ngày đầu tháng Giêng, đây là dịp gần gũi để gặp cộng đồng Tày Tiên Yên.

What to experience

  • Xem lễ dâng hương, xin phép Thành hoàng tại đình
  • Xem tái hiện Lễ Lồng tồng trên ruộng sân đình
  • Xem đua bè mảng trên sông Đồng Đình
  • Chơi bịt mắt đập niêu, đánh đu ngày xuân
  • Nghe hát then – đàn tính, xem thi Duyên dáng Đồng Đình
  • Xem trưng bày văn hóa Tày tại nhà văn hóa thôn
  • Mua nông sản, đặc sản gà Tiên Yên tại gian hàng

Keywords

  • lễ hội
  • đình Đồng Đình
  • Tiên Yên
  • Quảng Ninh
  • người Tày
  • Lễ Lồng tồng
  • hát then – đàn tính
  • đua bè mảng
  • tháng Giêng

Festivals

Lễ hội Tiên Công

Lễ hội “rước người” ở đảo Hà Nam: sáng mùng 7 tháng Giêng, con cháu rước các cụ tròn 80, 90, 100 tuổi lên miếu

Phong Cốc, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng âm lịch, người dân vùng đảo Hà Nam bên cửa sông Bạch Đằng, nay thuộc phường Phong Cốc, mở Lễ hội Tiên Công tại miếu Tiên Công. Ngày dương lịch đổi theo năm: kỳ 2026 diễn ra từ 21 đến 23/2, chính hội sáng 23/2. Ngày 8/5/2017, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quyết định đưa lễ hội vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Nhiều lễ hội làng rước thần, rước sắc phong; ở đây người ta rước người sống. Các cụ tròn 80, 90 và từ 100 tuổi trở lên, gọi kính là cụ Thượng, được con cháu đưa lên võng đào rước tới miếu để báo với Tiên Công. Miếu thờ 17 vị Tiên Công từ kinh thành Thăng Long, những người từ năm 1434 xuôi sông Hồng ra cửa Bạch Đằng, quai đê lấn biển lập nên ba thôn Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông. Bia ký, gia phả kể rằng một đêm họ nghe tiếng ếch nhái trên gò bãi triều, biết có nước ngọt nên dừng lại khẩn hoang; dấu tích hồ nước ngọt ấy, Hồ Mạch, vẫn còn cách miếu chừng 1 km về phía Tây. Người cao niên giải thích thêm: sống giữa bãi triều, quanh năm chống chọi giông bão, sống thọ là phúc lớn của cả dòng họ, nên đáng được rước lên cáo yết tổ tiên.

Lễ hội bắt đầu từ các từ đường. Mùng 4 là lễ Ra cỗ họ, gia đình có cụ Thượng mang lễ đến từ đường họ nội, họ ngoại để kính cáo; mùng 5 khai hội tại miếu; mùng 6 làm lễ mừng thọ tại nhà, cụ mặc áo gấm, khăn thêu chữ Thọ, chống gậy thọ. Sáng mùng 7, các đoàn rước rời nhà thờ tổ: con cháu đội mâm trầu cau, rượu, xôi, gà hoặc thủ lợn đi trước, sau là cờ ngũ sắc, trống, nhạc bát âm, rồi võng đào hay kiệu bốn đến tám người khiêng. Dọc đường có quán trạm con rể dâng trà đón cụ. Các đoàn nhập lại gần miếu, đại diện dòng họ dâng lễ và tế trên bia Tiên Công; đến giờ ngọ, đoàn tế đại diện tứ xã làm lễ Tế giã khép hội. Phần hội có chơi đu, chọi gà, cờ người, tổ tôm điếm, hát đúm, đấu vật, đắp đê. Theo lệ xưa, sau khi lễ Tiên Công, hai cụ Thượng còn khỏe ra trước cửa miếu đắp những hòn đất vuông lên một con đê nhỏ tượng trưng, gọi là lễ động thổ, nhắc lại nghề quai đê của tổ tiên; có qua lễ này, làng mới bắt đầu đào mương, đắp đê, cày cấy.

Số đoàn rước không cố định: phần lớn các cụ chỉ được con cháu đưa lên miếu dẫn lễ, còn rước võng chỉ có vài đoàn mỗi năm. Kỳ 2025 có 3 đoàn rước tập thể với 35 cụ, kỳ 2026 có 239 cụ lên miếu trong hai ngày, trong đó 35 cụ được rước ngày chính hội. Sáng mùng 7 là lúc đông nhất; năm 2026 ước khoảng 10 vạn lượt người về dự trong những ngày hội. Lịch chi tiết từng năm do chính quyền địa phương công bố gần Tết, và các nguồn hiện có không nêu vé hay giờ của từng nghi lễ, nên hãy hỏi thông báo của phường trước khi đi.

Đoàn rước là lễ mừng thọ của từng gia đình, dòng họ, với những cụ đã 80 đến 100 tuổi ngồi võng giữa dòng người. Chỗ hợp với khách là bên lề con đường dẫn vào miếu, nơi các đoàn đi qua và nhập lại; phần tế trên bia Tiên Công là của đại diện các dòng họ.

Nếu bạn muốn thấy một lễ hội đặt người già vào trung tâm, nơi lòng biết ơn tổ tiên khai đất và việc mừng thọ cha mẹ là một, hãy đến vào sáng mùng 7 tháng Giêng và ghé thêm Hồ Mạch gần đó. Còn nếu bạn tìm nghi thức rước kiệu thần, hoặc ngại chen giữa dòng người đông, ngày chính hội sẽ không hợp.

What to experience

  • Xem rước cụ Thượng bằng võng đào sáng mùng 7 tháng Giêng
  • Viếng miếu Tiên Công, nơi thờ 17 vị Tiên Công
  • Xem chơi đu, cờ người, tổ tôm điếm, hát đúm
  • Xem trò đắp đê, đấu vật trong phần hội
  • Ghé Hồ Mạch, dấu tích hồ nước ngọt của các Tiên Công

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • phường Phong Cốc
  • đảo Hà Nam
  • Quảng Yên
  • rước cụ Thượng
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • tháng Giêng

Festivals

Lễ hội Đức ông Hoàng Cần

Lễ hội ở ngôi đền Hải Lạng thờ vị Khâm Sai Đông Đạo Tiết Chế, mang đậm sắc màu văn hóa Sán Dìu

Hải Lạng, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Cách trung tâm Tiên Yên chừng 5 km về phía tây, trên một thềm đồi thấp ở thôn Hà Dong Bắc, xã Hải Lạng, có ngôi đền người dân quen gọi là Miếu Đại vương, tức Đền thờ Đức ông Hoàng Cần. Theo lịch truyền thống, ngày lễ chính của đền là rằm tháng Giêng âm lịch, kèm bốn kỳ lễ rằm tháng Tư, tháng Bảy, tháng Mười và tháng Chạp. Còn ngày hội lớn, gắn với Ngày hội Văn hóa - Thể thao của xã, những năm gần đây được tổ chức vào khoảng trung tuần tháng 10 âm lịch: kỳ 2025 diễn ra hai ngày 29 và 30/11. Ngày dương thay đổi theo năm.

Đức ông Hoàng Cần là người con của đất Hải Lạng, châu Tiên Yên xưa, được ghi nhận có công giữ yên một vùng biên giới Đông Bắc. Nhà Trần phong ông chức Khâm Sai Đông Đạo Tiết Chế; triều Nguyễn phong Khâm Sai Thái Bảo Xuyên Quốc Công Tôn Thần và Bản cảnh thành hoàng; đền còn giữ một đạo sắc năm Tự Đức thứ sáu (1853). Điều thú vị là lý do ngôi đền có mặt ở đây: các cụ trong xã kể rằng xưa kia người Hải Lạng phải đi tận Cửa Ông (Cẩm Phả) mới thắp hương được cho Đức ông, nên đầu thời Nguyễn dân làng dựng một am tranh tre ngay tại quê ông. Am được xây gạch, lợp ngói âm dương vào cuối thế kỷ 19, được xây lại từ năm 2012 và được UBND tỉnh xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định 3851/QĐ-UBND năm 2020.

Hải Lạng là xã có đông đồng bào Sán Dìu, nên lễ hội mang rõ dấu ấn của họ. Phần lễ mở đầu bằng lễ cáo yết xin phép Thành hoàng là Đức ông Hoàng Cần, rồi lễ phóng sinh thả cá ở hồ Khe Cát, lễ cúng cơm mới và lễ tạ tại đền. Xen giữa là các trích đoạn do thầy cúng thực hiện như Lễ đại phan, múa hành quang và nghi lễ leo dao, trong đó thầy mo đi chân trần bước qua 12 lưỡi dao lên đỉnh thang, thổi tù và cầu một năm mưa thuận gió hòa. Phần hội có hát Soọng cô, tái hiện cảnh cô dâu Sán Dìu lên kiệu về nhà chồng, kéo co, đẩy gậy, đi cà kheo, thi làm bánh bạc đầu, gói bánh chưng dài và thi mâm cỗ dâng Đức ông giữa các thôn. Vào rằm tháng Giêng, cơm cúng được nấu và nắm nhiều hơn ngày thường để người dự lễ mang phần về chia con cháu lấy may.

Bạn nên biết trước: ngày hội lớn không trùng ngày lễ chính rằm tháng Giêng mà do xã ấn định mỗi năm; năm 2018 phòng văn hóa huyện giải thích việc chọn dịp rằm tháng Mười là vì thời tiết đẹp nhất trong năm và để ghép với Lễ cơm mới của người Sán Dìu. Vì vậy hãy theo dõi thông báo của xã Hải Lạng trước khi đi. Nguồn chính thức chưa nêu giờ mở cửa đền, có thu phí hay không, hay số liên hệ ban tổ chức. Từ cuối năm 2025, xã đang vận động tu bổ, mở rộng đền, nên khuôn viên có thể còn hạng mục đang thi công.

Cáo yết, lễ tạ hay leo dao là nghi lễ của thầy cúng và dân làng, còn phần của bạn là đứng xem, nhường lối cho người hành lễ. Ngược lại, các trò bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt vịt và hội chợ ẩm thực là phần ban tổ chức dành cho du khách cùng tham gia.

Lễ hội hợp với người muốn tìm hiểu văn hóa Sán Dìu vùng Đông Bắc qua một ngày hội làng thật sự, nghe Soọng cô và nếm bánh truyền thống. Nếu bạn quan tâm nhân vật Hoàng Cần, có thể ghép thêm đền Cửa Ông, nơi đền Trung cũng thờ ông; còn lễ hội đình Lục Nà ở Bình Liêu, cũng thờ Thành hoàng Hoàng Cần, là một lễ hội khác, diễn ra ngày 16 và 17 tháng Giêng.

What to experience

  • Dâng hương tại Đền thờ Đức ông Hoàng Cần
  • Xem lễ cáo yết và phóng sinh thả cá ở hồ Khe Cát
  • Xem trình diễn Lễ đại phan, leo dao, múa hành quang
  • Nghe hát Soọng cô, xem tái hiện đám cưới Sán Dìu
  • Chơi bịt mắt đập niêu, bịt mắt bắt vịt
  • Nếm bánh bạc đầu, bánh chưng dài của người Sán Dìu
  • Mua sản phẩm OCOP tại hội chợ lễ hội

Keywords

  • lễ hội
  • Đức ông Hoàng Cần
  • Hải Lạng
  • Tiên Yên
  • Quảng Ninh
  • người Sán Dìu
  • hát Soọng cô
  • rằm tháng Giêng
  • di tích lịch sử cấp tỉnh

Heritage spaces

Đền Cửa Ông

Đền thờ Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng trên đồi nhìn ra vịnh Bái Tử Long, giữ hơn 30 pho tượng nhà Trần

Cửa Ông, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Đi Quốc lộ 18A qua Cửa Ông, bạn sẽ gặp cổng tứ trụ của đền Cửa Ông mở ngay bên đường. Phía sau cổng, ba khu đền Hạ, đền Trung, đền Thượng nối nhau lên một ngọn đồi gần 100 m, mặt nhìn ra vịnh Bái Tử Long. Đền cách trung tâm Hạ Long khoảng 40 km về phía Đông Bắc, thờ Hưng Nhượng Đại Vương Trần Quốc Tảng, con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, và là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt từ năm 2017.

Cái tên Cửa Ông đến từ chính người được thờ. Nơi đây xưa là Cửa Suốt, bến thuyền có trạm thu thuế thuyền buôn đi theo đường thủy ven biển vào thương cảng Vân Đồn. Trần Quốc Tảng hai lần được cử ra trấn giữ cửa biển này và gắn bó với vùng Đông Bắc cho đến khi mất năm 1313. Nhân dân lập đền thờ, tôn ông là Đức Ông, và Cửa Suốt dần thành Cửa Ông. Ngôi đền ban đầu chỉ là một am cỏ dưới gốc cây cổ thụ bên bờ biển, đầu thế kỷ XX mới được xây lại bằng gạch ngói ở vị trí hiện nay. Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, ông được thỉnh là Đức Ông Đệ Tam Cửa Suốt, nên đền Cửa Ông được coi là đền chính thờ vị thánh này.

Từ chân đồi đi lên, bạn qua đền Hạ thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và Trung Thiên Long Mẫu, rồi đền Trung thờ Hoàng Cần, vị tướng người địa phương được thờ ở đây từ thời ngôi miếu còn mang tên miếu Hoàng Tiết Chế. Đền Thượng là nơi nên dành nhiều thời gian nhất. Trong đền có 34 pho tượng lớn nhỏ niên đại hàng trăm năm, ngồi trên ngai, trong khám: Trần Hưng Đạo mặc long bào, Trần Quốc Tảng mặt đỏ tay cầm hốt ngà, công chúa Quyên Thanh, vua Trần Anh Tông, cùng các tướng Trần Khánh Dư, Yết Kiêu, Phạm Ngũ Lão. Đây là một trong những ngôi đền hiếm hoi còn thờ khá đông đủ gia thất và tướng lĩnh của Trần Hưng Đạo. Quanh đền Thượng còn có đền Quan Châu, chùa Cẩm Sơn nằm ngay trong khuôn viên đền, lăng tượng trưng của Trần Quốc Tảng. Trên quả đồi phía Đông là tượng ông cao 10 m, nặng 40 tấn, quay mặt ra biển.

Khu di tích rộng khoảng 180.000 m², các khu đền xếp lên cao dần theo sườn đồi, nên đi trọn từ đền Hạ lên tượng đài mất chừng nửa ngày. Đền rất đông vào rằm, mùng 1, dịp đầu xuân và mùa hội từ mùng 3 tháng 2 đến hết tháng 3 âm lịch; riêng tám tháng đầu năm 2022, đền đón hơn 231.500 lượt người. Ngoài mùa xuân, hội mùa thu mùng 3 và 4 tháng 8 âm lịch thiên về nghi lễ, có lễ tưởng niệm Trần Quốc Tảng ngày 16/8 và Trần Hưng Đạo ngày 20/8 âm lịch. Chương trình lễ hội có ở entry riêng.

Đền Cửa Ông là nơi thờ tự người dân vẫn đến hành lễ quanh năm, không chỉ là điểm ngắm cảnh. Ban quản lý có quầy cho mượn áo dài đi lễ miễn phí ngay tại cổng đền, dành cho khách đang mặc váy ngắn trên gối hay trang phục chưa phù hợp với nơi thờ tự. Loa trong đền cũng thường nhắc khách hạn chế đốt hương, vàng mã và đặt tiền vào hòm công đức.

Đền Cửa Ông hợp với người quan tâm lịch sử nhà Trần, nghệ thuật tượng thờ cổ, và khách đi tuyến Hạ Long đi Vân Đồn muốn dừng lại nửa ngày. Đi thêm khoảng 2 km qua cầu Vân Đồn là đền Cặp Tiên, điểm di tích còn lại của cùng di tích quốc gia đặc biệt, có thể ghép cả hai trong cùng một chuyến. Nếu bạn muốn không gian vắng để chiêm ngưỡng tượng thờ cho kỹ, hãy tránh ngày rằm, mùng 1 và những tháng mùa hội đầu năm.

What to experience

  • Dâng hương, hành lễ tại đền Thượng, đền Trung, đền Hạ
  • Xem hệ thống tượng thờ nhà Trần ở đền Thượng
  • Lên đồi xem tượng Trần Quốc Tảng cao 10 m
  • Viếng chùa Cẩm Sơn trong khuôn viên đền
  • Mượn áo dài đi lễ tại quầy ở cổng đền
  • Dự Lễ hội đền Cửa Ông tháng 2 và tháng 8 âm lịch
  • Kết hợp viếng đền Cặp Tiên cách khoảng 2 km

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • phường Cửa Ông
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • nhà Trần
  • Trần Quốc Tảng
  • tượng thờ cổ
  • tín ngưỡng thờ Mẫu

Art & creative spaces

Hát đúm Quảng Yên

Dân ca đối đáp giọng thổ của làng đảo Hà Nam, giữ nhiều lời cổ mang tên đất, tên làng Quảng Yên

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trên vùng đảo Hà Nam của Quảng Yên, mảnh đất mà theo lời kể của người địa phương do các vị Tiên công quai đê lấn biển dựng thành làng mạc, hát đúm là lối dân ca đối đáp giao duyên của người Kinh ven biển, còn được gọi là hát ghẹo, hát giao duyên hay hát ví. Hát đúm có ở Vạn Ninh (Móng Cái), Thắng Lợi (Vân Đồn), làng chài Cửa Vạn trên vịnh Hạ Long, nhưng nơi giữ được tính địa phương và nguyên bản nhất, theo Báo Quảng Ninh, là Hà Nam.

Cái riêng của hát đúm Hà Nam nằm ở giọng và lời. Người Hà Nam ưa giọng thổ trầm ấm, khác với giọng kim cao vang của hát đúm, hò biển Vân Đồn, Trà Cổ. Lời hát phần nhiều là lời cổ, thể lục bát, lục bát biến thể hay song thất lục bát, trong đó có rất nhiều tên đất, tên làng của vùng Hà Nam như “Tìm em khắp cả Hà Nam/ Hưng Học, Hải Yến tìm nàng, nàng ơi…”. Hát đúm chỉ có một làn điệu, không nhạc đệm; các tốp nam và nữ hát đối đáp, mỗi lời mở và kết bằng câu đưa đẩy “Rằng duyên kết bạn mình ơi” để báo cho bên kia chuẩn bị đối lại. Theo nghiên cứu của một nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ninh, kho hát đúm Hà Nam có hơn 2.300 câu, chia thành 15 tiểu mục như hát chào, hát gặp, hát hỏi, hát mời trầu, hát đố, hát cưới.

Ngày trước, hát đúm có ba dịp chính: hát hội trong lễ, tết; hát trong lao động trên ruộng lúa, bờ đê; và hát đám cưới. Ở hội, trai gái nắm cổ tay nhau mà đối đáp, chàng trai chỉ buông tay khi cô gái hát lại thật hay. Đầu và giữa canh hát người ta mời nhau ăn trầu, cuối canh tặng nhau vật làm tin, nên chẳng ai sợ thua: “Thua thì trao lại nón ô/ Được thì ta muốn cả ô lẫn người”. Lời giã bạn lúc ra về là đoạn lưu luyến nhất của mỗi cuộc hát.

Ngày nay bạn nghe hát đúm chủ yếu ở sân đình và trong các lễ hội của vùng Hà Nam. Câu lạc bộ hát đúm của thị xã được lập năm 2003, đều đặn biểu diễn mỗi dịp Hà Nam có hội; hát đúm cũng nằm trong chuỗi sinh hoạt dân gian của Lễ hội Tiên Công ở miếu Tiên Công (phường Phong Cốc), chính hội ngày 7 tháng Giêng âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm), cùng chơi đu, chọi gà, cờ người, đấu vật. Từ năm 2016, các nghệ nhân dạy hát đúm ngoại khóa ở nhiều trường; hè 2024 có lớp cho học sinh tại phường Phong Hải cũ và những buổi tập, biểu diễn vào tối cuối tuần ở đình Cốc.

Hát đúm không có sân khấu hay lịch diễn công khai cố định, cũng chưa có kênh liên hệ chính thức để đặt xem; muốn nghe, bạn gần như phải canh đúng dịp lễ hội đầu xuân. Phần lớn hội viên câu lạc bộ là người cao tuổi, tự góp tiền may trang phục và duy trì sinh hoạt hằng tháng, nên đây là một sinh hoạt cộng đồng chứ không phải một buổi trình diễn bán vé. Lời hát là thơ cổ với nhiều tên đất, tên làng địa phương; nghe cùng người am hiểu sẽ giúp bạn theo được từng câu đối.

Hát đúm hợp với người yêu dân ca, muốn hiểu đời sống làng biển và lối giao duyên xưa của người Kinh ở Quảng Ninh, nhất là khi ghép với Lễ hội Tiên Công đầu xuân hay các bãi cọc Bạch Đằng trên cùng vùng đảo. Nếu bạn tìm một chương trình biểu diễn có giờ giấc rõ ràng để xem bất cứ ngày nào, hát đúm Quảng Yên sẽ khó đáp ứng; khi đó hãy theo dõi lịch lễ hội của địa phương trước chuyến đi.

What to experience

  • Nghe hát đúm trong Lễ hội Tiên Công (7 tháng Giêng)
  • Xem câu lạc bộ hát đúm biểu diễn dịp lễ hội ở Hà Nam

Keywords

  • nghệ thuật & sáng tạo
  • Quảng Ninh
  • Quảng Yên
  • đảo Hà Nam
  • hát đúm
  • dân ca giao duyên
  • dân ca vùng biển
  • lễ hội Tiên Công

Festivals

Lễ hội miếu Ông – miếu Bà

Hội rước nước sông Ba Chẽ về tắm tượng ở hai ngôi miếu đối bờ, ngày 1 tháng 3 âm lịch

Ba Chẽ, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ngày 1 tháng 3 âm lịch hằng năm, người dân các dân tộc vùng Ba Chẽ về hai ngôi miếu nằm đối diện nhau bên hai bờ sông Ba Chẽ để mở hội. Ngày dương lịch đổi theo năm, và các kỳ gần đây hội thường kéo dài hai ngày quanh mốc này: năm 2024 là ngày 8 và 9/4, năm 2023 là ngày 21 và 22/4. Khu di tích Miếu Ông - Miếu Bà nằm ở xã Ba Chẽ (xã Nam Sơn cũ), cách Hạ Long khoảng 70 km theo quốc lộ 18; qua cầu Ba Chẽ, rẽ vào chừng 1 km là tới. Ngày 27/10/2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng nơi đây là Di tích lịch sử quốc gia.

Miếu Ông có tên cổ là Tam Trĩ linh từ, thờ Tả tướng quân Lê Bá Đức, người theo lời kể đã phò Thượng hoàng Trần Thánh Tông và vua Trần Nhân Tông khi hai vua lui về vùng sông Ba Chẽ đầu năm 1285. Sử cũ chép việc hai vua đi thuyền nhỏ đến Tam Trĩ, tên xưa của Ba Chẽ, rồi bỏ thuyền đi bộ đến Thủy Chú. Theo hồ sơ di tích, miếu còn thờ thần Tam Trĩ là thần sông, cùng các vua Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn; khu phế tích miếu cổ còn chân tảng đá và mô hình tháp đất nung thế kỷ XIII và XIV, bến thuyền cổ bên miếu còn mảnh gốm cùng thời. Bên kia sông, Miếu Bà trên núi Cái Tăn thờ Mẫu Thượng Ngàn, bà chúa của rừng xanh. Mẫu được thờ ở nhiều nơi, riêng rẽ hoặc phối thờ trong chùa, đền; ở Ba Chẽ, Miếu Bà đứng tách riêng ngay nơi cửa biển.

Vì là lễ của một vùng sông nước, mọi thứ bắt đầu từ dòng sông. Mở hội là lễ rước nước: nước được lấy trên sông Ba Chẽ, tương truyền ở đảo Nô Tôn Chuông cách miếu khoảng 1 km, nơi nước sâu và trong nhất, rồi đưa về Miếu Ông làm lễ mộc dục, tức tắm tượng. Tiếp đó là rước bài vị Tả tướng quân Lê Bá Đức (năm 2019 có 16 khối rước), đọc chúc văn và dâng hương. Từ năm 2018 có thêm lễ phóng sinh để giữ nguồn lợi thủy sản; năm 2024, người dự lễ thả hơn 500 con cá vược giống xuống sông. Phần hội có chèo thuyền, chèo thuyền bằng chân, đẩy gậy, kéo co, tung còn, gói bánh chưng, đi cà kheo, bịt mắt bắt vịt; năm 2024 có màn gói bánh chưng gù của đồng bào Dao Thanh Y. Người Dao, dân tộc đông nhất Ba Chẽ, cùng người Kinh là nòng cốt của cả phần lễ lẫn phần hội.

Đây là lễ hội của một địa phương miền núi, quy mô vừa phải, không phải mùa hành hương lớn. Lịch từng năm do địa phương công bố gần ngày hội, và chưa thấy thông báo chính thức cho kỳ 2025, 2026 sau khi xã Nam Sơn nhập vào xã Ba Chẽ, nên hãy kiểm tra trước khi đi. Hai miếu nằm hai bờ: cây cầu vòm nối hai miếu được tính đến từ khi phục dựng di tích nhưng đến năm 2020 vẫn chưa xây.

Lễ mộc dục do Ban Tổ chức tiến hành trong Miếu Ông, rước bài vị là nghi thức của những người được giao hành lễ; phần dành cho khách là dâng hương, đứng xem đoàn rước và tham gia các trò chơi ở phần hội. Miếu Ông và Miếu Bà là nơi thờ tự đang được cộng đồng sử dụng, nên hãy giữ trật tự trong khu hành lễ.

Nếu bạn muốn xem một hội làng vùng sông nước miền núi, nơi nghi lễ xoay quanh nước sông và bài vị một vị tướng thời Trần, lại có thể ghép thêm chuyến thuyền trên sông Ba Chẽ hay rừng ngập mặn Đồng Rui gần đó, thì đây là dịp hợp lý. Còn nếu bạn tìm một lễ hội đầu xuân quy mô lớn, nhiều dịch vụ, Lễ hội Yên Tử sẽ phù hợp hơn.

What to experience

  • Xem lễ rước nước từ sông Ba Chẽ
  • Dâng hương tại Miếu Ông và Miếu Bà
  • Xem rước bài vị Tả tướng quân Lê Bá Đức
  • Xem lễ phóng sinh cá trên sông Ba Chẽ
  • Chơi trò dân gian: đẩy gậy, kéo co, tung còn
  • Xem thi chèo thuyền trên sông Ba Chẽ

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • xã Ba Chẽ
  • sông Ba Chẽ
  • Lê Bá Đức
  • Mẫu Thượng Ngàn
  • di tích lịch sử quốc gia
  • tháng 3 âm lịch

Heritage spaces

Chùa Hồ Thiên

Chùa Trúc Lâm thời Trần lưng chừng núi Phật Sơn, nơi Tổ Pháp Loa mở am năm 1327

Bình Khê, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trên cung đường núi nối Yên Tử với Ngọa Vân, từ bãi gửi xe ở phường Bình Khê, bạn leo chừng 30 đến 40 phút theo bậc đá xuyên rừng để tới chùa Hồ Thiên, tên chữ là Trù Phong tự. Chùa nằm lưng chừng sườn Nam núi Phật Sơn, ở độ cao hơn 500 m; ba phía Bắc, Đông, Tây là núi rừng, phía Nam nhìn về hồ Bến Châu, đúng thế "tựa sơn hướng thủy". Cái tên dễ khiến người ta đi tìm mặt nước, nhưng trên núi không có hồ nào: chữ "Hồ" ở đây được hiểu là nơi hội tụ cảnh đẹp của đất trời.

Hồ Thiên là một mắt xích của Thiền phái Trúc Lâm. Tương truyền Phật hoàng Trần Nhân Tông từng đăng đàn thuyết pháp tại đây; sách Tam tổ thực lục và văn bia chùa Quỳnh Lâm chép rằng năm 1327, Tổ thứ hai Pháp Loa cho mở am Hồ Thiên, rồi chùa được dựng thêm hàng chục công trình như chùa chính, nhà bia, tăng xá, vườn tháp để làm nơi truyền kinh giảng đạo. Đến thời Lê Trung Hưng, chùa được triều đình trùng tu với quy mô lớn. Năm 2006, chùa được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, và hiện là một hạng mục của Khu di tích quốc gia đặc biệt nhà Trần tại Đông Triều.

Lối lên bắt đầu từ cổng chùa và những bậc đá xanh, đi qua một bãi đá có nhiều hòn đá hình dáng lạ, một vườn nhãn và chiếc cầu bắc qua suối, rồi men theo con đường lát đá dài gần hai cây số dưới tán rừng được giữ gìn tốt. Lên tới nơi, ngoài Tam bảo, nhà tổ, nhà tăng mới dựng lại, hãy vòng ra vườn tháp phía sau: tháp thờ Phật 7 tầng bằng đá được cho là thời Trần chỉ có 5 tầng, về sau mới dựng thêm 2 tầng; quanh đó là các tháp tổ phục dựng theo đúng kích thước, hoa văn cũ và một tháp tổ xây gạch thời Lê Trung Hưng còn lại đến nay. Cách khu chính khoảng 200 m về phía Đông là nhà bia hình chữ Đinh, nơi đặt tấm bia "Trù Phong tự bi ký" dựng năm 1736 đời vua Lê Ý Tông, tính cả đế cao hơn 2,7 m, ghi công đức chúa Trịnh trùng tu chùa. Hôm trời quang, đứng ở vườn bia có thể thấy mây trôi ngang tầm mắt.

Điều nên biết trước: chặng cuối là leo núi bằng bậc đá, không phải đường xe. Tam bảo, nhà tổ, nhà tăng, nhà khách hiện nay là công trình dựng lại, sau đợt tu bổ, tôn tạo khởi công cuối năm 2018; dấu tích của chùa cổ thời Trần và thời Lê nằm ở nền móng, hàng chục chân tảng đá kê cột, các tháp và bia đá. Vào chùa không mất vé, còn giờ mở cửa và quy định công đức chưa thấy cơ quan quản lý công bố. Chùa cũng khá vắng: một bài báo mùa xuân năm 2024 kể cả quãng đường gần hai cây số không gặp mấy người.

Hồ Thiên vừa là nơi người dân về lễ Phật, vừa nằm trong khu vực bảo vệ của di tích quốc gia. Tấm bia năm 1736, tháp tổ gạch và các chân tảng là hiện vật gốc đã vài trăm năm, nên hãy ngắm và chụp ảnh mà không ngồi, trèo hay chạm vào. Chùa đông người nhất vào đầu Xuân và các dịp lễ lớn của Phật giáo.

Chùa hợp với người đang đi theo mạch Trúc Lâm qua Yên Tử, Ngọa Vân và Quỳnh Lâm và muốn thêm một chặng vắng, có rừng và dấu tích khảo cổ, hoặc với ai quen leo núi nhẹ. Nếu khó leo bậc đá lâu, bạn có thể chọn chùa Quỳnh Lâm trên đồi Tiên Du cùng phường Bình Khê, hay đền An Sinh và Thái miếu ở phường An Sinh, đều thuộc khu di tích nhà Trần.

What to experience

  • Leo bậc đá xuyên rừng lên chùa (30–40 phút)
  • Lễ Phật tại Tam bảo
  • Xem vườn tháp với tháp thờ Phật 7 tầng bằng đá
  • Xem bia Trù Phong tự bi ký (1736) ở nhà bia

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • phường Bình Khê
  • Đông Triều
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • chùa thời Trần
  • di tích quốc gia
  • dãy Yên Tử
  • bia đá cổ

Craft villages

Nghề làm miến dong Bình Liêu

Nghề làm miến từ củ dong riềng của người Sán Chỉ ở Húc Động, phơi trên ruộng gốc rạ từ tháng 10 âm lịch

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ trung tâm xã Bình Liêu, đi chừng 12 đến 15 km đường liên xã qua những triền rừng hồi, quế là vào thung lũng Húc Động, nơi tập trung nhiều cơ sở làm miến dong nhất vùng Bình Liêu. Từ khoảng tháng 10 âm lịch đến giáp Tết, những thửa ruộng vừa gặt chỉ còn gốc rạ biến thành sân phơi: phên miến xếp hàng đón nắng, phụ nữ Sán Chỉ trong áo xanh tất bật giữa các hàng phên. Người Sán Chỉ gọi miến dong là “Nam Phăn”.

Miến ở đây làm hoàn toàn từ củ dong riềng trồng trên nương, rẫy và ruộng bậc thang của Bình Liêu, củ được dỡ sau vụ lúa. Sợi miến không vàng bóng hay trắng ngần như nhiều nơi mà có màu xanh lục nhạt, màu của bột dong nguyên chất; nấu lên dai mà mềm, nấu lại vẫn không nát. Người làm miến nói nghề này “trông vào ông mặt trời”: không có nắng phơi miến thì cũng không xay củ, nên mọi việc nối nhau trong ngày. Sáng sớm xay củ dong, khuấy và lọc bột cho hết xơ bã, tráng thành bánh, phơi một đến hai nắng, cán thành sợi rồi phơi thêm một nắng trước khi đóng gói. Ngày giáp Tết có nhà dậy từ 2 đến 3 giờ sáng cắt sợi, đợi sương tan mới mang phên ra ruộng. Ngày trước, củ dong được thái lát phơi trên đá cuội ven suối, giã và lọc bột ngay tại suối; từ năm 2003 nhiều hộ ở Húc Động có dây chuyền chế biến, nay máy đặt trong nhà, nước suối nguồn được dẫn về để rửa củ, lọc bột. Miến của vùng dùng chung nhãn hiệu chứng nhận “Miến dong Bình Liêu” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ.

Muốn thấy rõ nghề, bạn nên đến vào một buổi sáng nắng trong mùa miến, đi dọc các thôn như Nà Ếch, Lục Ngù, Mó Túc: phên miến phơi kín ruộng, trong xưởng người tráng bánh, người cắt sợi, người cân và đóng gói, mỗi người một công đoạn. Mùi chua nồng của nước bột dong lên men tỏa ra từ đầu ngõ là cách dễ nhất để nhận ra nhà đang làm miến. Miến có thể mua ngay tại nơi làm. Dịp Ngày hội Soóng Cọ (năm 2026 tổ chức từ 30/4 đến 3/5), thôn Lục Ngù có hoạt động cho khách tìm hiểu văn hóa Sán Chỉ và trải nghiệm làm miến dong.

Cần biết trước: đây là các hộ và cơ sở sản xuất, chưa có điểm đón khách, giờ mở cửa hay giá tham quan công bố. Mùa làm miến gắn với mùa dỡ củ dong, nên sau Tết đến khoảng tháng 9 phần lớn hộ nghỉ làm, chỉ vài cơ sở có bột dự trữ để chạy quanh năm; ngày mưa không có cảnh phơi. Khu xay, lọc bột ồn tiếng máy, nền ẩm và có mùi chua của bột lên men. Phần lớn số liệu công khai về số cơ sở, sản lượng là từ giai đoạn từ 2014 đến 2022.

Ruộng phơi và sân là đất của các gia đình, phên miến đang phơi là hàng sắp bán, nên hãy đi theo bờ ruộng, lối đi và đừng chạm vào phên. Hỏi chủ nhà trước khi bước vào khu xay lọc hay chụp cận cảnh người làm, phần đông là phụ nữ Sán Chỉ đang làm việc.

Húc Động hợp với người thích nghề thủ công và đời sống vùng cao, người chụp ảnh mùa nắng hanh cuối năm, hoặc khách lên Bình Liêu dịp giáp Tết muốn mua miến ngay nơi làm ra. Nếu bạn cần một làng nghề có lịch tham quan và hướng dẫn cố định, dịp Ngày hội Soóng Cọ là lúc dễ tiếp cận nhất. Từ trung tâm Húc Động đi thêm khoảng 3 km là tới thác Khe Vằn, có thể ghép trong cùng một buổi.

What to experience

  • Xem phơi miến trên ruộng (tháng 10 âm lịch – Tết)
  • Xem các công đoạn làm miến tại cơ sở (hỏi trước)
  • Mua miến dong tại nơi sản xuất
  • Trải nghiệm làm miến dịp Ngày hội Soóng Cọ

Keywords

  • làng nghề
  • miến dong
  • dong riềng
  • người Sán Chỉ
  • Húc Động
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • nghề thủ công truyền thống

Heritage spaces

Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đảo Cô Tô

Tượng đài Bác Hồ dựng từ năm 1968 nơi trực thăng chở Người hạ cánh, Di tích quốc gia đặc biệt trên đảo Cô Tô

Cô Tô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ cầu cảng Cô Tô, đi chừng 2 km về phía tây nam đảo là tới khu lưu niệm, nơi bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá granit đứng lưng tựa núi, tay phải giơ cao vẫy chào, mặt hướng ra biển. Tượng và tấm bia phía sau được dựng đúng chỗ chiếc trực thăng chở Bác hạ cánh sáng ngày 9/5/1961, trong chuyến Người từ Trà Cổ ra thăm quân và dân trên đảo.

Điều làm nên nét riêng của di tích nằm ở mốc thời gian. Theo hồ sơ di tích, tháng 1/1962 Bác cho phép tỉnh Hải Ninh dựng tượng Người trên đảo, và Cô Tô được nhiều nguồn ghi nhận là nơi duy nhất trong cả nước được Bác đồng ý dựng tượng lúc sinh thời. Bức tượng bán thân đầu tiên do nhà điêu khắc Nguyễn Văn Quế cùng đồng nghiệp thực hiện, khánh thành năm 1968; năm 1976 được thay bằng tượng toàn thân bê tông cốt thép cao 4,5 m, cả bệ 9 m; từ năm 1996 tượng được chuyển sang đá granit, giữ nguyên mẫu cũ, hoàn thành ngày 12/5/1997. Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 1997 và là Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 93/QĐ-TTg ngày 18/1/2022.

Khu lưu niệm gồm năm điểm di tích. Sau tượng đài, trên cùng một trục, là đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh xây theo lối truyền thống, giản dị, nơi khách dâng hương. Nhà trưng bày lưu niệm vốn là trụ sở Ủy ban Hành chính xã Cô Tô, được cải tạo từ những năm 1970: gian giữa có bức tranh của họa sĩ Văn Giáo tái hiện ngày Bác ra đảo, gian bên có tủ kính quần áo, đồ dùng của Bác cùng ảnh và bút tích của các lãnh đạo từng thăm Cô Tô; năm 2019 nhà được tu sửa, bổ sung hiện vật và có hướng dẫn viên thuyết minh. Hai điểm còn lại ghi dấu những nơi Bác đi qua hôm ấy: Dốc Khoai, nơi Bí thư Tỉnh ủy Hải Ninh Hoàng Chính bới thử một bụi khoai để Bác xem giống khoai của bà con, và cánh đồng muối Bác ghé thăm buổi sáng; cả hai đều có bia dựng năm 2003.

Đây là khu tưởng niệm, không phải điểm vui chơi. Các điểm di tích nằm rải ở vài khu dân cư của thị trấn cũ, nên muốn xem đủ Dốc Khoai và cánh đồng muối bạn cần đi thêm một đoạn. Cổng du lịch của đặc khu chỉ ghi khu lưu niệm mở cửa tự do hằng ngày; khung giờ của nhà trưng bày và việc có thu vé hay không chưa được công bố cụ thể. Ra đảo phải đi tàu từ đất liền, thường từ cảng Ao Tiên (Vân Đồn), và lịch tàu phụ thuộc thời tiết biển.

Với người Cô Tô, đây là nơi gắn với đời sống thường ngày: vào ngày sinh nhật Bác, ngày Quốc khánh và các ngày lễ lớn, bà con ra thắp hương, và nhiều người khi đi ngang vẫn bỏ mũ, nón chào Bác. Cổng du lịch của đặc khu đề nghị du khách ăn mặc lịch sự, giữ trật tự và vệ sinh trong khuôn viên, nên đến vào buổi sáng hoặc buổi chiều để tránh nắng gắt. Quanh các dịp 9/5 (ngày Bác thăm đảo) và 19/5, địa phương thường tổ chức lễ dâng hương, kỷ niệm tại đây.

Khu lưu niệm hợp với người muốn hiểu câu chuyện riêng của Cô Tô trước khi ra biển; nhiều du khách chọn ghé đây đầu tiên khi vừa lên đảo. Với chuyến 2 ngày 1 đêm, bạn có thể ghép điểm này với bãi tắm Hồng Vàn, Vàn Chảy, bãi đá Móng Rồng và hải đăng Cô Tô; còn nếu bạn chủ yếu tìm thiên nhiên và hoạt động biển, các bãi tắm hay đảo Cô Tô Con sẽ hợp hơn.

What to experience

  • Dâng hương tại tượng đài và đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Xem tranh, hiện vật, ảnh tại nhà trưng bày lưu niệm
  • Nghe hướng dẫn viên thuyết minh tại nhà lưu niệm
  • Xem bia ghi dấu Dốc Khoai và cánh đồng muối
  • Tra cứu thông tin song ngữ Việt – Anh qua điểm chạm NFC

Keywords

  • không gian di sản
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • di tích lịch sử
  • tượng đài Bác Hồ
  • đặc khu Cô Tô
  • đảo Cô Tô
  • Quảng Ninh

Nature & seasons

Vịnh Bái Tử Long

Khoảng 600 đảo ở phía Đông Bắc vịnh Hạ Long, đảo đá vôi xen đảo đất có làng chài và rừng ngập mặn

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Đi tiếp về phía Đông Bắc vịnh Hạ Long, qua vùng biển ven bờ Cẩm Phả tới Vân Đồn, bạn vào vịnh Bái Tử Long: khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 20 đảo đất, còn lại chủ yếu là đảo đá vôi. Tương truyền, khi Ngọc Hoàng sai đàn rồng xuống giúp người Việt, nơi rồng mẹ đáp xuống là Hạ Long, còn nơi đàn rồng con đáp xuống, cúi đầu chào mẹ là Bái Tử Long.

Điều nên biết trước tiên: Bái Tử Long và vịnh Hạ Long là hai vùng vịnh nằm cạnh nhau nhưng khác nhau về địa giới và danh hiệu. Danh hiệu Di sản thiên nhiên thế giới của UNESCO (năm 1994, 2000, và năm 2023 mở rộng thành Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà) không bao gồm Bái Tử Long. Danh hiệu Vườn Di sản ASEAN trao năm 2017 thuộc về Vườn quốc gia Bái Tử Long, một khu bảo tồn rộng 15.783 ha nằm trong lòng vịnh, chứ không phải toàn bộ vùng vịnh.

Cái riêng của Bái Tử Long nằm ở địa hình. Vịnh Hạ Long chỉ có đảo đá vôi, còn ở đây đảo đá xen với những đảo đất lớn có người ở như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng. Bờ phía Đông của các đảo đất ngoài cùng hứng sóng nên có những bãi cát trắng dài từ 3 đến 5 km, còn bờ phía Tây khuất sóng thành bãi triều và rừng ngập mặn. Giữa các đảo đá có hơn 20 hang động, tùng áng như hang Nhà Trò, hang luồn Cái Đé, động Phất Cờ; những ngấn biển ở chân đảo đá và hang Soi Nhụ được giới nghiên cứu xem là dấu vết của mực nước biển thời xa xưa. Vùng vịnh cũng gắn với ba nền văn hóa tiền sử Soi Nhụ, Cái Bèo và Hạ Long, cách ngày nay từ 18.000 đến 3.500 năm.

Cách đi phổ biến là lên tàu ở Bến cảng Ao Tiên (đặc khu Vân Đồn) hoặc các cảng bến ở Cẩm Phả. Năm 2024, tỉnh công bố 10 hành trình trên vịnh và 3 hành trình nối với vịnh Hạ Long; từ ngày 29/3/2025, năm hành trình xuất phát từ Ao Tiên được khai trương, đưa khách qua đảo Tây Hoi, đảo Bản Sen, hang Nhà Trò, hang Phất Cờ, khu nuôi trai ngọc hòn Đá Đen, làng chài cống Lão Vọng, hòn Thiên Nga và bãi tắm Cái Lim. Ở đảo Phất Cờ có thể chèo kayak, xem trang trại nổi nuôi rong sụn; còn trên đảo Minh Châu, rừng trâm cổ là nơi hiện được phép đi bộ khám phá rừng của vườn quốc gia.

Tỉnh chưa thu phí tham quan vịnh; bạn chỉ trả vé tàu và phí dịch vụ qua cảng, còn giá vé, lịch chạy do từng đơn vị vận hành tàu công bố. Vịnh khai thác du lịch quanh năm, nhưng nằm giáp vịnh Bắc Bộ nên mùa hè hay có dông, lốc, bão; tàu chỉ được xuất bến khi có giấy phép dựa trên bản tin thời tiết, vì vậy lịch có thể đổi vào phút chót. Trước khi tàu chạy, thuyền viên phải phổ biến an toàn cho hành khách, bạn nên để ý chỗ để áo phao và lối thoát hiểm. Nhiều điểm trên hành trình thuộc vườn quốc gia, phần lớn chỉ ngắm từ tàu; hãy theo các biển cảnh báo đặt dọc hành trình qua vườn.

Bái Tử Long hợp với người muốn một vùng vịnh đá vôi ít đô thị hơn, thích ghép chuyến tàu với bãi biển, làng chài và rừng trên các đảo đất. Nếu bạn ưu tiên hệ thống hang động và dịch vụ trên vịnh đã vận hành lâu năm, vịnh Hạ Long ngay bên cạnh sẽ thuận tiện hơn; còn nếu muốn ở lại vài ngày, các đảo Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng trong lòng vịnh là nơi để lưu trú và đi tiếp.

What to experience

  • Đi tàu tham quan theo các hành trình đã công bố
  • Chèo kayak ở đảo Phất Cờ
  • Tìm hiểu nuôi trai ngọc ở hòn Đá Đen
  • Ghé làng chài cống Lão Vọng
  • Tắm biển ở bãi Cái Lim, Minh Châu
  • Đi bộ trong rừng trâm cổ đảo Minh Châu

Keywords

  • thiên nhiên
  • vịnh Bái Tử Long
  • Quảng Ninh
  • Vân Đồn
  • Cẩm Phả
  • đảo đá vôi và đảo đất
  • hang động
  • đi tàu tham quan vịnh
  • Vườn quốc gia Bái Tử Long

Nature & seasons

Núi Cao Xiêm

Đỉnh núi 1.429 m ở xã Lục Hồn, đường trekking qua rừng hồi, đồi thông và đồng cỏ đá tảng

Lục Hồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở vùng cao phía đông Quảng Ninh, trên đất xã Lục Hồn thuộc Bình Liêu cũ, đỉnh Cao Xiêm cao 1.429 m được coi là đỉnh núi cao nhất tỉnh, nên hay được gọi là "nóc nhà" Quảng Ninh. Ngọn núi còn có tên Khau Khoang hoặc Cột Cờ. Ngọn núi đứng cao đến mức từ nhiều bản làng Bình Liêu đều nhìn thấy, và vào ngày mùa, người dân vẫn ngước lên đỉnh Cao Xiêm để đoán trời sắp mưa mà gặt cho kịp.

Đường lên đỉnh là một chuỗi cảnh thay nhau. Từ thôn Ngàn Mèo, lối đi qua rừng hồi, rừng thông, cuối năm có sau sau trổ lá đỏ và hoa sở nở trắng; lên nữa là đồi thông thoai thoải, rồi đồng cỏ mọc mâm xôi, sim tím với những sườn đá tảng nhiều hình thù. Giữa đồng cỏ có "cây cô đơn", điểm mốc quen của cung trekking, và từ đó nhìn thấy những bờ đá chạy dài theo sườn núi; theo người dân, các bờ đá này do người Lục Hồn và Húc Động dựng để chia đất, giữ gia súc. Trên đỉnh có bục gắn chóp inox đánh dấu độ cao 1.429 m, dựng năm 2017. Ngày trời quang, bạn nhìn bao quát Bình Liêu và các dãy núi vùng biên, có hôm biển mây trải tới chân trời.

Cung đường từ chân núi lên đỉnh dài khoảng hơn 7 km; đi từ Ngàn Mèo thường mất khoảng 2 tiếng lên tới đỉnh, nghỉ ăn uống giữa đường thì lâu hơn. Nửa đầu cung đường đã được làm đường cứng, phần còn lại là lối mòn người dân vẫn dùng để đi rừng, hái hồi. Năm 2026, xã Lục Hồn còn dùng một cung ngắn khoảng 2,5 km xuất phát từ rừng thông Cao Xiêm, qua các trạm Rừng Hồi, đồi Cỏ Cao, Săn Mây ở độ cao khoảng 1.300 m, mất chừng 90 đến 120 phút. Lưng chừng núi có bãi đất để cắm trại; giải trekking và tour hai ngày mà xã đang xây dựng đều kết hợp ngủ lại trên núi để ngắm hoàng hôn, bình minh.

Đây vẫn là một cung leo núi thực thụ: chặng cuối là dốc cao dựng đứng, đá lởm chởm, dọc đường ít nguồn nước tự nhiên và lán nghỉ. Mùa hè trời nắng nóng nên leo dễ mất sức hơn; ngày sương mù dày, tầm nhìn có khi không quá 10 m. Sản phẩm du lịch ở đây còn đang hình thành: xã Lục Hồn đã tổ chức tour mẫu trong hai ngày 9 và 10/5/2026, phối hợp với các đơn vị lữ hành, cắm biển chỉ dẫn và đào tạo người dẫn đường địa phương, còn giá, giờ và đầu mối liên hệ chính thức thì chưa được công bố.

Cao Xiêm nằm giữa vùng sống của người Tày, Dao, Sán Chỉ. Trên đường đi bạn sẽ gặp những ngôi nhà trình tường, những người gùi hồi về bản, và nếu đi cùng người dẫn đường người Dao, bạn được nghe kể về rau rừng, cây cỏ mà cộng đồng tích lũy qua nhiều thế hệ. Tour của xã có phần phổ biến nội quy bảo vệ môi trường trước khi xuất phát, vì cung đường đi xuyên rừng tự nhiên và những cánh rừng hồi người dân vẫn thu hái.

Cao Xiêm hợp với người đã quen đi bộ đường núi, thích cắm trại và săn mây, nhất là vào mùa thu đông, khi trời mát, hoa sở trắng sườn đồi; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 cũng là mùa leo núi của Bình Liêu. Nếu bạn chỉ muốn một quãng đi bộ ngắn và nhẹ, thác Khe Vằn hay ruộng bậc thang Cao Thắng ngay trong vùng sẽ vừa sức hơn; còn nếu muốn nhìn toàn cảnh Bình Liêu từ điểm cao nhất, đây là nơi đáng để dành trọn một ngày.

What to experience

  • Trekking lên đỉnh cao 1.429 m
  • Cắm trại lưng chừng núi, ngắm hoàng hôn và bình minh
  • Săn mây, ngắm toàn cảnh Bình Liêu từ đỉnh
  • Tìm hiểu rau rừng, cây cỏ cùng người dẫn đường địa phương

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • núi
  • trekking
  • nóc nhà Quảng Ninh
  • Lục Hồn
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • săn mây
  • cắm trại

Heritage spaces

Đình Trà Cổ

Đình làng chữ đinh của cư dân gốc Đồ Sơn bên biển Trà Cổ, Di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2023

Móng Cái 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở khu Nam Thọ, giữa bán đảo Trà Cổ xưa và chỉ cách bãi biển Trà Cổ chừng 200 mét theo đường chim bay, đình Trà Cổ là ngôi đình làng của cư dân vạn chài nơi địa đầu Đông Bắc. Đình kiểu chữ đinh, mái lợp ngói vẩy, bốn góc đao cong vút như một con thuyền rẽ sóng, quay hướng Nam ghé Đông, nhìn ra phía biển, gần đúng với gốc gác của những người dựng nên nó.

Người Trà Cổ vẫn dạy con cháu câu thành ngữ “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn”. Tương truyền vào thời Hậu Lê, mười hai gia đình làm nghề đánh cá ở Đồ Sơn gặp sóng to gió lớn, trôi dạt vào một bán đảo chỉ có sú vẹt và lau sậy; sáu gia đình quay về quê cũ, sáu gia đình ở lại khai đất lập làng. Dựng đình xong, dân làng trở về Đồ Sơn xin chân hương các vị thành hoàng về thờ, và đình phối thờ sáu vị tiên công có công khai khẩn. Theo hồ sơ khoa học xếp hạng, đình có từ năm 1461; còn căn cứ vào kiến trúc hiện lưu giữ, ngôi đình bạn thấy hôm nay được phỏng đoán dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XVIII.

Năm 1974, đình Trà Cổ được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia, là di tích đầu tiên của Móng Cái được xếp hạng. Ngày 24/10/2023, đình được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 1225/QĐ-TTg. Lễ hội của đình, diễn ra hằng năm từ ngày 30/5 đến 3/6 âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm), là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019.

Vào trong đình, điều đáng nhìn kỹ là các bức cốn ở vì kèo: những mảng chạm long cuốn thủy, phượng bay, hổ rình mồi bên cành hoa lá. Lòng đình có 48 cột lim đặt trên tảng kê đá xanh, đầu xà gồ chạm đầu rồng, hai đầu hồi treo hoành phi sơn son thếp vàng ghi “Nam sơn tịnh thọ” và “Địa cửu thiên trường”. Đình còn giữ ba đỉnh hương đồng, hai hạc cưỡi đầu rùa sơn son thếp vàng, tám long ngai gỗ thời Nguyễn và 12 sắc phong. Khuôn viên khoảng 1.200 m² gồm cổng, đình, sân vườn, nhà thủ từ và am hóa sớ.

Đình đã qua nhiều lần trùng tu: năm 1921 ván xung quanh được thay bằng tường gạch, ngói mũi vẩy thay bằng ngói mũi bằng; lần tu bổ lớn gần nhất là năm 2012, có thay thế một phần cấu kiện gỗ và phục chế hoa văn trên mái. Vì thế đây là một công trình cổ được tu bổ nhiều lớp, không phải một ngôi đình còn nguyên lớp gỗ ban đầu. Đình là nơi thờ tự đang hoạt động, mỗi năm đón trên 20.000 lượt khách tham quan, chiêm bái; Ban Quản lý di tích có nội quy hướng dẫn nhân dân và du khách, bạn nên xem nội quy tại chỗ trước khi vào gian thờ. Khung giờ mở cửa và giá vé chưa được công bố trên kênh chính thức, nên hỏi trước tại địa phương.

Đình Trà Cổ hợp với người muốn xem một ngôi đình làng kiểu Bắc Bộ ở vùng biển biên giới, thích chạm khắc gỗ và những câu chuyện lập làng của cư dân biển. Đình nằm ngay trong khu du lịch Trà Cổ nên dễ ghép với bãi biển Trà Cổ, chùa Nam Thọ, nhà thờ Trà Cổ hay mũi Sa Vĩ trong cùng một chuyến. Nếu muốn thấy đình đông vui nhất, hãy đến dịp lễ hội cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 âm lịch, với lễ rước thần trên biển và hội thi “Ông Voi”; chi tiết lễ hội có ở mục riêng.

What to experience

  • Tham quan Đại đình chữ đinh và cốn chạm vì kèo
  • Xem hiện vật: đỉnh hương đồng, long ngai, sắc phong
  • Dâng hương, chiêm bái theo nội quy di tích
  • Dự lễ hội đình Trà Cổ (30/5 – 3/6 âm lịch)

Keywords

  • không gian di sản
  • đình làng
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • Trà Cổ
  • Móng Cái
  • Quảng Ninh
  • kiến trúc gỗ chữ đinh
  • thờ thành hoàng

Nature & seasons

Núi Cao Ly

Đồng cỏ trên 1.000 m ở vùng biên Bình Liêu, nơi cắm trại săn mây và ngắm hoa mua tím cuối hè

Hoành Mô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ trung tâm xã Húc Động cũ, nay thuộc xã Bình Liêu, theo đường liên xã từ Húc Động đi Đồng Văn đi hơn 10 km lên vùng đồng cỏ trên 1.000 m, bạn sẽ tới núi Cao Ly ở xã Hoành Mô, nơi những bãi cỏ thoai thoải ngay dưới đỉnh đã thành chỗ dựng lều quen thuộc của dân phượt. Cao Ly vừa là tên một dãy núi trải hơn 40 km² với tám đỉnh cao trên 1.000 m, cao nhất là Cao Xiêm 1.429 m, vừa là tên ngọn núi người địa phương còn gọi là núi Cô Đơn.

Vùng núi là rừng phòng hộ đầu nguồn, nhiệt độ trung bình thấp hơn thị trấn Bình Liêu khoảng 4 độ C và thấp hơn Hạ Long khoảng 6 độ C; một số điểm trên núi có chừng một phần ba số ngày trong năm mây mù bao phủ, và đó là lý do Cao Ly thành điểm săn mây. Từ cuối tháng 7 đến cuối tháng 8, hoa mua nở tím các vạt đồi dọc đường lên núi; từ cuối tháng 10, biển mây thường hiện ra lúc 5 đến 6 giờ sáng hoặc 16 đến 17 giờ chiều. Chính con đường liên xã mở năm 2017 đã đưa đồng cỏ này đến gần du khách: giai đoạn từ 2015 đến 2020, hơn một phần ba trong hơn 300.000 lượt khách lên Bình Liêu đã đi cung đường này, nhiều người ở lại cắm trại qua đêm.

Xe máy và ô tô cá nhân lên được tới điểm trại trên bãi cỏ. Từ đó, khoảng 30 đến 40 phút leo bộ là tới đỉnh, dọc đường thỉnh thoảng gặp những đợt mây mù mát lạnh. Trên đỉnh nhìn xuống thung lũng là ruộng lúa, rừng hồi, rừng quế, nhà đất mái ngói âm dương của người Dao, nhà đá và lán dê của người Sán Chỉ; nhìn sang phía bản Phạt Chỉ là núi Kéo Lạn, được gọi tên theo dáng một chiếc kéo lớn nhô ra giữa đồng lau. Mùa hè có sim chín ven đường và đàn bò, dê thả trên đồng cỏ.

Đoạn từ chân núi lên đỉnh là đường mòn, đá chênh vênh xen lẫn đất. Trên đỉnh không có điện lưới, nước hay sóng điện thoại; thời tiết có lúc mưa, sương mù thất thường và đêm càng khuya càng lạnh, nên tự mang đủ nước, áo ấm và đồ cắm trại. Một hợp tác xã địa phương đã làm vườn hoa và dịch vụ trải nghiệm, cắm trại trên khu đồi đỉnh Cao Ly, nhưng giá, giờ và quy định cắm trại chưa được công bố trên kênh chính thức.

Núi Cao Ly gắn với đời sống của người Dao, Sán Chỉ, Tày quanh dãy núi. Từ năm 2025, xã Hoành Mô dựng sân khấu ngay trên đỉnh cho chương trình “Đêm trăng Cao Ly”, với hát Then cùng đàn tính của người Tày, Soóng cọ của người Sán Chỉ, Pả dung của người Dao, chợ nông sản và trò chơi dân gian; năm 2026 chương trình diễn ra ngày 26 và 27/9, có khu cắm trại riêng kèm nội quy. Xã muốn duy trì vào các đêm rằm nhưng lịch chưa cố định, nên theo dõi thông báo của xã trước khi đi. Người làm dịch vụ trên núi luôn nhắc du khách giữ gìn cảnh quan và vệ sinh môi trường, vì vậy hãy mang rác của mình xuống núi.

Cao Ly hợp với nhóm bạn trẻ và gia đình nhỏ thích một đêm cắm trại, chờ mây lúc bình minh. Nếu bạn cần chỗ nghỉ có điện nước, dịch vụ đầy đủ, hoặc khó đi đường mòn dốc đá, nơi này chưa phù hợp. Muốn thử sức với đỉnh cao nhất tỉnh thì Cao Xiêm ở xã Lục Hồn là lựa chọn khó hơn; muốn thêm một chặng nhẹ nhàng thì ghép thác Khe Vằn trong cùng hành trình.

What to experience

  • Cắm trại, dã ngoại trên bãi cỏ dưới đỉnh
  • Leo bộ khoảng 30 – 40 phút lên đỉnh Cao Ly
  • Săn mây, ngắm bình minh từ đỉnh núi
  • Ngắm hoa mua tím cuối tháng 7 – cuối tháng 8

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • núi
  • Bình Liêu
  • Hoành Mô
  • Quảng Ninh
  • săn mây
  • cắm trại
  • hoa mua

Nature & seasons

Thác Pạc Sủi

Thác nhiều tầng mang tên "nước trắng" dưới đỉnh Trâu Đằm, có hồ nhỏ nối nhau và lối bậc đá hai bên dòng

Tiên Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ trung tâm Tiên Yên, theo Quốc lộ 18A qua cầu Tiên Yên rồi rẽ trái men theo đường đồi chừng 8 km, bạn tới thôn Pạc Sủi, nơi dòng suối đổ qua nhiều tầng đá giữa rừng, trải dài dưới đỉnh Trâu Đằm mà người địa phương gọi là Ngàu Vố Lẻng, cao khoảng 700 m. Pạc Sủi nghĩa là "nước trắng", phiên âm tiếng Hoa là Bạch Thủy, cái tên người dân đặt từ lâu theo màu bọt nước tung trên đá. Cổng du lịch của tỉnh gọi đây là điểm du lịch nổi tiếng và đông khách nhất của Tiên Yên.

Cổng du lịch tỉnh chia thác thành 12 tầng (nhiều bài viết khác đếm tới 16), và người đến đây hay nhắc một điều: tầng trên luôn đẹp hơn tầng dưới. Cứ hai, ba tầng lại có một hồ nhỏ nước trong, không sâu, nhìn thấu đáy đá cuội; có tầng dốc đứng tung bọt, có tầng chảy êm, có tầng rễ cây rủ xuống, có tầng nở phong lan. Tầng 12, cao nhất, có vũng nước rộng và những phiến đá phẳng lỳ. Tương truyền mùng 9 tháng 9 âm lịch, bảy nàng tiên xuống tầng thác này đùa vui, nên ngày ấy được coi là ngày sinh ra nguồn nước; dân trong vùng lên lấy nước dẫn về thôn cho mùa màng tươi tốt. Ở tầng 10 có hình tượng Vua Gà, gợi truyền thuyết chú gà trống Tiên Yên bay lên đỉnh thác vỗ cánh gọi mặt trời.

Ô tô vào được tận chân thác, có bãi đỗ xe đổ bê tông. Hai lối bậc đá dài hơn 300 m chạy hai bên dòng, ba cây cầu vòm sơn đỏ vắt qua suối để bạn đứng nhìn dòng nước xô về phía mình. Hạ lưu thoải, dễ đi, hợp để nghỉ trên đá và ngâm mình ở hồ chân thác vào mùa hè; ai thích khám phá có thể leo ngược dòng lên các tầng trên, vượt hết các tầng mất khoảng 4 đến 5 giờ, thêm chừng 1 giờ nếu muốn lên đỉnh Trâu Đằm nhìn bao quát núi rừng Tiên Yên. Thác nhiều nước và đẹp nhất từ khoảng tháng 4, tháng 5 và vào mùa mưa; mùa xuân nước còn ít, mùa khô dòng chảy hiền hơn.

Các tầng trên dốc cao, nhiều chỗ vách đá dựng đứng phải bám rễ cây mới lên được, và đường lên thác nhiều đoạn trơn trượt: nên mặc gọn, đi giày đế bám, mùa mưa mặc kín để tránh vắt, muỗi rừng, và đi cùng người địa phương thạo đường nếu định lên cao. Cuối tuần mùa hè có thể có tới hàng trăm khách. Giờ mở cửa, việc thu vé và đơn vị quản lý hiện chưa được công bố trên kênh chính thức.

Quanh thác là thôn bản và những vạt nương của người Dao Thanh Y, Thanh Phán; bữa trưa có thể là gà đồi Tiên Yên chấm muối ớt tiêu hay cá suối nấu măng chua do các hộ dân gần thác nấu. Xã đã cắm biển khuyến cáo không đốt lửa trại, không nấu nướng trong khu thác vì xung quanh là rừng, các hộ có rừng quanh thác cũng đã ký cam kết giữ rừng, nên đừng nhóm lửa và hãy giữ vệ sinh theo biển hướng dẫn.

Pạc Sủi hợp với người trẻ và nhóm bạn thích leo trèo, tắm suối mát trong ngày hè, đúng với thực tế hơn chín phần mười khách đến đây là giới trẻ. Gia đình có trẻ nhỏ hay người khó đi lại nên dừng ở chân thác và các tầng dưới. Trong một ngày ở Tiên Yên, bạn có thể ghép thác với chợ Tiên Yên, Trung tâm Văn hóa - Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc hay rừng ngập mặn Đồng Rui.

What to experience

  • Đi bộ bậc đá hai bên thác ngắm các tầng
  • Leo ngược dòng lên các tầng thác trên
  • Leo lên đỉnh Trâu Đằm ngắm núi rừng Tiên Yên

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • thác nước
  • Tiên Yên
  • Quảng Ninh
  • thác nhiều tầng
  • đỉnh Trâu Đằm
  • người Dao
  • leo thác

Craft villages

Làng gốm sứ Đông Triều

Cụm làng gốm “nặng lửa” bên Quốc lộ 18A, nung lò bầu đốt củi, nổi tiếng chậu hoa men xanh cỡ lớn

Mạo Khê, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trên Quốc lộ 18A từ Hà Nội về Hạ Long, qua đất Đông Triều bạn sẽ thấy gốm bày dọc hai bên đường. “Làng gốm sứ Đông Triều” là cách người ta gọi chung cụm làng gốm và cơ sở gốm của vùng này, chứ không phải tên một làng. Những làng gốm truyền thống còn đỏ lửa là Vĩnh Hồng, Ánh Hồng ở phường Mạo Khê và khu Cầu Đất thuộc phường Đức Chính cũ; riêng làng Vĩnh Hồng chỉ cách đường cái vài bước chân.

Gốm Đông Triều thuộc dòng “nặng lửa”: phần lớn là sản phẩm cỡ to, nung trong lò bầu đến khoảng 1.300 độ C, nên cứng, bền và nước men trong. Thứ người ta nhắc nhiều nhất là chậu hoa men xanh có đường kính tới 100 cm, cùng đôn kê chậu, ang trồng cây, chum và bình ngâm rượu. Đất làm gốm là cao lanh chịu lửa và đất sét trắng dẻo lấy từ Tử Lạng (Kinh Môn), Hồ Lao, Trúc Thôn thuộc Hải Dương cũ. Lý do nhiều xưởng vẫn đốt củi nằm ở chính cỡ hàng: theo người làm nghề ở Vĩnh Hồng, một bầu lò củi đun được vài trăm sản phẩm to, trong khi lò ga chỉ chứa vài chục và đẩy giá thành lên gấp 4 đến 5 lần. Các làng gốm Đông Triều vang danh từ khoảng thập niên 1950 và 1960; người Vĩnh Hồng thì kể nghề của làng có từ thế kỷ XVIII, theo chân thợ gốm từ Gia Lâm sang. Thương hiệu “Gốm sứ Đông Triều” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể.

Ở Vĩnh Hồng, bạn đi qua những con ngõ hẹp lát gạch, mái ngói ngả màu, giữa lò nung, bãi cao lanh và bể quấy đất; sau nhà là bãi gốm vừa ra lò xếp dọc lối đi, cạnh giếng nước. Ở xưởng đang làm, người thợ có thể chỉ cho khách nhào đất, nặn, chuốt thử một món; quà nhỏ dễ mang về là những con thổi bằng gốm kêu tu huýt. Một số xưởng gốm mỏng trong vùng có khu riêng để khách tự vẽ hoa văn lên sản phẩm rồi gửi nung.

Cần biết trước: đây là nơi sản xuất của các hộ và cơ sở gốm, không phải điểm tham quan có cổng vé, giờ mở cửa hay hướng dẫn viên chung. Lò bầu thường cả tuần mới đốt một lần nên không phải lúc nào cũng gặp cảnh nung; khu lò đốt củi nóng và nhiều khói. Theo báo tỉnh, sau dịch Covid-19 lượng khách tham quan, trải nghiệm làng gốm có xu hướng giảm, và phần lớn số liệu công khai về làng nghề là từ giai đoạn từ 2020 đến 2022.

Xưởng gốm nằm ngay trong nhà dân, sản phẩm mộc và hàng chờ nung bày trên lối đi, nên hãy hỏi chủ xưởng trước khi bước vào khu làm việc hay chụp cận cảnh người thợ, đi chậm quanh các dãy hàng phơi và giữ khoảng cách với miệng lò khi đang đốt.

Làng gốm Đông Triều hợp với người thích nghề gốm, muốn tận mắt thấy lò bầu đốt củi và chọn một chậu hoa men xanh cỡ lớn ngay tại nơi làm ra nó, hoặc khách đi tuyến Hà Nội đi Hạ Long muốn có một điểm dừng gắn với nghề thủ công. Nếu bạn cần một làng nghề có lịch tham quan cố định và dịch vụ sẵn, nên liên hệ trước với cơ sở hoặc đi theo tour có điểm dừng ở đây. Cùng vùng Đông Triều cũ còn có khu di tích Nhà Trần và chùa Quỳnh Lâm, có thể ghép trong cùng chuyến.

What to experience

  • Xem thợ làm gốm và lò bầu tại các xưởng
  • Thử nhào đất, nặn, chuốt gốm khi xưởng nhận khách
  • Tự vẽ hoa văn gốm tại xưởng có khu trải nghiệm
  • Mua chậu, chum, ang gốm tại nơi sản xuất

Keywords

  • làng nghề
  • gốm sứ
  • gốm nặng lửa
  • lò bầu đốt củi
  • Mạo Khê
  • Đông Triều
  • Quảng Ninh
  • Quốc lộ 18A

Nature & seasons

Đảo Ngọc Vừng

Đảo đất có làng chài, ruộng lúa và bãi Trường Chinh giữa vịnh Bái Tử Long, nơi Bác Hồ ghé thăm năm 1962

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ cảng Vũng Đục (Cẩm Phả), tàu chạy chừng 20 đến 30 hải lý giữa những núi đá của vịnh Bái Tử Long là tới Ngọc Vừng, một đảo đất có người ở, có sông, vụng biển, đồng lúa và nước ngọt, nên nhiều người ví đảo như một làng quê nằm giữa biển. Tên đảo đến từ một lời kể: xưa vùng biển này nhiều trai ngọc, đêm đêm phát sáng cả một vùng trời, người đi biển nhìn thấy quầng sáng quanh đảo mà gọi là Ngọc Vừng, "vầng ngọc" giữa biển.

Ngọc Vừng không chỉ có biển. Hòn đảo nằm ở phía Tây của Thương cảng Vân Đồn, thương cảng vua Lý Anh Tông lập năm 1149; các bến cổ Cống Yên, Cống Hẹp trên đảo nay chỉ còn là phế tích. Ở trung tâm xã đảo là Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích quốc gia ghi dấu ngày 12/11/1962 Bác Hồ đi trực thăng ra thăm quân dân trên đảo, với sân đáp, nhà trưng bày, nhà bia và cây đa Bác trồng. Cách đó chừng 1 km là Đình - Miếu Ngọc Vừng thờ ba anh em họ Phạm, những người có công trong chiến thắng Vân Đồn năm 1288; từ năm 2024, lễ rước thần từ Miếu sang Đình vào mùng 3 Tết được phục dựng sau hơn 60 năm gián đoạn.

Tàu cập bến Cống Yên, từ đó xe điện chạy khoảng 15 đến 20 phút về trung tâm xã ở phía Nam đảo. Lấy khu lưu niệm làm điểm xuất phát, bạn đi tiếp ra bãi Trường Chinh, bãi cát trắng dài gần 3 km hướng ra biển Đông có rừng phi lao phía sau và hòn Pháo Đài ở cuối bãi; ghé thành cổ Ngọc Vừng, trận địa pháo 12,7 mm, cột cờ Quốc gia, hay vào thôn Bình Minh xem hồ Ngọc Thủy, hồ Cẩu Lẩu. Người dân trên đảo nuôi hàu, bắt ốc ở các ghềnh đảo Phượng Hoàng và đánh moi, tức tép biển; vào chính vụ tháng 7 âm lịch, ngư dân đẩy te kéo moi ngay trên bãi Trường Chinh, rồi làm gỏi moi, moi khô và mắm chắt ủ từ 3 đến 6 tháng.

Ngọc Vừng vẫn là đảo nhỏ: dịch vụ du lịch chưa nhiều bằng Quan Lạn hay Minh Châu, chỗ ở chủ yếu là homestay, nhà nghỉ của người dân, khách dồn vào mùa hè. Đường ra đảo chỉ có tàu, tuyến và giờ chạy thay đổi theo từng năm và phụ thuộc thời tiết trên vịnh, nhất là mùa mưa bão; nên hỏi lịch tàu ngay trước ngày đi.

Đảo đang duy trì các phong trào thu gom rác ven biển, hạn chế túi nilon và đồ nhựa dùng một lần; mang theo bình nước riêng và mang rác về là cách để bạn theo đúng nếp chung của người Ngọc Vừng. Khu lưu niệm và đình, miếu là nơi người dân gìn giữ ký ức của đảo; năm 2024, lễ rước thần mùng 3 Tết có cả du khách cùng đi trong đoàn, bên cạnh đội cờ thần do các cụ bà đảm nhận và đội nhạc lễ của làng.

Ngọc Vừng hợp với người muốn một hòn đảo yên, có bãi biển dài và đời sống làng chài, lại muốn hiểu lớp lịch sử của vùng Vân Đồn. Nếu bạn cần nhiều lựa chọn lưu trú và ăn uống, Quan Lạn hay Minh Châu trong cùng vịnh sẽ dễ hơn; còn nếu muốn ngắm Ngọc Vừng trong một chuyến tàu qua nhiều đảo, hành trình 9 trên vịnh Bái Tử Long do tỉnh công bố năm 2024 có ghé đảo này cùng Thắng Lợi, Quan Lạn, Minh Châu.

What to experience

  • Tắm biển ở bãi Trường Chinh
  • Thăm Địa điểm lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Thăm Đình – Miếu và thành cổ Ngọc Vừng
  • Đi xe điện quanh đảo
  • Thử làm ngư dân: câu mực, bắt ốc, xúc tép
  • Thuê đò ngư dân thăm các đảo lân cận
  • Thưởng thức gỏi moi, mắm chắt

Keywords

  • thiên nhiên
  • đảo Ngọc Vừng
  • Quảng Ninh
  • Vân Đồn
  • vịnh Bái Tử Long
  • bãi Trường Chinh
  • làng chài
  • moi biển
  • di tích lưu niệm Bác Hồ

Nature & seasons

Đảo Cái Chiên

Xã đảo của Hải Hà cũ với bãi Đầu Rồng dài hơn 2 km, rừng phi lao và ruộng lúa giữa đảo

Cái Chiên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ bến Ghềnh Võ trên đất liền Hải Hà cũ, phà chạy chừng 45 phút, cano khoảng 15 phút, là bạn cập Cái Chiên, xã đảo duy nhất của huyện Hải Hà trước đây và nay là xã Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh. Đảo rộng gần 2.600 ha, phần lớn là những quả đồi nhỏ phủ rừng; ven bờ là cồn đá nhấp nhô và những bãi cát dài có rừng phi lao chạy dọc. Năm 2019, UBND tỉnh công nhận Khu du lịch Cái Chiên là khu du lịch cấp tỉnh theo Quyết định 2366/QĐ-UBND ngày 11/6/2019, trải trên 15.545 ha mà phần lớn là mặt nước.

Điều khiến Cái Chiên khác nhiều đảo du lịch khác là đi sâu vào giữa đảo, bạn gặp ruộng lúa, mùa thu lúa bắt đầu đỏ đuôi, và hồ Khe Dầu, hồ nước ngọt trữ nước cho cả đảo, nơi nhiều người ra ngắm hoàng hôn. Đảo có ba thôn Đầu Rồng, Cái Chiên, Vạn Cả với hơn 700 nhân khẩu (năm 2023), bao đời sống bằng chài lưới ven bờ và trồng trọt. Phải đến tháng 4/2016, Cái Chiên mới có điện lưới quốc gia, là xã đảo cuối cùng của tỉnh được kéo điện; du lịch ở đây lớn lên chừng mươi năm nay, phần nhiều từ chính các hộ dân mở nhà nghỉ, homestay.

Bãi Đầu Rồng ở phía Đông đảo dài hơn 2 km, cát thoai thoải, rừng phi lao có lối tản bộ, và thường được đánh giá đẹp hơn cả. Bãi Cái Chiên gần khu trung tâm, tập trung nhiều homestay và quán nước; Vạn Cả và Vụng Bầu cách trung tâm khoảng 3 km, yên hơn, Vạn Cả có ghềnh đá và bãi sỏi nhiều màu. Bạn có thể theo người dân đi thuyền ra ghềnh bắt ốc, đánh hà, câu mực, câu cá ở cầu cảng, thuê thuyền sang đảo Thoi Xanh, đạp xe trong rừng phi lao hay dậy sớm ngắm bình minh trên biển. Xe điện là phương tiện chính trên đảo, giá được niêm yết công khai; cũng có thể thuê xe máy của người dân hoặc đưa xe từ đất liền ra bằng phà.

Cái Chiên ít dịch vụ: không có chợ cá, ít nhà hàng, bữa ăn thường đặt tại nơi ở trước một buổi, và ngoài khu trung tâm đường đêm hầu như chưa có đèn. Bãi Cái Chiên 1 và 2 khá dốc, không có cứu hộ và được địa phương khuyến cáo không tắm; khi triều lên sóng lớn, nước sâu, hãy mặc áo phao và đừng để trẻ em xuống nước. Phần bãi Đầu Rồng trong khuôn viên một khu nghỉ dưỡng có chòi cứu hộ và vòng phao an toàn. Mùa cao điểm kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, cuối tuần mùa hè nên đặt chỗ ở sớm, còn ngày thường vắng hơn.

Rác trên đảo được thu gom và xử lý ngay tại lò của xã, các bãi tắm có đội thu gom rác riêng, nên mang rác về đúng điểm tập kết là cách thiết thực để giữ những bãi cát này. Đến đây, hãy thử gà râu và hải sản do người dân đánh bắt, hoặc chế biến chính mẻ ốc, mẻ mực bạn vừa câu được tại nhà nghỉ.

Cái Chiên hợp với người muốn vài ngày nghỉ chậm: đi bộ dưới rừng phi lao, đạp xe quanh đảo, ăn hải sản ở nhà dân. Nếu bạn cần nhiều hoạt động giải trí, hàng quán và cuộc sống về đêm, đảo này chưa phải lựa chọn phù hợp. Trên đường ra đảo, bạn có thể ghé đồi chè Quảng Long ở đất liền Hải Hà cũ.

What to experience

  • Đi phà hoặc cano từ bến Ghềnh Võ ra đảo
  • Tắm biển ở bãi có chòi cứu hộ
  • Tản bộ, đạp xe trong rừng phi lao
  • Câu mực, câu cá, bắt ốc cùng người dân
  • Thuê thuyền ra đảo Thoi Xanh
  • Ngắm hoàng hôn ở hồ Khe Dầu
  • Đi xe điện quanh đảo

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • đảo
  • Cái Chiên
  • Hải Hà
  • Quảng Ninh
  • bãi biển
  • rừng phi lao
  • khu du lịch cấp tỉnh
  • câu mực

Heritage spaces

Vịnh Hạ Long

Vịnh biển 1.553 km² với 1.969 hòn đảo, phần lớn là đảo đá vôi; di sản thiên nhiên thế giới, từ 2023 là một phần của di sản liên tỉnh "Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà".

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo đá vôi trước mặt các phường Bãi Cháy, Hồng Gai, Tuần Châu của thành phố Quảng Ninh, cách Hà Nội khoảng 165 km. Mọi chuyến đi bắt đầu ở một cảng tàu khách, rồi tàu chạy giữa các đảo đá, dừng ở hang động, bãi tắm hoặc điểm chèo thuyền.

Theo Ban Quản lý, vịnh rộng 1.553 km² với 1.969 hòn đảo; vùng di sản ban đầu rộng 434 km², gồm 775 đảo. UNESCO ghi danh vịnh là di sản thiên nhiên thế giới năm 1994 về cảnh quan và năm 2000 về địa chất, địa mạo. Năm 2023, ranh giới di sản được điều chỉnh để thêm quần đảo Cát Bà của Hải Phòng, và tên di sản nay là "Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà", rộng 65.650 ha với 1.133 đảo. Từ tháng 11/2025, vịnh do Ban Quản lý Di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử quản lý.

Ban Quản lý công bố 8 hành trình, mỗi hành trình có phí tham quan riêng, chưa gồm tiền tàu. VHL1 đi động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hòn Trống Mái; VHL2 đi đảo Ti Tốp, hang Sửng Sốt, động Mê Cung, hang Luồn. Hai hành trình này có phí 250.000 đồng một người một lần. VHL3 và VHL4 (200.000 đồng) ra xa bờ hơn, qua hang Tiên Ông, hồ Ba Hầm, hang Cỏ, Vông Viêng. Phí tuyến nghỉ đêm từ 500.000 đến 750.000 đồng. Từ tháng 4/2026 có hành trình tàu nối vịnh Hạ Long với vịnh Lan Hạ, xuất phát từ cảng Tuần Châu và cảng tàu khách quốc tế Hạ Long.

Hang Sửng Sốt trên đảo Bồ Hòn là điểm dừng quen thuộc: người Pháp phát hiện hang năm 1901, hang rộng trên 10.000 m², muốn vào phải leo khoảng 50 bậc đá rồi xuống hơn 10 bậc, theo VOV. Mùa cao điểm, VHL1 và VHL2 thường quá tải; luồng tàu trước Thiên Cung, Đầu Gỗ có lúc ùn tắc khi triều xuống, theo Báo Quảng Ninh. Trung tâm văn hóa nổi Cửa Vạn trên VHL3 đã dừng khai thác sau bão Yagi năm 2024.

Mua vé ở nhà ga các cảng, không thuê tàu của người chào mời bên ngoài. Tàu xuất bến từ 5h và về chậm nhất 20h trong mùa hè (1/4 đến 31/10); mùa đông từ 5h30 đến 19h. Phí và giờ có thể đổi, nên hỏi lại.

Ngày 19/7/2025, tàu du lịch Vịnh Xanh 58 chở 49 người bị lật khi gặp giông lốc trên vịnh; 39 người tử vong. Khi có bão, thành phố dừng tàu du lịch trên vịnh, như đợt bão số 1 đầu tháng 7/2026. Chỉ đi tàu có đăng ký, hỏi chỗ để áo phao và lối thoát ngay khi lên tàu, mặc áo phao khi chèo kayak, đi thuyền nan hoặc khi trời chuyển xấu.

Trong hang, đừng bẻ hay chạm vào nhũ đá. Ban Quản lý khuyên không mang nhựa dùng một lần, không mua san hô, không mua hàng từ thuyền nhỏ áp mạn. Hạ Long có truyền thuyết rồng mẹ, rồng con xuống giúp dân đánh giặc; hãy nghe nó như chuyện kể dân gian.

Vịnh hợp với người muốn xem đảo đá vôi và hang động trong một ngày, hoặc ngủ một đêm trên tàu. Nếu bạn ngại cảnh tàu nối đuôi ở VHL1, VHL2, chọn VHL3, VHL4 xa bờ hơn. Vịnh Lan Hạ phía Cát Bà, Hải Phòng, cùng thuộc một di sản, là lựa chọn thay thế có thể nối chuyến bằng tàu.

What to experience

  • Đi tàu tham quan theo 8 hành trình
  • Thăm hang Thiên Cung, Đầu Gỗ, Sửng Sốt
  • Ngủ đêm trên du thuyền
  • Chèo kayak, đi thuyền nan

Keywords

  • di sản thiên nhiên thế giới
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • hang động
  • đảo đá vôi
  • du thuyền
  • Quảng Ninh

Nature & seasons

Sống lưng khủng long – Cột mốc 1305

Sống núi gần 2.000 bậc bê tông trên đường tuần tra biên giới phía Tây Bình Liêu, dẫn lên cột mốc 1305

Hoành Mô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở phía Tây xã Hoành Mô, vùng Bình Liêu cũ, cách Hạ Long hơn 100 km, con đường tuần tra biên giới chạy vắt qua những đỉnh núi phủ cỏ tranh. Đoạn sống núi dẫn lên cột mốc 1305 được người ta gọi là “sống lưng khủng long”: nhìn từ xa, lối đi nhỏ trên đỉnh núi nối các điểm mốc với nhau như sống lưng của một con khủng long thời tiền sử.

Cột mốc 1305 nằm trên tuyến biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, và là một trong hai mốc giới ở vị trí cao nhất trên thực địa Quảng Ninh. Lối lên trước kia chỉ là đường mòn bằng đất, nhỏ hẹp, khúc khuỷu; đến cuối năm 2018, các bậc bê tông do Bộ Quốc phòng xây dựng đã gần hoàn thành. Nay toàn bộ quãng đường chừng 2 km có khoảng 2.000 bậc, có hộ lan và ba trạm nghỉ. Đường tuần tra phía Tây Bình Liêu nằm ở độ cao từ 700 m, xung quanh là những dãy núi cao khoảng 1.000 m.

Có hai lối xe tới điểm dừng chân dưới chân dốc: theo Quốc lộ 18C rẽ vào bản Ngàn Chuồng rồi đi hướng mốc 68 khoảng 23 km, qua các mốc 1300, 1302; hoặc lên cửa khẩu Hoành Mô, qua cầu Hái Nạc rồi chạy thêm hơn 20 km. Ở điểm dừng chân, bạn gửi xe, ăn uống, mua nước rồi bắt đầu leo, thường mất khoảng 2 giờ để tới mốc. Trên đường, người đi xuống hay tặng lại gậy tre, gậy trúc cho người đang lên như một lời động viên. Từ trên cao, ruộng bậc thang và những cung đường uốn lượn của Bình Liêu thu lại trong tầm mắt. Đẹp nhất là cuối tháng 10, đầu tháng 11, khi lau nở trắng hai bên sườn núi; mùa xuân hay có mây và mưa phùn, còn mùa đông có hôm gặp băng giá.

Đây là quãng leo đòi hỏi sức bền: dốc dài và liên tục, nhiều đoạn dốc ngược, có chỗ một bên là vực sâu, cả đi lẫn về mất khoảng 3 giờ. Không đủ sức thì chỉ cần đi chừng một phần ba quãng đường là đã bao quát được núi rừng. Đường xe trên tuyến tuần tra nhiều khúc cua gắt và rất dốc, nên lái chậm và cẩn thận. Cuối tuần mùa lau, khách đổ về đông, bãi xe kín chỗ, lối đi chỉ rộng khoảng 1 m nên nhiều đoạn di chuyển chậm. Giờ được lên mốc và các khoản phí, nếu có, chưa được công bố trên kênh chính thức.

Vì đây là khu vực biên giới, hãy mang theo căn cước công dân, thẻ căn cước hoặc căn cước điện tử, và khai báo thông tin cá nhân với cán bộ biên phòng khi tới cột mốc. Khách nước ngoài cần giấy phép của Công an cấp tỉnh theo quy định về khu vực biên giới đất liền; nếu đi theo đoàn, đơn vị tổ chức phải báo trước cho lực lượng biên phòng và công an. Mọi việc chụp ảnh, bay flycam quanh cột mốc nên hỏi cán bộ biên phòng trước.

Sống lưng khủng long hợp với người khỏe, thích trekking, săn mây và ngắm đồi lau, nhất là khi đi từ sáng sớm. Nếu bạn ngại dốc dài, cột mốc 1297 bên phía Lạng Sơn, đi từ hướng Vô Ngại, có quãng leo ngắn và dễ hơn, còn ruộng bậc thang Lục Hồn là lựa chọn nhẹ nhàng cho mùa lúa chín.

What to experience

  • Đi bộ khoảng 2 km bậc bê tông lên cột mốc 1305
  • Ngắm toàn cảnh núi rừng Bình Liêu từ sống núi
  • Gửi xe, nghỉ chân ở điểm dừng chân dưới chân dốc
  • Ngắm đồi lau cuối tháng 10 – đầu tháng 11

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • Bình Liêu
  • Hoành Mô
  • Quảng Ninh
  • trekking
  • cột mốc 1305
  • đường tuần tra biên giới
  • mùa cỏ lau

Nature & seasons

Đảo Quan Lạn

Đảo dài khoảng 20 km trong vịnh Bái Tử Long, có bãi cát trắng Minh Châu, Sơn Hào, cụm di tích đình chùa Quan Lạn và lễ hội đua thuyền tháng 6 âm lịch.

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Quan Lạn là đảo nằm trong vịnh Bái Tử Long, thuộc đặc khu Vân Đồn, thành phố Quảng Ninh, cách trung tâm Vân Đồn khoảng 40 km. Đảo dài khoảng 20 km, nơi hẹp nhất chỉ khoảng 100 m, trước đây gồm hai xã Quan Lạn và Minh Châu. Từ cảng Cái Rồng hoặc Ao Tiên, tàu cao tốc mất khoảng 40 đến 60 phút; tàu cập cảng Quan Lạn hoặc cảng Minh Châu ở hai phía đảo, cách nhau gần 12 km.

Quan Lạn còn là một phần của thương cảng cổ Vân Đồn. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1149 vua Lý Anh Tông cho lập trang Vân Đồn để thuyền buôn nước ngoài vào buôn bán. Các bến cổ Cái Làng, Cống Cái thuộc xã Quan Lạn cũ và Cái Cổng, Con Quy thuộc xã Minh Châu cũ nằm trong Quần thể di tích Thương cảng Vân Đồn, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2023.

Ngay trong làng là cụm đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn, di tích quốc gia từ năm 1990. Ngôi đình hiện nay dựng khoảng những năm 1890 đến 1900 bằng gỗ mần lái, lưu 18 sắc phong, thờ thành hoàng, các vị tiên công lập làng và phối thờ tướng Trần Khánh Dư. Lễ hội đình Quan Lạn diễn ra trong tháng 6 âm lịch, chính hội ngày 18, kỷ niệm chiến thắng Vân Đồn năm 1288; chiều chính hội, hai giáp Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ đua thuyền. Lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2019.

Ngày đầu, bạn có thể tắm ở bãi Quan Lạn gần cảng, tối ra phố đi bộ ăn đồ biển. Hôm sau chạy xe dọc con đường phi lao khoảng 15 km nối hai đầu đảo, ghé bãi Sơn Hào, bãi Minh Châu, thăm đình và các nhà cổ trên dưới 100 tuổi ở thôn Thái Hòa, rồi leo Eo Gió khoảng 10 đến 15 phút để nhìn ra biển. Sáng sớm có thể theo người dân đào sá sùng; nên đi cùng người hướng dẫn vì cần kinh nghiệm để tìm.

Mặt hạn chế: bãi Minh Châu nằm hướng gió nên đôi khi có rác trôi dạt vào; bãi Sơn Hào thu hẹp khi triều lên. Trên đảo chưa có cây xăng, khách thuê xe máy phải mua xăng của hộ dân với giá cao hơn đất liền. Giờ tàu và giá vé chưa có trang chính thức; hãy hỏi lại tại cảng hoặc nơi lưu trú.

Tháng 4 đến hết tháng 6 là lúc thuận lợi; tháng 7 đến 9 cần theo dõi mưa bão, áp thấp nhiệt đới vì tàu có thể dừng. Đường lên Eo Gió dốc, không nên cho trẻ nhỏ leo. Chỉ tắm ở bãi có người và tránh lúc biển động.

Đình, chùa, miếu, nghè là nơi thờ tự của làng: ăn mặc kín đáo, hỏi người trông coi trước khi chụp ảnh bên trong. Trong mùa lễ hội, phần tế, rước sắc, phong tướng là nghi lễ của cộng đồng; bạn đứng xem ở khu vực được bố trí, không chen vào đoàn rước hay thuyền đua.

Quan Lạn hợp với gia đình có người già, trẻ nhỏ hoặc người dễ say sóng, vì tàu đi trong vịnh, gần như không có sóng lớn. Nếu muốn đi xa hơn ra ngoài khơi, có hải đăng và nhiều đảo nhỏ, đảo Cô Tô là lựa chọn thay thế, nhưng phải đi tàu hơn một giờ từ Cái Rồng.

What to experience

  • Tắm biển Minh Châu, Sơn Hào
  • Tham quan cụm đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn
  • Xem lễ hội đình Quan Lạn (tháng 6 âm lịch)
  • Chạy xe dọc đường phi lao xuyên đảo
  • Ngắm cảnh ở Eo Gió

Keywords

  • biển đảo
  • Quan Lạn
  • bãi Minh Châu
  • đình Quan Lạn
  • lễ hội đua thuyền
  • Vân Đồn

Local markets

Chợ Hạ Long

Chợ đầu mối bên bờ vịnh ở Hồng Gai: hải sản còn sống, chả mực giã tay, quà lưu niệm khảm trai và than đá

Hồng Gai, Quang Ninh · 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ Bãi Cháy qua cầu sang phía Hồng Gai, đến ngã tư Loong Toòng rẽ phải thêm hơn một cây số là tới chợ Hạ Long trên đường Vạn Xuân, sát bờ vịnh. Tên đầy đủ là chợ Hạ Long I, báo chí địa phương quen viết chợ Hạ Long 1, để phân biệt với chợ Hạ Long II cách đó khoảng một cây số. Đây là một trong những chợ đầu mối lớn nhất Quảng Ninh, rộng khoảng 15.000 m², với khoảng 1.200 hộ kinh doanh, vừa là chợ của người dân quanh vùng, vừa là nơi du khách ghé mua quà trước khi rời Hạ Long.

Chợ gồm một tòa nhà ba tầng và khu ngoài trời. Tầng trệt là thế giới của quà mang về: lược, đũa, vòng tay, hộp đựng đồ khảm trai, chuông gió kết từ vỏ ốc, vỏ sò, và đồ mỹ nghệ làm từ than đá mang hình ảnh Hạ Long, một thứ quà làm từ chính chất liệu của vùng mỏ Quảng Ninh. Đi thang máy lên các tầng trên là quần áo, vải vóc, giầy dép; hai nhà chợ số 2 và số 4 dành cho gia vị, hải sản khô và đồ thờ cúng.

Phần nhiều người tìm đến là khu hải sản phía sau tòa nhà. Hầu hết hàng còn sống, nằm trong những chậu sục oxy: cua biển, cù kỳ (loại cua biển càng to, nhiều thịt), ghẹ, tu hài, cá thu, mực, sá sùng. Tiểu thương cho biết hàng lấy từ tàu đánh bắt hoặc cơ sở nuôi trồng ở Quảng Ninh, và sẵn sàng sơ chế ngay sau khi bạn mua, nên nhiều khách mua về chỗ nghỉ hay ra bãi biển tự nấu. Đông nhất là các ki ốt chả mực: mực mai được giã tay đến khi nhuyễn và dẻo quánh thay vì xay máy, đó là cái làm nên vị chả mực Hạ Long, rồi rán tại chỗ. Ngoài cổng là dãy hàng cá cơm chiên, mực xé tẩm cay, ruốc tôm; khu ẩm thực trong chợ có món sam, đặc sản của vùng biển này.

Cần biết trước: đây là chợ dân sinh thực thụ, đông nhất từ 7 đến 10 giờ sáng và 3 đến 5 giờ chiều, nhất là cuối tuần và những ngày giáp Tết; người mua rau, mua cá cho bữa cơm nhà đi xen với khách du lịch. Giá hải sản tính theo cân và chênh nhau nhiều theo cỡ, như tu hài có lúc từ 350.000 đến 600.000 đồng một ký, nên hỏi giá và xem cân trước khi chốt. Giờ mở cửa hiện chưa có công bố chính thức mới.

Trả giá trước khi mua là chuyện bình thường ở đây, với hải sản cũng như quần áo, giầy dép. Nhiều quầy có mã QR để chuyển khoản, và chợ đang thí điểm mã QR cho từng gian hàng, có nội dung nhiều thứ tiếng cho khách quốc tế. Nếu mua hải sản mang đi xa, hãy nhờ người bán sơ chế và hỏi cách giữ lạnh trên đường.

Chợ Hạ Long hợp với người muốn tự chọn hải sản tươi, mua chả mực, hải sản khô hay đồ lưu niệm làm quà trong khoảng một tiếng rưỡi đến hai tiếng. Nếu bạn tìm một trung tâm mua sắm hiện đại, yên tĩnh, đây không phải chỗ đó. Muốn mua hải sản khô ở chợ nhỏ hơn thì có chợ Hạ Long II cách khoảng một cây số; còn nếu còn thời gian, núi Bài Thơ và chùa Long Tiên ở ngay trong phường Hồng Gai.

What to experience

  • Chọn hải sản còn sống, nhờ tiểu thương sơ chế mang về
  • Mua chả mực giã tay, rán tại chỗ
  • Mua đồ lưu niệm khảm trai, vỏ ốc, mỹ nghệ than đá
  • Mua hải sản khô, gia vị, đặc sản OCOP Quảng Ninh
  • Ăn món sam và quà vặt ở khu ẩm thực của chợ

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ Hạ Long 1
  • Quảng Ninh
  • phường Hồng Gai
  • chợ đầu mối
  • hải sản tươi sống
  • chả mực
  • đồ lưu niệm than đá

Nature & seasons

Ruộng bậc thang Cao Thắng

Ruộng bậc thang trên sườn tây núi Cao Xiêm, phần tiêu biểu của danh thắng cấp tỉnh Ruộng bậc thang Lục Hồn

Lục Hồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ trung tâm Bình Liêu đi chừng 5 km về phía Đông Bắc theo con đường men sườn núi, bạn tới thôn Cao Thắng của xã Lục Hồn, một bản sát biên nằm trên sườn tây núi Cao Xiêm. Cùng hai bản Khe O và Ngàn Pạt, Cao Thắng có những thửa ruộng bậc thang nối nhau ở độ cao khoảng 300 đến 600 m, uốn theo triền đồi. Mỗi thửa chỉ rộng vài mét nhưng xếp thành hàng chục bậc, bờ ruộng cao, chạy theo thế đất và các khe suối dẫn nước.

Tháng 11/2020, UBND tỉnh Quảng Ninh công nhận Ruộng bậc thang Lục Hồn là di tích danh thắng cấp tỉnh, và các bản Cao Thắng, Khe O, Ngàn Pạt là phần cốt lõi của danh thắng này. Theo lời kể ở địa phương, người Dao, Sán Chỉ, cùng người Tày, đã chọn những sườn đồi gần nguồn nước, dẫn nước từ khe suối lên rồi đắp bờ giữ nước, giữ màu, qua nhiều thế hệ mới thành những bậc ruộng như hôm nay. Ruộng là tài sản truyền đời, chia cho con cháu khi ra ở riêng, nên ở đây rất hiếm khi có chuyện mua bán ruộng bậc thang.

Ruộng đổi màu theo mùa: mùa hè lúa xanh mướt, còn từ giữa tháng 10 lúa bắt đầu chín; theo huyện Bình Liêu cũ, ruộng đẹp nhất vào cuối tháng 10, đầu tháng 11. Đây cũng là dịp xã Lục Hồn tổ chức Hội Mùa vàng, với các hoạt động như gặt lúa cùng người dân, chụp ảnh trên ruộng, thi mâm ẩm thực và leo núi Cao Xiêm. Cao Thắng là một trong những điểm xuất phát lên đỉnh Cao Xiêm cao 1.429 m; từ đỉnh nhìn xuống, các thửa ruộng xếp tầng giữa núi rừng.

Đến được các bản này, bạn rời Quốc lộ 18C đi thêm hơn 3 km đường núi. Lối xuống các điểm ngắm ruộng có chỗ trơn trượt; mùa hội có những ngày cao điểm, khi đó thôn bố trí khu đỗ xe, thùng rác và người hướng dẫn. Giờ tham quan, phí vào khu ruộng hay đầu mối liên hệ chưa được công bố trên kênh chính thức, nên hỏi trước ở xã Lục Hồn.

Những thửa ruộng này là đồng lúa đang canh tác của các hộ trong thôn chứ không phải công viên. Mùa lúa chín, người Cao Thắng tự dọn đường làng, giữ không lấn lối đi chung và bảo vệ những thửa ruộng đang vào vụ đẹp nhất năm; đi đúng lối, không giẫm lên lúa và mang rác ra khỏi bản là cách đáp lại sự đón tiếp ấy. Mỗi mùa vụ ở đây còn gắn với lễ cầu mùa, lễ cầu mưa và lễ mừng cơm mới vào tháng 10 âm lịch, khi mâm xôi lá gừng, gà luộc, rượu nếp được dâng lên tổ tiên để tạ ơn mùa lúa.

Cao Thắng hợp với người thích chụp ảnh ruộng bậc thang, đi bộ nhẹ trên đường bản và muốn ghép với một chuyến leo Cao Xiêm trong mùa vàng. Nếu bạn cần dịch vụ du lịch đầy đủ, nơi này chưa phù hợp; ngoài mùa lúa, cảnh cũng khác nhiều, khi đó thác Khe Vằn hay chợ phiên Bình Liêu là lựa chọn khác trong cùng chuyến. Muốn ngắm thêm ruộng bậc thang mùa vàng, Sông Moóc và Cao Sơn ở xã Hoành Mô cũng là những điểm quen thuộc.

What to experience

  • Ngắm, chụp ảnh ruộng bậc thang mùa lúa chín
  • Gặt lúa cùng người dân dịp Hội Mùa vàng
  • Xuất phát leo núi Cao Xiêm từ thôn Cao Thắng

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • ruộng bậc thang
  • mùa lúa chín
  • xã Lục Hồn
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • danh thắng cấp tỉnh
  • núi Cao Xiêm

Local markets

Chợ Cái Rồng

Chợ trung tâm Cái Rồng từ năm 1995, cách phiên chợ cá rạng sáng ở bến cảng khoảng 1 km

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở trung tâm Cái Rồng, thị trấn cũ từng là đô thị hạt nhân của huyện đảo Vân Đồn, chợ Cái Rồng là nơi người dân đặc khu Vân Đồn đi chợ hằng ngày. Chợ được xây từ năm 1993, đưa vào sử dụng năm 1995, và lâu nay giữ vai trò chợ trung tâm của cả vùng: cung cấp hàng hóa cho khu thị trấn, đồng thời là đầu mối lương thực, thực phẩm cho sinh hoạt và hoạt động du lịch của đảo Cô Tô ngoài khơi.

Điều nên biết trước là "chợ Cái Rồng" mà nhiều người nhắc tới thực ra gồm hai nơi. Nhà chợ trên phố là chợ dân sinh bán đủ hàng thiết yếu. Còn phiên chợ hải sản thì họp ở bến cảng Cái Rồng, cách nhà chợ khoảng 1 km, từ khoảng 2 đến 6 giờ sáng mỗi ngày, đúng lúc ngư dân trên vịnh Bái Tử Long kết thúc chuyến ra khơi đêm và đưa hàng vào bến. Hàu là sản vật đặc trưng ở đây: từ các vùng nuôi trên vịnh, tàu chở vào rồi băng tải đưa thẳng lên bến. Người buôn ở chợ cá phần lớn là phụ nữ, và sau khi thương lái thu gom xong, nhiều tiểu thương bán lẻ ngay tại chỗ tôm, cua, ghẹ, mực, ruốc cùng cá thu, cá song, cá vược, cá bơn.

Muốn thấy chợ cá đông nhất, bạn nên có mặt trước khi trời sáng. Thuyền lớn nhỏ cập bờ, hải sản được phân loại, ướp đá rồi lên xe tải đi các tỉnh phía Bắc như Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hà Nội. Trước đây chợ họp ngay trên cầu tàu bê tông dài 108 m; từ khi sân bến được mở rộng, người mua bán đã có chỗ rộng hơn. Quanh khu bến có các quầy nhỏ bán lẻ cho khách du lịch và người dân, có nơi ướp đá, đóng thùng và nhận vận chuyển cho khách đi xa. Khi chợ cá tan, bạn có thể vòng về nhà chợ trên phố để mua thêm thực phẩm, đồ dùng.

Cần biết trước: nhà chợ Cái Rồng là chợ dân sinh đã dùng từ năm 1995, quy mô và tiện nghi khiêm tốn, không phải điểm mua sắm dựng cho khách du lịch. Đặc khu Vân Đồn đã phê duyệt chủ trương xây mới chợ trên khoảng 2,07 ha theo tiêu chuẩn chợ loại I, với hơn 650 điểm kinh doanh, dự kiến thực hiện từ năm 2025 đến năm 2028, nên mặt bằng chợ có thể thay đổi trong thời gian tới. Giờ mở cửa của nhà chợ và lịch phiên chợ cá chưa có công bố chính thức mới, nên hỏi lại người địa phương trước khi đi.

Ở chợ cá, giao dịch diễn ra rất nhanh để thương lái kịp chuyển hàng đi các tỉnh, nên khi đứng xem hay chụp ảnh, bạn hãy đứng lùi khỏi lối khiêng hàng và khu băng tải đưa hàu lên bến.

Chợ Cái Rồng hợp với người dậy sớm muốn thấy nhịp nghề cá của Vân Đồn, hoặc cần mua hải sản tươi mang về. Nếu bạn chỉ rảnh buổi chiều, hay tìm một khu mua sắm, ẩm thực tiện nghi, nơi này sẽ không hợp vì chợ cá tan khi trời sáng. Từ Cái Rồng có thể ghé đền Cặp Tiên ở cửa ngõ Vân Đồn; còn muốn ra các đảo Quan Lạn, Cô Tô thì tàu hiện xuất phát từ cảng Ao Tiên.

What to experience

  • Mua hải sản tươi ở phiên chợ cá bến cảng Cái Rồng
  • Xem tàu cá cập bến lúc rạng sáng
  • Mua hải sản ướp đá, đóng thùng mang đi xa
  • Mua thực phẩm, hàng thiết yếu ở nhà chợ trung tâm

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ Cái Rồng
  • đặc khu Vân Đồn
  • Vân Đồn
  • Quảng Ninh
  • chợ hải sản
  • chợ cá sớm
  • hàu
  • vịnh Bái Tử Long

Heritage spaces

Đền Cặp Tiên

Đền thờ cô bé Cửa Suốt dưới chân núi Tiên, có giếng nước ngọt ngay bên bờ vịnh Bái Tử Long

Vân Đồn, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Qua khỏi Cửa Ông chừng 2 km, ngay đầu cầu Vân Đồn, đền Cặp Tiên nằm dưới chân núi Tiên, lưng tựa núi, mặt nhìn ra vịnh Bái Tử Long. Ba gian đại bái xếp bậc thang theo vách núi, khuất dưới những tán cây cổ thụ. Đền còn được gọi là đền Cô bé Cửa Suốt, nhiều người vẫn quen gọi đền Quan Chánh, và đền là một điểm di tích thuộc Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Đền Cửa Ông.

Cái tên Cặp Tiên đến từ một truyền thuyết: xưa kia có hai ông tiên hay xuống núi chơi cờ, theo hầu là hai nàng tiên xuống chân núi lấy nước pha trà. Nơi các nàng múc nước là giếng Tiên, một giếng nước ngọt rất nhỏ nằm sát mép biển. Khi triều lên, giếng ngập nước mặn, nhưng triều rút thì nước lại ngọt, quanh năm không cạn, nên ngư dân và người đi biển trong vùng rất quý giếng này. Núi Tiên, vụng Tiên, thôn Cặp Tiên đều mang tên theo câu chuyện ấy.

Điều nên biết trước khi đến là đền thờ ai. Theo lời kể địa phương, đền dựng từ thời Trần để thờ một tiểu thư con gái Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, người theo cha trấn giữ vùng biển Cửa Suốt và mất sớm, được dân thương tiếc lập đền. Cửa Suốt là tên xưa của cửa biển này, nên bà được gọi là cô bé Cửa Suốt; đền Cửa Ông bên kia thờ chính cha bà. Thời Nguyễn, một viên chánh cai bạ coi việc sông nước, từng góp công góp của trùng tu đền, được dân phối thờ. Đền còn thờ các nhân thần và thờ Mẫu.

Vào đền, bạn dâng hương ở bái đường, xem phương đình hai tầng tám mái lợp ngói mũi hài giữa sân lát gạch đỏ, rồi ghé động Sơn Trang và xuống giếng Tiên trong khuôn viên. Khách thường vốc nước giếng rửa mặt, có người xin một ít mang về để cầu may. Đi đường bộ theo Quốc lộ 18A, đến Cửa Ông rẽ về phía Vân Đồn là tới.

Đền không lớn, nhưng từ tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch khách hành hương đến rất đông, nhất là quanh hội đền mùng 6 tháng Giêng âm lịch. Chưa có nguồn chính thức công bố giờ mở cửa hay giá vé, nên nếu đi dịp đầu xuân, hãy tính thêm thời gian gửi xe và di chuyển trong khuôn viên đông người.

Đây là nơi thờ tự của người dân Vân Đồn, những ngày đầu năm họ đến cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, quốc thái dân an. Vào dịp lễ, Ban quản lý có cán bộ thường trực hướng dẫn khách hành lễ và ghi nhận công đức, bạn chỉ cần đi theo hướng dẫn tại chỗ.

Đền Cặp Tiên hợp với người muốn đi trọn cả hai điểm của di tích Cửa Ông và Cặp Tiên trong một buổi, hoặc người tò mò về những câu chuyện thờ tự vùng biển Đông Bắc gắn với nhà Trần. Nếu bạn chỉ có thời gian cho một nơi và muốn một quần thể đền lớn với nhiều tầng kiến trúc, đền Cửa Ông sẽ đầy đủ hơn; còn muốn tiếp tục tuyến tâm linh Vân Đồn, có thể đi tiếp đền Vua Lý Anh Tông và chùa Cái Bầu.

What to experience

  • Dâng hương, hành lễ tại đền chính
  • Tham quan giếng Tiên trong khuôn viên đền
  • Vãng cảnh động Sơn Trang
  • Xem phương đình hai tầng tám mái giữa sân đền
  • Dự hội đền mùng 6 tháng Giêng âm lịch
  • Kết hợp viếng đền Cửa Ông cách khoảng 2 km

Keywords

  • không gian di sản
  • Quảng Ninh
  • đặc khu Vân Đồn
  • di tích Cửa Ông – Cặp Tiên
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • giếng Tiên
  • tín ngưỡng dân gian
  • nhà Trần

Local markets

Chợ phiên Đồng Văn

Chợ phiên thứ bảy dưới chân núi Cao Ba Lanh, nơi khách tự đi chợ mua thịt, rau rồi mang tới quán nhờ xào phở

Hoành Mô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ thị trấn Bình Liêu cũ ngược lên phía biên giới với Trung Quốc, dưới chân núi Cao Ba Lanh, chợ Đồng Văn là chợ trung tâm của xã Đồng Văn cũ, nay thuộc xã Hoành Mô, tỉnh Quảng Ninh. Chợ không lớn, rộng hơn 4.500 m², với những gian hàng thấp và một dãy quán mái lá ám khói ở cuối chợ. Từ lâu đây là nơi người Dao Thanh Phán, Sán Chỉ, Tày ở các bản quanh vùng gùi nông sản, lâm sản xuống bán và gặp gỡ nhau. Từ năm 2015, chợ là một trong 7 điểm, 3 tuyến du lịch của huyện Bình Liêu được công nhận và đưa vào khai thác.

Nhịp của chợ lệch một ngày so với chợ trung tâm Bình Liêu: chợ huyện đông nhất vào chủ nhật, còn chợ Đồng Văn đông và vui nhất vào thứ bảy hằng tuần, nhất là những thứ bảy giáp Tết. Món làm nên tên tuổi của chợ là phở xào, với một cách ăn rất riêng. Quán chỉ có bánh phở do chủ quán tự tráng từ gạo Bao thai trồng ở Bình Liêu, còn thịt lợn, giá đỗ, rau, hành thì bạn tự ra chợ chọn mua, mang về để chủ quán xào to lửa trong chảo lớn với hành tỏi phi và xì dầu. Thịt ở chợ phần nhiều do bà con trong bản tự nuôi.

Một vòng chợ thường bắt đầu ở các tấm bạt bày hàng trước cổng: miến dong làm thủ công, thổ cẩm, bánh truyền thống, nông lâm sản bà con tự trồng cấy hay khai thác từ rừng. Khu quần áo, thổ cẩm là nơi phụ nữ Dao chọn vải và nguyên liệu để may, dệt thổ cẩm. Ngày giáp Tết có thêm đào, quất, lạt tre, lá dong rừng, mứt Tết. Cuối cùng là ra dãy quán phía sau chợ, chọn nguyên liệu và ngồi chờ đĩa phở xào nóng. Người bán chỉ bày hàng và nói giá, mua bán diễn ra đơn giản.

Cần biết trước khi đi: đây là chợ của người dân vùng cao, không phải điểm du lịch có dịch vụ. Giờ họp, phí vào chợ và phí gửi xe chưa được công bố chính thức, quy mô cũng nhỏ hơn chợ trung tâm Bình Liêu. Hoành Mô là xã biên giới, nên bạn mang theo căn cước hoặc giấy tờ tùy thân; khách nước ngoài nên hỏi trước đơn vị lữ hành về quy định vào khu vực biên giới.

Với bà con, phiên chợ là dịp mua bán cho gia đình và gặp người quen. Vào ngày 4/4 âm lịch, ngày mà người Dao ở đây coi là ngày kiêng trong năm, cả bản gác việc đồng áng để đi chơi chợ, hát Pả dung, kéo co, đẩy gậy. Nếu muốn chụp ảnh ai đó, nhất là trẻ em, bạn hãy hỏi trước. Chi tiết về ngày hội Kiêng gió có ở mục lễ hội riêng.

Chợ phiên Đồng Văn hợp với người thích ăn uống dân dã và muốn thấy một phiên chợ vùng cao thật sự, đủ nhỏ để đi bộ hết trong một buổi sáng. Nếu bạn cần chợ lớn, nhiều hàng hóa và dịch vụ, hoặc chỉ ở Bình Liêu ngày chủ nhật, chợ trung tâm Bình Liêu sẽ thuận hơn. Chợ cũng là điểm dừng chân hợp lý trên đường từ Bình Liêu đi Hải Hà, Móng Cái hoặc lên các mốc biên giới.

What to experience

  • Ăn phở xào, tự chọn mua thịt, rau mang tới quán
  • Mua miến dong thủ công, bánh truyền thống
  • Xem khu quần áo, thổ cẩm của bà con Dao
  • Mua nông lâm sản do bà con trồng, khai thác
  • Dự phiên chợ ngày 4/4 âm lịch của người Dao

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ phiên vùng cao
  • chợ Đồng Văn Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • xã Hoành Mô
  • phở xào
  • người Dao Thanh Phán
  • phiên thứ bảy

Local markets

Chợ Bình Liêu

Chợ phiên chủ nhật ở trung tâm vùng biên Bình Liêu, nơi người Tày, Dao, Sán Chỉ mang sản vật núi rừng xuống bán

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Giữa trung tâm xã Bình Liêu, nơi trước đây là thị trấn huyện lỵ của vùng biên giới phía Đông Bắc Quảng Ninh, chợ Bình Liêu chỉ thật sự thức dậy vào sáng chủ nhật. Qua cổng chợ là một khoảng sân rộng hơn 6.700 m², phiên chợ họp ngay ngoài trời, hàng hóa bày dưới nền sân: gà vịt, rau củ, gạo nương, những bó lá tắm của người Dao, chai mật ong rừng và mật ong hoa hồi.

Đây là chợ của nhiều cộng đồng cùng sống trên vùng đất này, người Tày, Dao, Sán Chỉ, Kinh, Hoa, có cả cư dân từ bên kia biên giới sang buôn bán. Chợ từng họp sáu phiên mỗi tháng âm lịch vào các ngày lẻ, rồi từ những năm 1970 chuyển hẳn sang chủ nhật để bà con trên các bản xa tiện đi lại. Người ta xuống chợ không chỉ để mua bán mà còn để gặp nhau, nghe những câu hát Then của người Tày, hát Soóng cọ của người Sán Chỉ, hát Pả dung của người Dao. Một ghi chép trên cổng thông tin của tỉnh còn kể về một lệ nhỏ của người bán ở đây: giữ nguyên giá từ đầu đến lúc tan chợ, không bán được thì mang về, đợi phiên sau.

Dạo chợ, bạn sẽ gặp các sản vật quen thuộc của núi rừng Bình Liêu như miến dong, hồi, quế, thảo quả, rượu men lá, rau rừng, cùng các loại bánh truyền thống như bánh cóoc mò, bánh ngải, bánh gật gù. Bên trong là các sạp quần áo dân tộc đủ sắc màu; ở góc cuối chợ là khu nông cụ, đồ đựng thóc lúa. Chợ không có quán thắng cố như ở Hà Giang, Lào Cai, mà có bánh đúc, phở canh và khau nhục, những món bà con quen ăn mỗi phiên. Phiên cuối năm có thêm lá dong rừng, hoa chuối rừng, lạt tre để gói bánh Tết.

Cần biết trước khi đi: ngoài sáng chủ nhật, chợ không có phiên, nên muốn thấy chợ đúng nghĩa thì phải xếp lịch vào cuối tuần. Chợ đông nhất từ khoảng 10 giờ sáng trở đi, xe để kín bãi và hàng bày khắp lối, đi lại khá chen chúc. Chợ họp ngoài trời nên phụ thuộc thời tiết. Bình Liêu cũng là một chặng đường dài, huyện cũ cách Hạ Long khoảng 130 km, nên phần lớn khách ở lại qua đêm để kịp phiên sáng.

Chợ trước hết là nơi sinh hoạt của bà con, không phải sân khấu. Chính Báo Quảng Ninh khi bàn về du lịch ở đây cũng nhấn mạnh người dân là chủ thể và khuyên khách trải nghiệm thay vì chỉ chụp ảnh, nên hãy hỏi trước khi chụp người bán, nhất là trẻ nhỏ, và mua bán theo nhịp của chợ.

Chợ Bình Liêu hợp với người muốn thấy một chợ phiên vùng cao còn giữ nhịp sinh hoạt thường ngày, mua miến dong, mật ong, hồi, quế ngay từ tay người làm ra. Nếu bạn chỉ đến được vào thứ bảy, hoặc muốn một phiên chợ nhỏ hơn dưới chân núi Cao Ba Lanh, chợ phiên Đồng Văn ở xã Hoành Mô sẽ hợp hơn. Từ đây, bạn có thể đi tiếp lên Hoành Mô hoặc sang Lục Hồn cho trọn chuyến Bình Liêu.

What to experience

  • Dạo chợ phiên sáng chủ nhật
  • Mua miến dong, mật ong rừng, hồi, quế
  • Mua lá tắm, gạo nương, rau rừng
  • Ăn bánh đúc, phở canh, khau nhục ở chợ
  • Xem quần áo dân tộc, nông cụ, hương làm tay

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ phiên
  • chợ Bình Liêu
  • xã Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • chợ vùng cao
  • Tày Dao Sán Chỉ
  • miến dong
  • mật ong rừng

Heritage spaces

Khu di tích – danh thắng Yên Tử

Núi thiêng nơi Phật hoàng Trần Nhân Tông tu hành, lập Thiền phái Trúc Lâm; hệ thống chùa, am, tháp lên tới chùa Đồng trên đỉnh 1.068 m.

Yên Tử, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Yên Tử là dãy núi thuộc cánh cung Đông Triều, phần lớn nằm ở phường Yên Tử (Uông Bí cũ) của thành phố Quảng Ninh, cách Hà Nội khoảng 140 km. Đỉnh cao 1.068 m có chùa Đồng. Với người Việt theo Phật giáo, đây là nơi vua Trần Nhân Tông (1258-1308) tu hành sau khi rời ngai vàng và là cái nôi của Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền do người Việt sáng lập.

Ngày 12/7/2025, UNESCO ghi danh "Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc" là di sản văn hóa thế giới, theo tiêu chí (iii) và (vi). Theo UNESCO, di sản gồm 12 thành phần ở Quảng Ninh, Bắc Ninh và Hải Phòng, phản ánh các giai đoạn hình thành và lan tỏa của Phật giáo Trúc Lâm. Riêng khu Yên Tử đã là di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2012.

Theo Cục Di sản văn hóa, khu di tích có khoảng 2.686 ha, trong đó 1.736 ha rừng tự nhiên, hơn 200 cây tùng đại thụ được trồng khoảng 700 năm trước. Từ chân núi, bạn lần lượt qua chùa Giải Oan, chùa Lân (Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử), vườn tháp Huệ Quang với tháp Tổ cao 10 m đặt tượng Trần Nhân Tông, rồi chùa Hoa Yên, chùa Một Mái nửa nằm trong hang đá, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu, tượng Phật hoàng bằng đồng, và cuối cùng là chùa Đồng rộng khoảng 20 m². Chùa Đồng hiện nay hoàn thành năm 2007; nhiều công trình khác cũng là dựng lại trên nền cũ.

Có hai cách lên: đi bộ theo đường tùng và bậc đá, hoặc đi cáp treo. Cáp treo do doanh nghiệp vận hành, thu tiền riêng; hỏi giá tại ga. Phí tham quan khu di tích hiện là 0 đồng từ 5/2/2026 đến hết 31/12/2028 theo nghị quyết của HĐND tỉnh. Trước đó phí là 40.000 đồng người lớn.

Mùa đông khách là Hội Yên Tử, khai hội ngày 10 tháng Giêng âm lịch và kéo dài suốt ba tháng xuân. Dịp Tết 2026, VnExpress ghi nhận bãi xe Hạ Kiệu quá tải từ 8h sáng và đoạn đường hẹp lên chùa Đồng ùn ứ khoảng hai giờ, trong khi cáp treo vẫn chạy đều. Nếu muốn đi bộ thong thả, hãy tránh những ngày Tết và các cuối tuần tháng Giêng.

Đường núi dốc, đá có thể trơn khi mưa và sương. Mang giày đế bám, áo ấm, nước; tính thời gian xuống núi trước khi trời tối. Người có bệnh tim mạch hoặc đi lại khó nên dùng cáp treo thay vì leo bộ.

Yên Tử là không gian tôn giáo đang hành lễ. Ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong các chùa, không leo trèo lên tháp mộ ở vườn tháp Huệ Quang. Ngày 1 tháng 11 âm lịch là ngày giỗ Phật hoàng Trần Nhân Tông, có nghi lễ tưởng niệm.

Yên Tử hợp với người muốn hiểu Phật giáo Trúc Lâm, người hành hương và người thích leo núi giữa rừng tùng. Nếu muốn xem một thành phần khác của cùng di sản thế giới, khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc ở Hải Phòng là lựa chọn thay thế.

What to experience

  • Hành hương, lễ Phật tại các chùa
  • Leo núi hoặc đi cáp treo lên chùa Đồng
  • Viếng vườn tháp Huệ Quang
  • Dự Hội Yên Tử mùa xuân

Keywords

  • di sản thế giới
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • Thiền phái Trúc Lâm
  • Trần Nhân Tông
  • chùa Đồng
  • Yên Tử

Customs & etiquette

Nghi lễ Then của người Tày

Lẩu then của người Tày Quảng Ninh: bà Then gảy đàn tính dẫn đoàn quân then lên Mường Trời cầu an, giải hạn

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở vùng biên giới Đông Bắc Quảng Ninh, nhất là các xã Bình Liêu, Lục Hồn, Hoành Mô và các bản Tày ở Tiên Yên, Ba Chẽ, tháng Giêng là mùa của Then. Trong nhiều ngôi nhà người Tày, tiếng đàn tính và chùm xóc nhạc cất lên khi bà Then bắt đầu hành trình đưa “đoàn quân then” từ Mường Đất lên Mường Trời, dâng lễ vật và xin cho gia chủ một năm bình an, mùa màng tốt tươi. Then nghi lễ, người Tày ở đây gọi là lẩu then, là nghi lễ tín ngưỡng của cộng đồng, khác với hát Then trên sân khấu.

Ở Quảng Ninh, người hành Then gần như chỉ còn là phụ nữ, được gọi là bà Then hay mè Slin. Người Tày Bình Liêu dùng thêm một chiếc chuông nhỏ và cây đàn tính hai dây, thay vì ba dây như ở nơi khác. Nét riêng nổi bật nhất là tục lên lầu: một chiếc lầu cao chừng 3,5 đến 4 m dựng gần cổng nhà, hai đầu có hai cầu thang, mỗi bên 12 bậc tượng trưng cho 12 nghi lễ chính của lễ lẩu then. Quảng Ninh là một trong 11 tỉnh có di sản Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái, được UNESCO ghi danh năm 2019.

Một buổi lễ thường mở đầu bằng việc bà Then vẩy nước với lá đào, cây thanh thảo để giải uế bàn thờ, rồi vừa tấu lời then vừa phất quạt, xóc nhạc theo nhịp đàn, có khi kèm điệu múa chầu đi vòng quanh. Trong lễ lên lầu, bà Then chính đi theo dải vải trắng từ bàn thờ ra chân lầu, lên xuống hai cầu thang nhiều lần, vòng quanh lầu theo dải vải vàng, rồi cùng các bà Then phụ đàn hát trên lầu và tung gạo, bánh kẹo phát lộc cho người đứng dưới. Gạo lộc được mang về trộn vào thùng gạo nhà mình, với mong muốn cả nhà no đủ, mạnh khỏe.

Then nghi lễ diễn ra tại nhà gia chủ, theo việc của từng gia đình như cầu an, giải hạn, cầu con, mừng đầy tháng hay lễ nâng bậc của chính bà Then, nên không có lịch công khai hay vé tham dự. Những lần Then nghi lễ được tái hiện trước đông người thường gắn với ngày hội văn hóa, như Lễ hội Văn hóa dân tộc Tày lần thứ nhất ở Ba Chẽ năm 2023, khi then cầu mùa, cầu an cùng điệu múa chầu được dựng lại. Nhiều nghi thức cổ nay đã được giản lược.

Nếu có dịp đứng dưới lầu, hãy để ý một tục nhỏ: người ta chỉ hứng lộc trên tay, không cúi nhặt gạo, kẹo rơi xuống đất, vì cho rằng kiến, chuột, chim và gia súc, gia cầm quanh nhà cũng có quyền thụ lộc như người. Then là việc tín ngưỡng của một gia đình đang cầu mong điều lành, chứ không phải buổi biểu diễn.

Then nghi lễ hợp với người muốn hiểu đời sống tâm linh của người Tày và sẵn lòng chờ một dịp phù hợp. Nếu bạn chỉ muốn nghe đàn tính và lời Then, các câu lạc bộ hát Then và đàn tính ở Bình Liêu và phiên chợ Bình Liêu là lựa chọn dễ tiếp cận hơn.

What to experience

  • Tìm hiểu Then nghi lễ của người Tày Quảng Ninh

Keywords

  • phong tục
  • nghi lễ Then
  • người Tày
  • tín ngưỡng
  • đàn tính
  • tục lên lầu
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • di sản UNESCO

Nature & seasons

Đảo Cô Tô

Đảo chính của đặc khu Cô Tô, cách đất liền khoảng 80 km, có các bãi Vàn Chảy, Hồng Vàn, Bắc Vàn, bãi đá Móng Rồng, hải đăng và Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cô Tô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Đảo Cô Tô (còn gọi Cô Tô lớn) là đảo chính của đặc khu Cô Tô, thành phố Quảng Ninh, cách đất liền khoảng 80 km. Vùng Cô Tô có gần 50 đảo nhỏ, nhưng khách chủ yếu đến ba đảo Cô Tô, Cô Tô Con và Thanh Lân. Đường ra đảo là tàu từ cảng Cái Rồng ở đặc khu Vân Đồn: tàu cao tốc hơn một giờ, tàu gỗ gần ba giờ.

Trên đảo lớn có các bãi Vàn Chảy, Tình Yêu (còn gọi bãi Tàu Đắm), Hồng Vàn, Bắc Vàn. Bãi đá Móng Rồng, trước gọi là Cầu Mỵ, rộng hơn 40 ha, trải dài khoảng 2 km với các lớp đá trầm tích xếp tầng. Hải đăng Cô Tô đứng trên đồi cao hơn 100 m; khách được đề nghị đi chân trần khi leo 72 bậc xoắn vì cầu thang là nơi hứng nước mưa của người gác đèn. Dọc bãi Bắc Vàn có khoảng 10 ha rừng chõi, hoa nở vào tháng 4.

Phía tây nam đảo là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, gắn với chuyến thăm đảo ngày 9/5/1961. Tượng Bác bằng đá granit hoàn thành năm 1997, đặt ở chỗ trực thăng chở Bác hạ cánh; khu di tích gồm tượng, đền thờ, Dốc Khoai, nhà trưng bày và cánh đồng muối. Khu này là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 93/QĐ-TTg năm 2022.

Trên đảo, bạn có thể tắm biển, xem bình minh, hoàng hôn ở Hồng Vàn, Vàn Chảy; đi tàu từ cảng Bắc Vàn ra Cô Tô Con mất 30 đến 45 phút; tối dạo phố đi bộ Ký Con. Từ tháng 4/2025 đến hết năm 2026, đặc khu thí điểm các hoạt động dưới nước như chèo kayak, mô tô nước, dù bay, lặn ngắm san hô ở một số bãi, cùng 8 tuyến tàu thăm các đảo nhỏ.

Tháng 4, 5 ít bão và nắng chưa gắt. Tháng 6 đến 10 có thể gặp bão; khi có bão, chính quyền dừng tham quan trên biển, tàu có thể ngừng nhiều ngày. Đầu tháng 7/2026, trước bão Maysak, đặc khu bố trí 18 chuyến tàu đưa 3.147 khách về đất liền, trong khi 2.845 khách khác phải ở lại đảo. Hãy xem dự báo, chừa ngày dự phòng và mang dư tiền. Giờ tàu và giá vé chưa có trang chính thức, bạn nên hỏi trực tiếp tại cảng hoặc nơi lưu trú.

Cô Tô từng có người lừa đặt phòng, bán vé tàu qua mạng xã hội. Chính quyền khuyên đặt qua đơn vị có giấy phép, giữ lại biên lai, tin nhắn. Lượng khách không nhỏ: năm 2025 đặc khu ước đón khoảng 350.000 lượt khách.

Khi vào Khu lưu niệm và đền thờ Bác, hãy ăn mặc kín đáo, giữ trật tự. Đừng nhặt đá, san hô hay sinh vật biển làm kỷ niệm: năm 2025 một du khách đã gửi trả 14 kg đá cuội lấy từ bãi Móng Rồng, và phòng văn hóa đặc khu khuyến cáo tuyệt đối không mang đá đi.

Cô Tô hợp với người chịu được đường biển xa, muốn ở lại vài ngày để đi các đảo nhỏ. Nếu hay say sóng hoặc có ít thời gian, đảo Quan Lạn là lựa chọn gần hơn, tàu đi trong vịnh Bái Tử Long ít sóng lớn hơn.

What to experience

  • Tắm biển Vàn Chảy, Hồng Vàn, Bắc Vàn
  • Đi tàu ra Cô Tô Con, Thanh Lân
  • Leo hải đăng Cô Tô
  • Tham quan Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Chèo kayak, lặn ngắm san hô (thí điểm 2025–2026)

Keywords

  • biển đảo
  • Cô Tô
  • hải đăng
  • bãi Hồng Vàn
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • Quảng Ninh

Museums

Bảo tàng Quảng Ninh

Bảo tàng tổng hợp hạng I trong tòa nhà vỏ kính đen lấy ý tưởng từ khối than, bên bờ vịnh Hạ Long; ba tầng trưng bày về biển đảo, lịch sử và nghề mỏ.

Hạ Long, Quang Ninh · 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Bảo tàng Quảng Ninh là khối nhà vỏ kính đen trên đường Trần Quốc Nghiễn, cạnh Quảng trường 30/10, nhìn ra vịnh Cửa Lục, thuộc phường Hạ Long của thành phố Quảng Ninh. Bảo tàng nằm cùng Thư viện Quảng Ninh trong một tổ hợp, do đơn vị Bảo tàng - Thư viện Quảng Ninh quản lý.

Tòa nhà do kiến trúc sư người Tây Ban Nha Salvador Pérez Arroyo thiết kế, lấy ý tưởng từ khối than, thứ gắn với vùng mỏ Quảng Ninh. Theo VOV, mặt ngoài dùng 14.000 m² kính bán cường lực; cụm công trình khánh thành ngày 13/10/2013, dịp 50 năm thành lập tỉnh. Đơn vị bảo tàng thì có từ lâu hơn: năm 1960 lập Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng khu Hồng Quảng ở Hòn Gai, năm 1963 đổi tên thành Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh. Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp bảo tàng vào hạng I.

Bảo tàng giữ hơn 30.000 hiện vật. Trưng bày chia theo tầng. Tầng 1 có bốn "ống núi" in hình vịnh Hạ Long giới thiệu địa chất, biển, côn trùng, động thực vật, cùng bộ xương cá voi. Tầng 2 dựng không gian con thuyền gỗ, đời sống ngư dân, chiến thắng Bạch Đằng và khu Đệ tứ Chiến khu Đông Triều. Tầng 3 mô phỏng đường lò và lịch sử ngành than, có khu trưng bày về Bác Hồ với vùng mỏ. Ngoài sân có pháo cao xạ, bệ phóng tên lửa, súng thần công và khối than antraxit nguyên khối khoảng 28 tấn khai thác ở độ sâu âm 176 m.

Theo trang của bảo tàng, giờ mở cửa là 8h-12h và 13h-17h; vé 40.000 đồng người lớn, 20.000 đồng sinh viên, 10.000 đồng trẻ em 7-16 tuổi và học sinh phổ thông, theo nghị quyết của HĐND tỉnh. Có thể đăng ký vé trực tuyến. Báo Quảng Ninh năm 2020 ghi bảo tàng nghỉ thứ Hai cuối tháng; hãy gọi hỏi lại trước khi đi.

Bảo tàng đông hơn trước: 9 tháng đầu năm 2026 đón gần 870.000 lượt khách, khoảng 175.000 lượt khách nước ngoài. Tháng 9/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch yêu cầu chấn chỉnh việc người nước ngoài không đủ điều kiện thuyết minh sai lệch cho đoàn khách tại đây. Thuyết minh trong bảo tàng phải theo đề cương trưng bày đã duyệt, nên nếu đi theo đoàn, bạn có thể hỏi thuyết minh viên của bảo tàng.

Khu trưng bày về Bác Hồ và các khu về chiến tranh là không gian tưởng niệm: giữ yên lặng, không đùa nghịch trước hiện vật. Không chạm vào hiện vật khi không có hướng dẫn.

Bảo tàng hợp với người muốn hiểu Quảng Ninh trong một hai giờ trước khi ra vịnh, gia đình có trẻ nhỏ và người quan tâm nghề than. Nếu muốn xem địa chất karst tận nơi thay vì trong phòng trưng bày, hang Sửng Sốt trên hành trình VHL2 của vịnh Hạ Long là lựa chọn thay thế.

What to experience

  • Tham quan ba tầng trưng bày
  • Xem khối than nguyên khối và hiện vật ngoài trời
  • Nghe thuyết minh theo đề cương của bảo tàng
  • Kết hợp thư viện và Quảng trường 30/10

Keywords

  • bảo tàng tổng hợp
  • kiến trúc đương đại
  • ngành than
  • biển đảo
  • lịch sử
  • Quảng Ninh

Nature & seasons

Thác Khe Vằn

Thác ba tầng cao khoảng 100 m ở đầu nguồn suối Lục Ngù, nơi hẹn hò hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ

Bình Liêu, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Từ trung tâm Bình Liêu đi khoảng 12 km về hướng Đông Nam, vào vùng Húc Động cũ, nay thuộc xã Bình Liêu, bạn sẽ tới thôn Khe Vằn, nơi suối Lục Ngù bắt đầu bằng một ngọn thác cao khoảng 100 m đổ qua ba tầng đá. Nước từ thác chảy vào suối Pắc Hoóc rồi ra sông Tiên Yên, nên người địa phương coi Khe Vằn như thượng nguồn của con sông này. Theo lời người già, tên thác vốn là Khe Vân, lâu dần đọc chệch thành Khe Vằn.

Ngày 29/01/2011, UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định 373/QĐ-UBND công nhận thác Khe Vằn là di tích danh thắng cấp tỉnh. Mỗi tầng thác mang một dáng riêng: ở tầng dưới cùng, giữa không gian rộng có một tảng đá nhô lên như con voi đang phủ phục, xung quanh là hàng trăm khối đá to nhỏ; lên tầng thứ hai, dòng nước tách làm hai, một bên lớn, một bên nhỏ, tung bọt trắng trên đá; trên cùng, nước từ vách núi cao đổ xuống thành một hồ rộng trong xanh. Bao quanh là rừng phòng hộ, vách đá phủ rêu và những tảng đá lớn bằng phẳng.

Để tới chân thác, bạn đi ô tô hoặc xe máy tới trụ sở UBND xã Húc Động cũ, thêm khoảng 3 km là điểm dừng chân ở thôn Khe Vằn, rồi đi bộ chừng 15 phút qua những thửa ruộng bậc thang để tới chân thác. Thác đổi sắc theo mùa: mùa mưa, khoảng tháng 5 đến tháng 8, nước dồi dào tuôn qua cả ba tầng; mùa khô dòng chảy hiền hơn; mùa hè, du khách tìm đến để ngâm mình trong làn nước mát.

Đá quanh thác khá trơn, nhảy hoặc tắm ở hồ chân thác rất dễ trượt chân, nên mang giày bám tốt và cân nhắc kỹ trước khi xuống nước. Khu vực thác đang được định hướng thành khu du lịch sinh thái; giờ mở cửa, việc thu vé và đơn vị quản lý chưa được công bố trên kênh chính thức, nên hỏi trước ở địa phương.

Khe Vằn còn là một không gian văn hóa. Xã Húc Động cũ có khoảng 82% dân số là người Sán Chỉ, và thác từng là nơi trai gái Sán Chỉ hẹn hò, hát đối Soóng Cọ trong Hội hát tháng ba, vào trung tuần tháng 3 âm lịch; không ít đôi nên duyên từ những ngày hội ấy. Hát Soóng Cọ của người Sán Chỉ Quảng Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2023, và năm 2026 lễ khai mạc Ngày hội Soóng Cọ của xã Bình Liêu được dựng ngay trên sân khấu thực cảnh bên thác.

Khe Vằn hợp với người thích thác nước và một quãng đi bộ ngắn giữa ruộng bậc thang, có thể ghép trong hành trình lên núi Cao Ly. Nếu bạn cần dịch vụ đầy đủ hay lối đi bằng phẳng hoàn toàn, nơi này chưa phù hợp. Muốn nghe Soóng Cọ, hãy canh dịp tháng Ba âm lịch; chi tiết hội có ở mục riêng.

What to experience

  • Đi bộ khoảng 15 phút qua ruộng bậc thang vào chân thác
  • Ngắm ba tầng thác và tảng đá hình voi phủ phục
  • Nghe hát Soóng Cọ dịp hội tháng Ba âm lịch

Keywords

  • thiên nhiên & mùa
  • thác nước
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • danh thắng cấp tỉnh
  • thác ba tầng
  • người Sán Chỉ
  • hát Soóng Cọ

Nature & seasons

Bãi biển Trà Cổ

Bãi biển dài 17 km từ mũi Sa Vĩ đến mũi Ngọc ở Móng Cái, nơi bắt đầu hình chữ S của Việt Nam, bên đình Trà Cổ là di tích quốc gia đặc biệt.

Móng Cái 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Bãi biển Trà Cổ nằm ở phường Móng Cái 1, thành phố Quảng Ninh, cách trung tâm Móng Cái khoảng 8-13 km tùy điểm, sát biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Bãi dài 17 km, từ mũi Sa Vĩ ở phía bắc đến mũi Ngọc ở phía nam, cát trắng mịn, hàng phi lao chạy dọc bờ, trên cát có rau muống biển. Từ Hà Nội đi cao tốc tới Móng Cái mất khoảng 3,5 giờ.

Mũi Sa Vĩ (còn gọi mũi Gót; "sa" là cát, "vĩ" là đuôi) được cổng thông tin địa phương gọi là điểm bắt đầu hình chữ S của Việt Nam, cực Đông Bắc của Tổ quốc. Ở đây có biểu tượng ngọn dương gắn hai câu thơ của Tố Hữu "Từ Trà Cổ rừng dương / Đến Cà Mau rừng đước". Cụm thông tin cổ động biên giới Sa Vĩ hoàn thành năm 2013, cao 34,45 m, có 8 lá dương cao 27 m và bức tranh gốm 301 m². Từ Sa Vĩ có thể nhìn thấy cột mốc 1378 trên tuyến biên giới. Truyện kể về vịnh Hạ Long còn gọi bán đảo Trà Cổ là Long Vĩ, nơi đuôi đàn rồng quẫy lên.

Cách bờ biển khoảng 150 m, ở khu Nam Thọ, là đình Trà Cổ, di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2023. Theo hồ sơ xếp hạng, nơi này khởi đầu là đền, miếu nhỏ khi làng hình thành ở thế kỷ XV, đến thế kỷ XVII mới mở rộng thành đình gỗ hình chữ Đinh. Làng truyền lại câu "Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn": tương truyền năm 1461, ngư dân Đồ Sơn gặp bão trôi dạt tới đây và ở lại lập làng. Lễ hội đình Trà Cổ, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, diễn ra từ 30/5 đến 3/6 âm lịch, có hội thi "Ông Voi". Gần đó là nhà thờ Trà Cổ xây từ thập niên 1880.

Bãi biển có nội quy do Ban Quản lý Khu du lịch Trà Cổ ban hành: giờ tắm mùa hè 6h-18h30, mùa đông 7h-18h; chỉ tắm trong vùng có phao và cờ giới hạn. Người đã uống rượu bia, người có bệnh tim mạch, huyết áp, hô hấp không được xuống tắm; trẻ dưới 15 tuổi phải có người lớn đi kèm. Tàu thuyền không được vào khu tắm.

Mùa tắm biển chính là mùa hè. Nhà hàng hải sản tập trung dọc đường Tràng Vĩ ven biển; hỏi giá trước khi gọi món.

Khu Sa Vĩ giáp biên giới: đi theo lối và biển báo, không tự ý ra khu vực cột mốc; nếu muốn đến gần, hãy hỏi đồn biên phòng trước. Đình Trà Cổ là nơi thờ tự của làng; trong mùa lễ hội có nghi lễ do làng tổ chức, khách xem ở khu vực dành cho khách, ăn mặc kín đáo khi vào đình.

Trà Cổ hợp với người muốn một bãi biển dài để tắm, đi dạo, kết hợp với Móng Cái và xem lễ hội làng. Nếu bạn muốn biển đảo xa bờ, đảo Cô Tô hoặc đảo Quan Lạn là lựa chọn thay thế, nhưng phải đi tàu.

What to experience

  • Tắm biển, đón bình minh
  • Tham quan mũi Sa Vĩ và Cụm thông tin cổ động biên giới
  • Tham quan đình Trà Cổ
  • Xem lễ hội đình Trà Cổ (30/5 - 3/6 âm lịch)
  • Ăn hải sản dọc đường Tràng Vĩ

Keywords

  • biển
  • Trà Cổ
  • mũi Sa Vĩ
  • đình Trà Cổ
  • biên giới
  • Móng Cái

Local markets

Chợ Tiên Yên

Chợ trung tâm nơi ngã ba Đông Bắc, đông chiều khi thuyền cập bến và sáng chủ nhật khi bà con vùng cao xuống chợ

Tiên Yên, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ngay giữa trung tâm xã Tiên Yên, sát Quốc lộ 18A, chợ Tiên Yên là nơi hàng hóa của cả một vùng tụ về. Tiên Yên là cửa ngõ nơi ngã ba vùng Đông Bắc của Quảng Ninh, từ đây quốc lộ tỏa về phía Bình Liêu và Móng Cái, nên ngôi chợ đưa vào sử dụng từ tháng 9/2006 trên khu đất khoảng 10.000 m², ba mặt giáp đường này từ lâu đã là đầu mối giao thương và tập kết hàng hóa cho các vùng lân cận.

Điều làm chợ Tiên Yên khác các chợ thị trấn khác là nhịp họp chợ đi theo cả biển lẫn núi. Chợ họp cả ngày nhưng đông nhất vào buổi chiều, lúc thuyền bè cập bến và hải sản đánh bắt tự nhiên được đưa thẳng ra chợ, bán hết trong ngày; trong đó có cù kỳ. Sáng chủ nhật, chợ nhộn nhịp từ sớm vì đây là lúc bà con dân tộc ở các xã vùng cao xuống mua sắm, trao đổi hàng hóa. Cuối tuần còn có khá đông khách từ Lạng Sơn xuống mua sắm.

Quanh khu cửa số 2 là các sạp nông lâm sản. Phần hấp dẫn với người đi chơi là các món ăn vặt, món bánh của vùng: bên cạnh bánh đúc, bánh giò, bánh bò quen thuộc là bánh pao chẩu, bánh pa tê xô, bánh cốc mò, bánh tài lồng ệp, bánh tày nhân lá hồng, chè kê, chè sắn dây. Muốn mang quà về, bạn có thể tìm gà Tiên Yên, miến dong, khau nhục, mật ong hay kẹo lạc hồng ngay trong chợ.

Cần biết trước khi đi: đây trước hết là chợ dân sinh của người địa phương. Theo mô tả của báo tỉnh năm 2020, nhà chợ chính hai tầng chủ yếu bán hàng khô, giày dép, bánh kẹo, đồ gia dụng ở tầng một và quần áo ở tầng hai. Tin tháng 10/2026 cho biết chợ đã được cải tạo, nâng cấp trong giai đoạn từ 2025 đến 2026, nên cách bố trí có thể khác các mô tả cũ; giờ mở và đóng cửa cũng chưa được công bố chính thức. Nhiều quầy đã có bảng mã QR để thanh toán chuyển khoản.

Phiên sáng chủ nhật là dịp bà con vùng cao đi chợ, mua bán cho gia đình mình, không phải một buổi trình diễn. Vì vậy, muốn chụp ảnh người bán, bạn nên hỏi trước.

Chợ Tiên Yên hợp với người thích ăn vặt, muốn mua đặc sản Tiên Yên ở một chỗ, hoặc muốn thấy một chợ trung tâm vùng núi giáp biển đang thực sự vận hành. Nếu bạn tìm một phiên chợ vùng cao đúng nghĩa với trang phục và sinh hoạt của người Dao, chợ phiên Hà Lâu họp vào chủ nhật tuần cuối mỗi tháng sẽ hợp hơn; còn nếu ở lại Tiên Yên tối thứ bảy, có thể ghép buổi chợ chiều với phố đi bộ Tiên Yên.

What to experience

  • Mua hải sản tươi cập bến buổi chiều
  • Ăn bánh pao chẩu, bánh cốc mò, chè kê
  • Mua gà Tiên Yên, miến dong, khau nhục, mật ong
  • Mua nông lâm sản khu cửa số 2
  • Thanh toán bằng mã QR tại nhiều quầy

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ Tiên Yên
  • Quảng Ninh
  • xã Tiên Yên
  • đầu mối giao thương Đông Bắc
  • hải sản tươi
  • bánh vùng cao
  • đặc sản Tiên Yên

Local markets

Chợ Móng Cái

Chợ 1 bốn tầng, gần 1.000 gian hàng ở khu thương mại sát cửa khẩu, chỉ họp buổi sáng

Móng Cái 1, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở khu trung tâm Móng Cái, giữa dãy chợ và trung tâm thương mại quanh Cửa khẩu quốc tế Móng Cái, Chợ Trung tâm Móng Cái là khối chợ nổi bật nhất, người địa phương quen gọi gọn là Chợ 1. Tòa chợ có tổng diện tích sàn 20.244 m², bốn tầng gồm tầng 1, 2, 3 và tầng hầm, với gần 1.000 gian hàng, thiên về quần áo và thời trang cho mọi lứa tuổi.

Điều làm Chợ 1 khác một chợ trung tâm thông thường nằm ở chính vị trí biên giới. Đây là chợ vùng biên, nơi hộ kinh doanh người Việt Nam và người Trung Quốc cùng buôn bán, nhiều gian do thương nhân Trung Quốc đứng bán. Hàng hóa chủ yếu là hàng Trung Quốc nhập vào Việt Nam hoặc hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc: quần áo, vải, đồ điện tử, đồ gia dụng, bánh kẹo. Chợ đi vào hoạt động từ tháng 10/2004, và những năm đầu các ki-ốt chủ yếu bán buôn giữa thương nhân với nhau, hàng chuyển sang từ Đông Hưng bên kia biên giới. Khác với nhiều chợ trung tâm, Chợ 1 chỉ họp buổi sáng, từ 7h30 đến 12h30 hằng ngày.

Vì vậy, muốn thấy Chợ 1 đông đúc thì nên đến trong buổi sáng, đi lần lượt các tầng và tầng hầm để xem từng khu hàng. Khi chợ chính đã đóng, khu vực ven chợ trung tâm chuyển thành chợ đêm, mở từ 17h đến 23h, bán đồ lưu niệm, đồ ăn cho khách du lịch, có thêm hoạt động âm nhạc, vui chơi. Từ 19h30, phố đi bộ Trần Phú gần đó sáng đèn với quầy hàng di động và khu ẩm thực món Việt, món Trung, cùng các sản phẩm OCOP mang thương hiệu Móng Cái như giò, ruốc làm từ lợn Móng Cái, khoai lang Bình Ngọc, tôm chân trắng.

Cần biết trước: Chợ 1 là chợ hàng tiêu dùng và thời trang quy mô lớn, mang tính chất buôn bán nhiều hơn là một chợ quê bày nông sản. Sau 12h30 tòa chợ chính không còn họp, nên chuyến đi buổi chiều chỉ còn chợ đêm và phố đi bộ vào tối. Giá vào chợ, cách thanh toán và giờ mở cửa mới nhất chưa có công bố cập nhật, nên kiểm tra lại tại chỗ.

Chợ 1 hợp với người muốn cảm nhận nhịp buôn bán của một thành phố cửa khẩu, hoặc cần mua quần áo, vải, hàng gia dụng trong một buổi sáng. Nếu bạn tìm đặc sản địa phương và không khí ẩm thực, buổi tối ở chợ đêm và phố đi bộ Trần Phú sẽ hợp hơn. Từ trung tâm, có thể ghép thêm đình Trà Cổ và bãi biển Trà Cổ, cách thành phố khoảng 13 km, cho trọn một ngày ở Móng Cái.

What to experience

  • Mua quần áo, vải, đồ gia dụng, bánh kẹo
  • Dạo chợ đêm ven chợ trung tâm (17h–23h)
  • Mua sản phẩm OCOP Móng Cái ở phố đi bộ Trần Phú
  • Ăn tối món Việt, món Trung ở chợ đêm

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ Móng Cái
  • Chợ 1
  • chợ cửa khẩu
  • Móng Cái
  • phường Móng Cái 1
  • Quảng Ninh
  • thời trang
  • chợ đêm

Nature & seasons

Khu du lịch Bãi Cháy – Sun World Hạ Long

Tổ hợp vui chơi khoảng 200 ha ở Bãi Cháy và đồi Ba Đèo, nối bằng cáp treo Nữ Hoàng có cabin 230 khách giữ kỷ lục Guinness; có vòng quay Mặt Trời và công viên nước.

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Sun World Hạ Long là tổ hợp vui chơi do Tập đoàn Sun Group đầu tư ở khu du lịch Bãi Cháy, phường Bãi Cháy, thành phố Quảng Ninh, hoạt động từ năm 2016. Tổ hợp có hai phần: khu ven biển Bãi Cháy với Công viên Rồng và công viên nước, và đỉnh đồi Ba Đèo bên kia vịnh Cửa Lục, nối với nhau bằng cáp treo Nữ Hoàng. Từ Hà Nội đi ô tô mất khoảng 2 đến 2,5 giờ.

Cáp treo Nữ Hoàng chạy song song cầu Bãi Cháy, vượt vịnh Cửa Lục lên đỉnh Ba Đèo. Mỗi cabin chở 230 khách; Guinness World Records xác nhận đây là cabin cáp treo có sức chứa lớn nhất thế giới từ ngày 17/5/2016. Năm 2016 trụ cáp cao 188,88 m cũng từng giữ kỷ lục trụ cáp cao nhất, nhưng kỷ lục này nay thuộc một hệ thống cáp treo ở Hải Phòng.

Trên đỉnh Ba Đèo có vòng quay Mặt Trời (Sun Wheel) cao 215 m so với mực nước biển, vườn Nhật với cầu Koi, bảo tàng tượng sáp và quần thể chùa Bảo Hải Linh Thông Tự. Dưới chân đồi, bên Bãi Cháy, Công viên Rồng có hơn 20 trò chơi; công viên nước Lốc Xoáy có ba phân khu cho gia đình, trẻ em và cảm giác mạnh. Công viên nước mở theo mùa hè, năm 2026 mở lại từ ngày 12/4. Bãi biển phía trước khu vui chơi vào tự do.

Theo trang của đơn vị vận hành, giờ mở cửa chung khoảng 9h đến 20h, riêng cáp treo ngày thường mở từ buổi chiều, và giờ thay đổi theo mùa. Cáp treo Nữ Hoàng tạm dừng từ 5/10 đến hết 9/10/2026 để bảo trì định kỳ. Giá vé không niêm yết trên trang, được bán qua kênh trực tuyến và ứng dụng; hãy kiểm tra trước khi đi. Hotline: 0203 2238 888.

Đây là khu giải trí thương mại: vé cáp treo, Công viên Rồng và công viên nước thường bán riêng hoặc theo gói, ngày lễ rất đông, dịp 2/9/2026 có hàng nghìn khách. Nếu bạn tìm cảnh quan tự nhiên của vịnh, khu này chỉ cho góc nhìn từ trên cao.

Trẻ em nên được người lớn đi kèm ở công viên nước; làm theo hướng dẫn của nhân viên ở từng trò chơi. Khi vào Bảo Hải Linh Thông Tự, hãy ăn mặc kín đáo và giữ trật tự.

Sun World hợp với gia đình có trẻ em và nhóm bạn muốn một ngày vui chơi có lịch cố định. Nếu muốn ra giữa vịnh, tắm biển ở đảo và leo ngắm cảnh, đảo Ti Tốp trên hành trình tàu số 2 của Ban Quản lý vịnh Hạ Long là lựa chọn thay thế.

What to experience

  • Đi cáp treo Nữ Hoàng qua vịnh Cửa Lục
  • Đi vòng quay Mặt Trời
  • Chơi tại Công viên Rồng, công viên nước
  • Tắm biển Bãi Cháy

Keywords

  • khu vui chơi
  • cáp treo
  • kỷ lục Guinness
  • vòng quay
  • công viên nước
  • Bãi Cháy

Heritage spaces

Chùa Ba Vàng

Ngôi chùa tên cổ Bảo Quang Tự ở lưng chừng núi Thành Đẳng, độ cao khoảng 340 m phía tây Uông Bí; di tích cấp tỉnh, xây dựng lại quy mô lớn năm 2011–2014.

Uông Bí, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Chùa Ba Vàng, tên cổ Bảo Quang Tự, nằm lưng chừng núi Thành Đẳng ở độ cao khoảng 340 m, phía tây khu Uông Bí cũ, nay thuộc phường Uông Bí, thành phố Quảng Ninh. Phía trước là sông, phía sau tựa núi, hai bên là rừng thông, theo Báo Quảng Ninh.

Theo văn bia tại chùa, chùa có từ thời Trần và từng được dựng lại dưới triều Lê Dụ Tông; chùa xưa về sau chỉ còn phế tích. Năm 1988 chùa được trùng tu bằng gỗ, năm 1993 xây lại. Công trình bạn thấy hôm nay chủ yếu là mới: tháng 1/2011 chùa khởi công xây dựng lại trên khu đất 21,8 ha bằng tiền công đức và khánh thành ngày 9/3/2014, theo VnExpress. Chùa là di tích cấp tỉnh từ năm 2007.

Khu chùa gồm chính điện hai tầng, lầu chuông, lầu trống, hành lang La Hán, nhà tổ, thư viện, thiền đường và cổng tam quan. Trong chính điện có ban thờ Phật, thờ Mẫu, Đức Ông và nhiều pho tượng gỗ lớn cao trên 2 m. Trong khuôn viên còn một giếng nước cổ.

Chùa rất đông vào tháng Giêng. Dịp khai xuân năm 2026, Tuổi Trẻ ghi nhận hàng vạn người đến; chùa không có hàng quán, phát cơm, nước và giữ xe miễn phí. Mùa hè chùa tổ chức khóa tu cho thanh thiếu niên, mỗi khóa có thể tới hàng nghìn người. Giờ mở cửa và quy định tham quan chưa có công bố chính thức, nên hỏi tại chùa.

Bạn nên biết trước: từ năm 2019 đến 2025, một số hoạt động tại chùa đã bị cơ quan nhà nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam xử lý. Năm 2019 là việc "thỉnh vong", cúng "oan gia trái chủ" có thu tiền. Cuối năm 2023, chùa trưng bày "xá lợi tóc", bị UBND tỉnh kết luận vi phạm quy định về triển lãm. Năm 2025, cơ quan chức năng dỡ bỏ các mô hình ma quỷ trong "động Lục Đạo" của chùa. Nếu được mời tham gia nghi lễ có thu tiền, bạn có quyền từ chối.

Đây là nơi thờ tự đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong chính điện, hỏi trước khi chụp ảnh người đang lễ. Chùa nằm trên sườn núi, lối lên nhiều bậc, nên mang giày dễ đi.

Ba Vàng hợp với người muốn xem một quần thể chùa mới xây quy mô lớn trên sườn núi hoặc đi lễ đầu năm. Nếu bạn tìm dấu tích Phật giáo Trúc Lâm có lịch sử liên tục và được UNESCO ghi danh, khu di tích Yên Tử ở phường Yên Tử là lựa chọn thay thế.

What to experience

  • Lễ Phật, vãn cảnh
  • Tham quan chính điện và khuôn viên
  • Dự lễ khai xuân đầu năm

Keywords

  • chùa
  • Bảo Quang Tự
  • di tích cấp tỉnh
  • núi Thành Đẳng
  • tâm linh
  • Uông Bí

Nature & seasons

Đảo Ti Tốp

Đảo nhỏ giữa vịnh Hạ Long có bãi cát hình trăng lưỡi liềm và khoảng 400 bậc lên đỉnh; tên đảo do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt năm 1962.

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ti Tốp là đảo nhỏ giữa vịnh Hạ Long, cách Bãi Cháy khoảng 7 đến 8 km về hướng đông nam và cách cảng Tuần Châu khoảng 12 km. Đảo tựa lưng vào vịnh Cửa Lục, phía trước là đảo Bồ Hòn có hang Sửng Sốt. Bạn không đi tàu lẻ ra đảo được: Ti Tốp nằm trong hành trình tham quan số 2 (VHL2) do Ban Quản lý vịnh Hạ Long công bố, nên phải đi tàu tham quan theo tuyến hoặc tàu nghỉ đêm.

Tên đảo có từ một chuyến thăm cụ thể. Ngày 22/1/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhà du hành vũ trụ Liên Xô Gherman Titov thăm vịnh Hạ Long, dừng chân tại đảo và Bác đặt tên đảo theo tên ông. Năm 2015, tượng bán thân Titov bằng đá xanh, cao gần 6 m, được khánh thành trên đảo, kèm bia đá khắc ba thứ tiếng Việt, Nga, Anh.

Đảo có một bờ dốc đứng và một bờ thoải, ôm một bãi cát nhỏ hình trăng lưỡi liềm. Tắm biển ở bãi Ti Tốp là một trong bốn sản phẩm do Ban Quản lý vịnh trực tiếp tổ chức. Từ bãi, bạn leo khoảng 400 bậc lên đài vọng cảnh trên đỉnh để nhìn xuống vịnh; quanh đảo có chèo kayak, và thủy phi cơ có hạ cánh tại đây.

Hành trình 2 đi qua cảng tàu, bãi tắm Soi Sim, đảo Ti Tốp, hang Sửng Sốt, vụng Tùng Sâu và một số hang khác. Phí tham quan tuyến này là 250.000 đồng một người một lần, chưa gồm tiền tàu. Đảo đón khách từ 7h30 đến 17h30 trong khoảng 16/4 đến 31/10, và đến 17h từ 1/11 đến 15/4. Mức phí và giờ có thể đổi, nên xem lại trên trang của Ban trước khi đi.

Mặt hạn chế: bãi không rộng, mà hành trình 2 thường quá tải vào dịp cao điểm, các tàu hay ghé đảo vào cuối buổi chiều. Tháng 6/2024, một tàu đông khách đã bỏ quên hai du khách trên đảo khoảng 30 phút. Hãy nhớ giờ hẹn, tên tàu và số điện thoại của tàu trước khi lên bờ. Đường dây nóng của Ban Quản lý vịnh là 0812 488 111.

Bậc lên đỉnh dài, nắng hè gắt, nên mang nước và đi giày bám. Chỉ tắm trong khu vực bãi tắm được tổ chức.

Tượng đài Titov là công trình kỷ niệm tình hữu nghị Việt Nam - Liên Xô; giữ trật tự, không leo lên bệ tượng.

Ti Tốp hợp với người đi tàu trong ngày muốn vừa tắm biển vừa leo ngắm vịnh. Nếu muốn một bãi tắm khác trên cùng hành trình, bãi tắm Soi Sim là lựa chọn thay thế có tên trong tuyến 2.

What to experience

  • Tắm biển bãi Ti Tốp
  • Leo khoảng 400 bậc lên đỉnh ngắm vịnh
  • Xem tượng đài Gherman Titov
  • Chèo kayak

Keywords

  • đảo
  • bãi tắm
  • ngắm toàn cảnh vịnh
  • Gherman Titov
  • vịnh Hạ Long
  • Quảng Ninh

Local markets

Chợ Vườn Đào

Chợ dân sinh của phố Vườn Đào, Bãi Cháy, đầu tư thành trung tâm thương mại hơn 15.000 m² từ năm 2000

Bãi Cháy, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ở phía Bãi Cháy của Hạ Long, chợ Vườn Đào nằm trên phố Vườn Đào, lùi vào phía trong so với phố Anh Đào mở sau này. Báo chí địa phương gọi đầy đủ là Trung tâm Thương mại Vườn Đào - Bãi Cháy; trang điểm đến của Cục Du lịch Quốc gia gọi là Chợ Trung tâm Thương mại Bãi Cháy. Tên quen gọi là chợ Vườn Đào, trùng với tên con phố nơi khu chợ nhỏ ban đầu họp.

Chợ thay đổi theo sự mở rộng của khu Bãi Cháy. Trước kia đây chỉ là một khu chợ dân sinh nhỏ nằm sát phố Vườn Đào. Khi thành phố mở thêm phố Anh Đào, chợ lùi vào phía trong và được đầu tư xây thành một trung tâm thương mại lớn: năm 2000, Công ty CP Tập đoàn đầu tư Quảng Ninh đầu tư khu chợ với diện tích trên 15.000 m². Một trong những mục đích xây dựng trung tâm là phục vụ nhu cầu của người dân và khách du lịch khu vực Bãi Cháy.

Bên trong trung tâm có nhà chợ bán thực phẩm tươi sống, một khu hàng hải sản và khu hàng ăn uống. Nếu đang ở Bãi Cháy và muốn xem nhịp đi chợ thường ngày của người Hạ Long, chợ Vườn Đào là chỗ tiện ghé để đi một vòng qua các sạp thực phẩm và hải sản mà không phải qua cầu sang Hồng Gai. Không khí chợ cũng từng lên sóng: tập 33 chương trình Tôi yêu chợ Việt của Báo Thanh Niên, phát ngày 21/01/2024, được ghi hình cùng bà con chợ Vườn Đào, mở đầu bằng câu hỏi vì sao chợ tên Vườn Đào mà không thấy bóng cây đào nào.

Cần biết trước: chợ Vườn Đào là chợ dân sinh trong khối nhà trung tâm thương mại, không phải khu mua sắm dành riêng cho du khách. Giờ họp chợ, việc có thu phí hay không và bố trí ngành hàng hiện nay chưa có công bố chính thức cập nhật, nên kiểm tra lại tại chỗ.

Chợ hợp với khách đang lưu trú ở Bãi Cháy muốn mua thực phẩm tươi, hải sản hoặc chỉ muốn ngắm một buổi chợ của người địa phương ngay gần chỗ ở. Nếu bạn tìm một chợ đầu mối lớn với nhiều đồ lưu niệm và khu hải sản sát vịnh, chợ Hạ Long I trên đường Vạn Xuân, phường Hồng Gai, bên kia cầu Bãi Cháy sẽ hợp hơn.

What to experience

  • Mua thực phẩm tươi sống ở nhà chợ
  • Mua hải sản ở khu hàng hải sản
  • Ăn uống ở khu hàng ăn trong chợ

Keywords

  • chợ địa phương
  • chợ Vườn Đào
  • Trung tâm Thương mại Vườn Đào
  • Bãi Cháy
  • phường Bãi Cháy
  • Hạ Long
  • Quảng Ninh
  • hải sản
  • thực phẩm tươi sống

Customs & etiquette

Nghi lễ cấp sắc của người Dao

Lễ đặt tên âm để người con trai Dao Thanh Y được ghi tên vào phả tộc, di sản phi vật thể quốc gia từ 2024

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Vào dịp cuối năm hoặc đầu xuân, trong nhiều nếp nhà người Dao Thanh Y ở Quảng Ninh, từ Bằng Cả (xã Quảng La), chân núi Yên Tử đến các bản vùng cao Bình Liêu, Hải Hà, tiếng chuông, trống, chiêng của thầy cúng vang lên trước bàn thờ tổ tiên: gia đình đang làm lễ cấp sắc cho con trai. Lễ cấp sắc, còn gọi là lễ đặt tên âm, là nghi lễ để người con trai Dao Thanh Y được ghi tên vào phả tộc và từ đó mới được coi là người trưởng thành. Ngày 10/12/2024, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận Lễ cấp sắc của người Dao Thanh Y tỉnh Quảng Ninh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận ở mười địa phương cũ từ Hạ Long, Uông Bí, Cẩm Phả, Móng Cái đến Vân Đồn, Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên, Đầm Hà và Hải Hà.

Với người Dao Thanh Y, một người đàn ông chưa qua cấp sắc thì dù tuổi cao vẫn bị coi là trẻ con, chưa có tên trong Dao phả của dòng tộc. Đã cấp sắc, anh mới đủ tư cách thắp hương bàn thờ ngày lễ tết, tham gia việc hệ trọng của làng, đi cúng cầu may, cầu mùa cho hàng xóm. Cái tên âm nhận trong lễ cũng không đặt tùy ý: tên gắn với thứ bậc trong dòng họ và liên quan đến ba đời, nên trước lễ gia đình phải dò kỹ thứ tự trong họ để không trùng tên tổ tiên; sau khi đặt, tên âm chỉ người được cấp sắc và thầy cúng biết, dùng để xưng danh với tổ tiên. Người Dao Thanh Y chỉ làm lễ này một lần trong đời, trong khi người Dao Thanh Phán có thể cấp sắc một, hai, thậm chí ba lần.

Lễ có quy mô gia đình, dòng họ, thường làm trong nhà, trước bàn thờ tổ tiên, cho một hoặc vài người cùng lúc, thường không quá bảy người. Gia đình mời thầy cúng có uy tín trong vùng; người thụ lễ gọi thầy là sư phụ, mỗi thầy chính có hai thầy phụ và các học trò. Thầy cúng dùng tiếng Nôm Dao, xen giữa các bài cúng là những lời răn dạy đạo lý làm người, cách đối nhân xử thế; ở Bằng Cả còn có các bà hát cấp sắc ngồi bên hát đu đưa cầu tổ tiên phù hộ cho gia chủ. Xưa kia lễ có thể kéo dài ba ngày ba đêm; nay theo hương ước về nếp sống văn minh, nhiều nơi giản lược còn khoảng hai ngày một đêm. Người thụ lễ được trao sắc, tờ giấy ghi những điều giáo huấn như sống lương thiện, không vô lễ với ông bà, cha mẹ, rồi cả nhà và bà con cùng thụ lộc bên mâm cỗ.

Cần nói rõ: đây là nghi lễ của từng gia đình, không có lịch công bố, không bán vé và không phải tiết mục biểu diễn. Du khách gặp di sản này gần nhất qua các dịp cộng đồng. Ở Khu bảo tồn văn hóa người Dao Thanh Y Bằng Cả, hội làng có múa nghi lễ cấp sắc và nghi lễ từng được tái hiện trên sân khấu hội làng; Bằng Cả còn có hội ngày cấp sắc vào mùng 1 âm lịch các tháng 2, 4, 7, 10 và 12, ngày dương thay đổi theo năm. Ở xã Quảng Đức, lễ cấp sắc là điểm nhấn của lễ hội Sóng Mun dịp khai xuân. Phần tái hiện trong hội là để giới thiệu; một lễ cấp sắc thật trong gia đình kéo dài qua đêm và chỉ dành cho người được mời.

Nếu được một gia đình mời dự, hãy nhớ lễ diễn ra trước bàn thờ tổ tiên và người thụ lễ đang giữ kiêng khem, nên hỏi gia chủ trước khi chụp ảnh hay chọn chỗ đứng, ngồi. Đừng hỏi tên âm của người được cấp sắc: theo phong tục, tên ấy chỉ người thụ lễ và thầy cúng biết. Gia đình thường mời bà con đến chia vui, nên nhận lời ngồi mâm cỗ thụ lộc sau lễ là cách chung vui đúng mực.

Lễ cấp sắc hợp với người muốn hiểu vì sao với người Dao Thanh Y, trưởng thành là được dòng họ và tổ tiên nhận tên chứ không chỉ là chuyện tuổi tác. Nếu bạn muốn xem một chương trình có ngày giờ cụ thể, hãy chọn hội làng Bằng Cả đầu tháng 2 âm lịch hoặc lễ hội Sóng Mun ở Quảng Đức đầu xuân. Còn nếu chỉ có một ngày ở Hạ Long, lễ cấp sắc khó nằm trong lịch trình; hãy coi đây là hiểu biết để nhìn đúng những gì bạn gặp ở các bản người Dao.

What to experience

  • Tìm hiểu nghi lễ trưởng thành của người Dao Thanh Y
  • Xem múa nghi lễ cấp sắc dịp hội làng Bằng Cả
  • Xem lễ cấp sắc tại lễ hội Sóng Mun (xã Quảng Đức)

Keywords

  • phong tục
  • nghi lễ
  • Quảng Ninh
  • người Dao Thanh Y
  • lễ cấp sắc
  • lễ đặt tên âm
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • Dao Thanh Phán

Festivals

Lễ hội đình Đầm Hà

Ba ngày hội từ 15 đến 17 tháng Giêng thờ Thành hoàng làng Đầm Hà, có hát nhà tơ và Lễ Cáo trạng khuyến học

Đầm Hà, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ngày Rằm tháng Giêng, dân làng Đầm Hà rước thần từ miếu Rừng Nghè về đình Đầm Hà, mở ba ngày hội từ 15 đến 17 tháng Giêng âm lịch; ngày dương thay đổi theo năm, kỳ 2023 bắt đầu ngày 5/2. Đình nằm trên đất thị trấn Đầm Hà cũ, nay thuộc xã Đầm Hà, miền đông Quảng Ninh. Ngày 10/11/2023, lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể quốc gia.

Đây là một lễ hội đình mang đậm bản sắc của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, lại có thêm diễn xướng hát nhà tơ, tức hát, múa cửa đình của cư dân ven biển. Đình thờ Không Lộ chi thần, Giác Hải chi thần, Quý Minh chi thần, Thái Lệ linh ứng chi thần và Đại Càn Quốc gia Nam Hải Tứ vị thượng đẳng thần, phối thờ Lý Thường Kiệt, 12 vị tiên nhân dòng họ Hoàng, dòng họ Phan và 15 vị Hậu thần đã góp điền sản dựng đình. Theo tư liệu được báo chí dẫn, đình dựng khoảng thế kỷ XVII ở khu chợ Đầm Hà cũ, cuối thế kỷ XIX được dựng lại ở vị trí hiện nay. Nét riêng đáng nhớ nhất là Lễ Cáo trạng: theo lệ làng có từ rất sớm, người con Đầm Hà nào được thăng chức hay đỗ đạt, xưa là đỗ Sơ học yếu lược (lớp 4 thời ấy), dù bận đến đâu cũng phải về đình dự lễ. Lệ khuyến học ấy được người Đầm Hà giữ đến hôm nay.

Theo lệ, lễ rước 17 mâm cỗ chay đi trước khi rước Thành hoàng. Trên đường rước có nghi thức chạy cờ quanh đình và miếu, có lần dừng kiệu hát mừng khi đón Thành hoàng về đình. Xưa hội kéo dài 6 ngày 5 đêm, từ 15 đến 20 tháng Giêng; năm nào không làm đủ thì dân làng có hẳn lễ dừng kiệu xin rút ngắn ngày hội ngay giữa đường rước. Nay hội gói lại trong 3 ngày, lễ tế Thành hoàng có múa đi kèm, hát nhà tơ và hát xướng ả đào mừng thần, và ngày 17 dân làng tiễn thần về lại miếu Rừng Nghè. Theo bài viết về kỳ phục dựng đầu tiên, đêm cuối còn có múa bông và tống thần ở sân đình. Phần hội có cờ người, đánh đu, đấu vật, đẩy gậy; kỳ 2023 thêm thi gói bánh chưng, kéo co, đập niêu cùng Tuần Văn hóa - Thể thao các dân tộc của huyện.

Nên biết trước rằng lễ hội từng ngưng từ năm 1957, đình bị dỡ bỏ năm 1963; đến năm 2009 huyện mới phục dựng lễ hội sau 52 năm, dựa trên một đề tài nghiên cứu và trí nhớ của lớp người cao tuổi. Ngôi đình bạn thấy hôm nay được xây lại từ năm 2011 theo kiểu chữ Đinh, bốn mái, 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung, khánh thành dịp lễ hội Xuân Quý Tỵ 2013; đây là một công trình mới theo kiến trúc truyền thống chứ không phải đình cổ. Nguồn chính thức chưa công bố giờ từng nghi lễ, việc có thu phí hay không và số liên hệ của ban tổ chức; phần hội cũng thay đổi theo năm, nên hãy theo dõi thông báo của xã Đầm Hà trước khi đi.

Hát nhà tơ ở đây là diễn xướng dâng thần: theo quy định của đình, các đào hát chỉ biểu diễn trong lễ hội chứ không hát phục vụ ngoài công chúng, nên bạn hãy xem trong không khí của buổi lễ, đừng đề nghị nghệ nhân hát riêng. Khi đoàn rước kiệu và đội chạy cờ đi quanh đình, miếu, bạn nên đứng sang bên nhường lối.

Lễ hội hợp với người mê ca trù và diễn xướng dân gian, muốn xem một hội làng kiểu Bắc Bộ còn giữ lệ khuyến học riêng; nếu chỉ có một ngày, Rằm tháng Giêng là lúc rước thần về đình. Nếu bạn tìm một ngôi đình cổ nguyên gốc để ngắm kiến trúc, nơi này sẽ không đáp ứng. Cũng trong tháng Giêng, Quảng Ninh còn Lễ hội đình Đồng Đình ở xã Tiên Yên và Lễ hội đình Lục Nà ngày 16 và 17 tháng Giêng ở xã Lục Hồn để bạn ghép thành một chuyến hội xuân miền đông.

What to experience

  • Xem rước thần từ miếu Rừng Nghè về đình ngày Rằm tháng Giêng
  • Xem lễ tế Thành hoàng có múa tại đình
  • Nghe hát nhà tơ – hát, múa cửa đình trong lễ hội
  • Xem nghi thức chạy cờ quanh đình, miếu lúc rước kiệu
  • Chơi trò dân gian phần hội: đẩy gậy, kéo co, đập niêu

Keywords

  • lễ hội
  • đình Đầm Hà
  • xã Đầm Hà
  • Quảng Ninh
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • hát nhà tơ
  • thờ Thành hoàng
  • tháng Giêng

Festivals

Ngày hội Kiêng gió

Ngày 4/4 âm lịch, người Dao Thanh Phán ở Đồng Văn cũ rời nhà đón thần Gió, cả bản đi chơi chợ

Hoành Mô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Ngày 4 tháng 4 âm lịch hằng năm (ngày dương thay đổi theo năm; kỳ 2026 rơi vào 20/5), người Dao Thanh Phán ở xã Đồng Văn cũ, nay thuộc xã Hoành Mô, vùng biên giới phía đông bắc Bình Liêu giáp Trung Quốc, gần như không ai ở nhà. Theo tục Kiêng gió, nhà còn người thì thần Gió không vào được, nên cả gia đình rời nhà từ sớm để thần Gió vào mang đi rủi ro, phiền muộn của năm cũ và đem đến điều lành, sự ấm no. Cả bản rủ nhau "mì sèng phẩy hêy dảo", tiếng Dao nghĩa là đi chơi chợ mùng bốn tháng tư.

Người Dao ở đây coi 4/4 âm lịch là ngày đại kỵ của năm: làm việc gì cũng không thuận, nên họ gác việc nương rẫy, thả trâu lên rừng, đi thăm bà con, ăn bữa cơm tụ họp, hát cho nhau nghe và xuống chợ sắm đồ. Các báo ghi tục này bắt nguồn từ việc tránh thú rừng, thiên tai và cầu mùa màng bội thu. Hơn 75% dân số Đồng Văn cũ là người Dao Thanh Phán. Trước kia hội do các bản tự tổ chức với nhau; từ năm 2009 chính quyền đứng ra tổ chức thành ngày hội chung, và ngày 10/12/2024, "Tục Kiêng gió của người Dao xã Đồng Văn" được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, công bố tại hội ngày 1/5/2025.

Ngày hội đông nhất ở chợ phiên Đồng Văn: sắc đỏ váy áo người Dao xen sắc xanh của người Sán Chỉ, sắc chàm của người Tày; người ta mua vải, chỉ thêu, mũ thêu, công cụ sản xuất và may đồ mới cho cả nhà. Phần hội có văn nghệ giữa các thôn bản với hát Pả dung của người Dao, hát Then của người Tày, các trích đoạn lễ cấp sắc và đám cưới Dao được tái hiện trên sân khấu, điệu múa chuông mà theo truyền thuyết từng dùng để xua thú rừng. Ngoài sân là kéo co, đẩy gậy, đánh quay, giã bánh dày, thi thêu họa tiết trang phục Dao Thanh Phán trong 15 phút. Kỳ 2026 có đêm giao lưu văn nghệ tối 19/5, khai mạc sáng 20/5 với đoàn nghệ thuật từ Khu Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc), thi bày mâm cỗ của 22 thôn bản và thi xào phở giữa bốn đội Tày, Sán Chỉ, Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán; khách được thử xào phở ngay tại bếp các đội.

Lịch mỗi kỳ do chính quyền công bố sát ngày (kỳ 2026 được báo tỉnh đưa tin từ 11/5), số ngày hội cũng khác nhau giữa các năm, và nơi khai mạc không cố định: năm 2023 ở Nhà văn hóa xã Đồng Văn, năm 2026 ở Nhà văn hóa Hữu nghị Việt - Trung, xã Hoành Mô. Hãy theo dõi thông báo của xã Hoành Mô trước khi đi. Đây là xã biên giới, nên mang theo giấy tờ tùy thân.

Kiêng gió trước hết là ngày kiêng của người Dao: họ rời nhà và tránh khởi sự công việc, vì vậy hãy gặp gỡ bà con ở chợ và khu hội thay vì đề nghị ghé nhà. Lễ cấp sắc, đám cưới trong chương trình là phần trình diễn tái hiện, không phải nghi lễ thật của một gia đình. Hội cũng là dịp thanh niên Dao gặp gỡ, hát giao duyên; hỏi trước khi chụp cận cảnh ai đó.

Ngày hội hợp với người muốn thấy một tục lệ của người Dao Thanh Phán vẫn sống trong đời thường, thích chợ phiên vùng cao và văn nghệ dân gian, hoặc lên Bình Liêu vào khoảng cuối tháng 4, tháng 5. Nếu bạn tìm nghi lễ tâm linh ở đền chùa, hay không đi được đúng ngày, chuyến đi sẽ không như mong đợi. Ngoài dịp hội, chợ phiên Đồng Văn vẫn họp đông vào thứ bảy hằng tuần và có món phở xào quen thuộc, còn đỉnh Cao Ly có chương trình "Đêm trăng Cao Ly" vào rằm hằng tháng.

What to experience

  • Đi chợ phiên Đồng Văn ngày 4/4 âm lịch
  • Xem văn nghệ thôn bản, hát Pả dung, hát Then
  • Xem thi kéo co, đẩy gậy, đánh quay
  • Xem thi thêu họa tiết trang phục Dao Thanh Phán
  • Xem tái hiện lễ cấp sắc, đám cưới người Dao
  • Thử xào phở tại bếp các đội thi (kỳ 2026)

Keywords

  • lễ hội
  • Quảng Ninh
  • xã Hoành Mô
  • Bình Liêu
  • người Dao Thanh Phán
  • Kiêng gió
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • tháng 4 âm lịch

Souvenirs

Miến dong Bình Liêu

Miến làm hoàn toàn từ củ dong riềng của vùng Bình Liêu, sợi xanh lục nhạt, dai mà nấu lại không nát

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Trong các sản vật mang về từ vùng biên Bình Liêu, miến dong là món quà gọn nhất: những bó sợi khô màu hơi xanh, làm hoàn toàn từ tinh bột củ dong riềng do chính bà con trong vùng trồng trên nương, rẫy và ruộng bậc thang. Người Sán Chỉ gọi miến dong là “Nam Phăn”. Vùng Húc Động cũ, nay thuộc xã Bình Liêu, là nơi tập trung nhiều cơ sở làm miến nhất, với thôn Nà Ếch là trung tâm của nghề.

Miến Bình Liêu không có sắc vàng bóng hay trắng ngần như nhiều loại miến khác. Màu xanh lục nhạt là màu tự nhiên của bột dong nguyên chất, cũng là dấu hiệu người mua quen dùng để nhận ra miến của vùng. Sợi miến Húc Động hơi thô, to, ăn ngọt mát, dai mà mềm, không dính, nấu đi nấu lại vẫn không nát. Củ dong được dỡ sau vụ lúa, và từ khoảng tháng 10 âm lịch đến giáp Tết là mùa làm miến: bột dong được lọc cho hết xơ bã, tráng thành bánh, phơi một đến hai nắng, cắt sợi rồi phơi thêm một nắng mới đóng gói. Vì làm theo mùa nắng hanh cuối năm, dịp giáp Tết là lúc miến mới vừa ra.

Về nhà, miến hợp nhất để nấu canh hoặc xào. Nấu canh thì ngâm miến trong nước ấm 3 đến 5 phút, để canh sôi ít nhất 3 phút cho sợi khỏi cứng; xào thì ngâm nước sôi tối thiểu 2 phút cho mềm rồi xào như các món khác. Lên Bình Liêu, bạn có thể tìm miến ở chợ phiên sáng chủ nhật tại xã Bình Liêu, ở chợ phiên Đồng Văn (xã Hoành Mô) những ngày cận Tết có miến làm thủ công, hoặc tại các điểm bán sản phẩm OCOP của địa phương. Ngoài vùng, miến có ở cửa hàng nông sản, siêu thị và các hội chợ OCOP Quảng Ninh tổ chức dịp 30/4 và 2/9 hằng năm. Giá tại cửa hàng năm 2022 và 2023 khoảng 90.000 đến 120.000 đồng/kg.

Cần biết trước khi mua: “Miến dong Bình Liêu” là nhãn hiệu chứng nhận chung của vùng, do huyện xây dựng cùng logo, nhãn mác theo mẫu chung; theo mẫu chung của huyện, gói miến ghi thông tin dinh dưỡng, hạn sử dụng, hướng dẫn dùng và địa chỉ nơi sản xuất. Ngay từ năm 2014, báo địa phương đã ghi nhận có sản phẩm mượn tên miến Bình Liêu, nên hãy xem kỹ nhãn và địa chỉ sản xuất trên bao bì, hoặc mua ở vùng làm miến. Danh hiệu OCOP 5 sao quốc gia (tháng 5/2025) là của sản phẩm do một cơ sở chế biến làm ra, không phải của mọi gói miến mang tên Bình Liêu. Cách bảo quản chưa có hướng dẫn chung từ nguồn chính thống, hãy theo hướng dẫn in trên từng gói.

Nếu mua ngay tại các hộ ở Húc Động trong mùa miến, hãy nhớ phên miến phơi trên ruộng, trên sân là hàng của từng gia đình: hỏi chủ nhà trước khi vào và đừng chạm vào phên đang phơi.

Miến dong hợp với người muốn một món quà khô, gọn, dùng được ngay trong bữa cơm gia đình, và với người thích đặc sản gắn với một vùng nguyên liệu cụ thể. Nếu bạn muốn chắc chắn mua đúng sản phẩm đạt OCOP 5 sao, hãy xem nhãn của từng cơ sở thay vì chỉ nhìn chữ “Bình Liêu”. Muốn tận mắt xem phơi miến và các công đoạn làm ra sợi miến, hãy xem mục Nghề làm miến dong Bình Liêu trong ứng dụng; còn nếu chỉ cần mua làm quà, một phiên chợ sáng chủ nhật ở Bình Liêu là đủ.

What to experience

  • Mua miến ở chợ phiên Bình Liêu sáng chủ nhật
  • Mua miến thủ công ở chợ phiên Đồng Văn dịp cận Tết
  • Mua miến tại hội chợ OCOP Quảng Ninh (30/4, 2/9)
  • Mua miến tại nơi sản xuất ở Húc Động mùa miến

Keywords

  • quà lưu niệm
  • miến dong
  • đặc sản Bình Liêu
  • Húc Động
  • Bình Liêu
  • Quảng Ninh
  • dong riềng
  • OCOP
  • nhãn hiệu chứng nhận

Souvenirs

Gốm Đông Triều

Gốm nặng lửa nung lò bầu khoảng 1.300 độ C của Quảng Ninh, nổi tiếng chậu hoa men xanh cỡ lớn

Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Đi Quốc lộ 18A từ Hà Nội về Hạ Long, qua đất Đông Triều bạn sẽ thấy gốm bày dọc hai bên đường: chậu hoa, đôn, chum, ang xếp thành dãy. Đó là gốm Đông Triều, dòng gốm “nặng lửa” do các làng gốm Vĩnh Hồng, Ánh Hồng ở phường Mạo Khê và khu Cầu Đất thuộc phường Đức Chính cũ làm ra. Các làng gốm này vang danh từ khoảng thập niên 1950 và 1960 với những món gốm to, nặng lửa.

Gọi là nặng lửa vì phần lớn hàng được nung trong lò bầu đốt củi tới khoảng 1.300 độ C, nên xương gốm cứng, bền, nước men trong và mịn. Theo một nghệ nhân ở Đức Chính, hàng nặng lửa chịu va đập tốt đến mức khi chở đi có thể xếp chồng lên nhau không cần lót mà vẫn không vỡ. Dòng gốm này theo kỹ thuật gốm Móng Cái về Đông Triều; người có công gây dựng nghề sứ ở đây là ông Hoàng Bá Huy, người mở tổ sản xuất gia đình năm 1955. Món làm nên tên tuổi là chậu hoa men xanh, có chiếc đường kính tới 100 cm, cùng đôn kê chậu và ang trồng cây. Hoa văn được vẽ trước rồi mới phủ men, nên nằm dưới lớp men; cùng một khuôn nhưng mỗi chiếc người thợ vẽ núi non, cảnh vật, con người khác nhau.

Hàng cỡ lớn là chậu cảnh, đôn, ang, chum, hũ và bình ngâm rượu. Muốn quà gọn hơn, bạn tìm hàng gia dụng và đồ lưu niệm nhỏ do các cơ sở nung lò ga làm, những con thổi bằng gốm kêu tu huýt bán ngay trong làng, hoặc đặt làm ấm, chén, kỷ niệm chương theo yêu cầu. Bạn có thể mua ở các điểm trưng bày, giới thiệu gốm sứ ở khu vực Mạo Khê, Kim Sơn, Đức Chính, hay chọn thẳng ở bãi gốm vừa ra lò sau nhà các hộ ở làng Vĩnh Hồng. Mẹo của người làng: gõ nhẹ tay vào thân bình, hàng chuẩn kêu lanh canh như chuông ngân. Giá trải từ vài chục nghìn đến hàng chục triệu đồng tùy cỡ và loại hàng (số liệu năm 2020).

Cần biết trước: gốm nặng lửa dày và nặng hơn hẳn gốm thường, chính người làm nghề cũng nói hàng này khó mua lẻ làm quà mang đi xa; mua chậu, chum cỡ lớn thì nên tính chuyện chở bằng xe riêng. Thương hiệu “Gốm sứ Đông Triều” đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu tập thể, nhưng đến năm 2022 theo địa phương chưa cơ sở nào in logo này lên sản phẩm, và ở một số cửa hàng gốm nơi khác vẫn bày lẫn với hàng địa phương. Vì vậy đừng trông vào nhãn mác; hãy hỏi người bán hàng do đâu làm ra, hoặc mua tại hộ, xưởng trong làng gốm.

Ở bãi gốm vừa ra lò, hãy nhờ chủ hàng lấy giúp thay vì tự nhấc thử: theo người trong nghề, sản phẩm mới ra lò còn nóng, lớp sứ còn giòn, đặt mạnh là có thể nứt. Bãi gốm và xưởng nằm ngay trong khuôn viên nhà dân, nên hỏi chủ nhà trước khi bước vào.

Gốm Đông Triều hợp với người chơi cây cảnh, cần chậu, đôn, chum cỡ lớn bền và có xe đi riêng, hoặc người muốn một món quà có câu chuyện nghề gắn với vùng đất. Nếu bạn đi máy bay, hành lý gọn, một chiếc chén, con thổi tu huýt hay món gốm nhỏ nung lò ga sẽ hợp hơn một chiếc chậu men xanh. Muốn xem tận nơi lò bầu và người thợ làm ra những món gốm này, hãy ghé chính các làng gốm Đông Triều, có mục riêng trong ứng dụng.

What to experience

  • Mua gốm tại điểm trưng bày ở Mạo Khê, Kim Sơn
  • Chọn hàng tại bãi gốm ra lò ở làng Vĩnh Hồng
  • Đặt làm ấm, chén, kỷ niệm chương theo yêu cầu

Keywords

  • quà lưu niệm
  • gốm sứ
  • gốm nặng lửa
  • Đông Triều
  • Mạo Khê
  • Quảng Ninh
  • chậu hoa men xanh
  • nhãn hiệu tập thể

Nature & seasons

Bình Liêu – cột mốc 1300

Cột mốc biên giới Việt – Trung ở ngã ba Lạng Sơn – Quảng Ninh – Quảng Tây, đầu tuyến đường tuần tra biên giới Bình Liêu; mùa hoa lau tháng 10–12.

Hoành Mô, Quang Ninh

Story

This story is currently available in Vietnamese only.

Cột mốc 1300 đứng ở ngã ba nơi Lạng Sơn và Quảng Ninh cùng tiếp giáp khu tự trị Quảng Tây (Trung Quốc), nay thuộc xã Hoành Mô, thành phố Quảng Ninh. Từ Hà Nội, bạn đi khoảng 270 km, qua ngã ba Tiên Yên rồi theo quốc lộ 18C lên vùng Bình Liêu. Theo Báo Quảng Ninh, mốc 1300 là điểm đầu của đoạn đường tuần tra biên giới dài khoảng 43 km, chạy tới cột mốc 1327.

Đường tuần tra đổ bê tông, men theo các sống núi cao hơn 700 m, xuyên qua đồi cỏ tranh, rừng thông, rừng trúc; hầu hết cột mốc có bậc thang và tay vịn dẫn lên. Khách thường tìm đến bốn mốc 1300, 1302, 1305 và 1327. Mốc 1305 nằm trên đỉnh Bắc Cương, cao hơn 1.100 m. Cái tên "sống lưng khủng long" phần lớn báo chí dùng cho đoạn sống núi dẫn lên mốc 1305; riêng Báo Quảng Ninh năm 2025 gọi cả đường lên mốc 1300 như vậy. Đoạn biên giới từ mốc 1300 đến 1327 do Đồn Biên phòng cửa khẩu Hoành Mô quản lý.

Từ trung tâm Bình Liêu, bạn đi quốc lộ 18C hướng Hoành Mô khoảng một giờ, rẽ phải vào bản Ngàn Chuồng, rồi rẽ trái theo hướng mốc 61 chừng 8 km là tới mốc 1300 và 1302. Muốn lên mốc 1305, bạn đi tiếp khoảng 9 km tới chân đường mòn trên sống núi, leo ít nhất hai giờ qua gần 2.000 bậc bê tông. Hoa lau nở từ tháng 10 đến hết tháng 12; tháng 10 và 11 là lúc đông khách. Ruộng bậc thang quanh vùng chín vào cuối tháng 7 và cuối tháng 10, và mùa đông đường tuần tra từng có tuyết.

Mặt hạn chế cần biết trước: cuối tuần mùa lau, lối đi dốc chỉ rộng khoảng 1 m mà khách rất đông, có lúc phải xếp hàng chờ chụp ảnh. Tại mốc không có đơn vị quản lý du lịch, nên chưa có công bố chính thức về phí hay giờ. Chỗ ở quanh vùng chủ yếu là nhà nghỉ và homestay.

Đây là khu vực biên giới đất liền. Công dân Việt Nam phải mang thẻ căn cước hoặc giấy tờ tùy thân hợp lệ. Người nước ngoài cần giấy phép của Công an cấp tỉnh; năm 2024 VnExpress ghi nhận khách quốc tế vẫn phải tới Công an tỉnh ở Hạ Long để làm thủ tục này, nên hãy hỏi lại trước khi đi. Đường lên mốc 1305 có gần 2 km dốc, một bên là vực sâu. Hãy đi đúng đường tuần tra, không bước qua đường biên và làm theo hướng dẫn của bộ đội biên phòng.

Cột mốc là dấu mốc chủ quyền quốc gia: đừng ngồi, đứng lên hay viết vẽ lên mốc. Xã Hoành Mô có các bản người Dao, người Sán Chỉ như Khe Tiền, Sông Moóc; nhiều homestay do chính người dân làm, có dịch vụ tắm lá thuốc của người Dao. Hỏi trước khi chụp ảnh người và nhà ở.

Tuyến này hợp với người quen đi bộ đường dốc, thích mùa lau và không ngại dịch vụ đơn giản. Người sợ độ cao, người cần tiện nghi đầy đủ, hoặc khách nước ngoài chưa kịp xin giấy phép nên cân nhắc. Nếu chỉ muốn ngắm lau lúc hoàng hôn với quãng đi ngắn hơn, VnExpress gợi ý cột mốc 1297 (xã Bắc Xa, Lạng Sơn); nếu muốn xem ruộng bậc thang, bản Sông Moóc là lựa chọn gần.

What to experience

  • Đi xe máy, ô tô theo đường tuần tra biên giới
  • Leo bậc thang lên cột mốc
  • Ngắm hoa lau, săn mây
  • Trekking sống lưng khủng long lên mốc 1305

Keywords

  • cột mốc biên giới
  • đường tuần tra biên giới
  • hoa lau
  • trekking
  • Hoành Mô
  • Bình Liêu

Data from the Localis system. These places are gradually being written up as stories and destination guides.