Lễ hội rước pháo Đồng Kỵ
Hội làng Đồng Kỵ mùng 4–6 tháng Giêng: rước hai quả pháo gỗ sơn son thếp vàng dài khoảng 6 m về đình, tưởng nhớ Thành hoàng Thiên Cương; DSVH phi vật thể quốc gia.
Lễ hội · Đồng Nguyên
Miền Bắc · Tỉnh
Quê hương quan họ và tranh Đông Hồ, nay mở rộng lên vùng vải thiều Lục Ngạn và non thiêng Tây Yên Tử.
Có gì ở Bắc Ninh
21,14°B · 106,07°Đ
vị trí trên bản đồ Việt NamSơ đồ vị trí tương đối giữa các địa điểm, mỗi ô lưới tương ứng một khoảng km. 6 địa điểm ở xa được ghim ở mép sơ đồ, theo đúng hướng của chúng.
Hội làng Đồng Kỵ mùng 4–6 tháng Giêng: rước hai quả pháo gỗ sơn son thếp vàng dài khoảng 6 m về đình, tưởng nhớ Thành hoàng Thiên Cương; DSVH phi vật thể quốc gia.
Lễ hội · Đồng Nguyên
Hội rằm tháng Ba tại Đền Đô (Cổ Pháp điện) thờ tám vị vua triều Lý ở Đình Bảng; rước kiệu Thánh Mẫu và các vua Lý từ chùa Ứng Tâm về đền.
Lễ hội · Từ Sơn
Chuỗi đồi cỏ và bãi đá ở dải độ cao 600 đến 1.000 m thuộc vùng Sơn Động cũ, nơi khách cắm trại qua đêm, đón bình minh và săn mây vào tháng 9, tháng 10.
Thiên nhiên & Mùa · Vân Sơn
Hồ thủy lợi trên sông Hóa, tích nước từ năm 1969, mặt nước khoảng 2.600 ha với hàng trăm đảo, thuộc hai xã Sơn Hải và Tân Sơn.
Thiên nhiên & Mùa · Sơn Hải
Hồ thủy lợi ở xã Kiên Lao giữa rừng thông và đồi vải thiều, lòng hồ có năm đảo trồng thông, khách đi thuyền máy, cắm trại, câu cá.
Thiên nhiên & Mùa · Kiên Lao
Hội vùng Dâu – Luy Lâu quanh ngày 8 tháng Tư âm lịch: các làng rước tượng Tứ Pháp (mây, mưa, sấm, chớp) về chùa Dâu, di tích quốc gia đặc biệt.
Lễ hội · Trí Quả
Nhà hát của đơn vị quan họ chuyên nghiệp lập năm 1969, dựng cạnh làng Diềm, có khán phòng 341 ghế gỗ Đồng Kỵ và hồ nước để hát quan họ trên thuyền.
Nhà hát & Sân khấu · Kinh Bắc
Bảo tàng ngoài công lập ở phường Từ Sơn, trưng bày gần 3.000 cổ vật, trong đó có hai bảo vật quốc gia: ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" và thạp đồng Đông Sơn.
Bảo tàng · Từ Sơn
Lễ hội ở đền trên sườn núi Kho, Cô Mễ, tưởng niệm người trông coi kho lương thời Lý; chính hội 12 tháng Giêng, có nghi thức phát lương, tán lộc.
Lễ hội · Vũ Ninh
Làng ven sông Cầu có đình, đền, chùa Vọng Nguyệt và nhà thờ họ Ngô "ngũ đại liên trúng", tức là năm đời liên tiếp đỗ tiến sĩ; từng nổi tiếng nghề ươm tơ.
Làng cộng đồng · Tam Giang
Làng Cổ Pháp xưa, quê hương nhà Lý, có đình Đình Bảng (1700–1736) và đền Đô thờ tám vua Lý, cả hai đều là di tích quốc gia đặc biệt.
Làng cộng đồng · Từ Sơn
Khu trưng bày ngoài trời giữa phường Chũ do một hợp tác xã lập, có nhà trình tường, nhà gỗ lim của người Sán Chí và hàng nghìn hiện vật.
Làng cộng đồng · Chũ
Bảo tàng tổng hợp của vùng Bắc Ninh cũ trên đường Lý Thái Tổ, giữ 21.776 tài liệu, hiện vật, 64 bia đá Hán Nôm ngoài sân và hai bảo vật quốc gia.
Bảo tàng · Kinh Bắc
Văn miếu hàng tỉnh trên núi Phúc Sơn, thờ Khổng Tử, giữ 12 bia đá dựng năm 1889 ghi tên 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc.
Không gian di sản · Võ Cường
Hội hàng tổng Nội Duệ xưa ở đồi Lim, 12–13 tháng Giêng âm lịch; không gian hát canh, hát thuyền, hát lán Quan họ; di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (2025).
Lễ hội · Tiên Du
Bản của hơn 160 hộ người Nùng ở xã Tân Sơn, còn ở nhà trình tường mái ngói âm dương và duy trì câu lạc bộ hát Sloong hao.
Làng cộng đồng · Tân Sơn
Làng Viêm Xá bên sông Cầu, nơi có đền Vua Bà thờ Thủy tổ Quan họ, Đền Cùng – Giếng Ngọc và đình Diềm với bức cửa võng là bảo vật quốc gia.
Làng cộng đồng · Kinh Bắc
Khu du lịch tâm linh, sinh thái ở sườn Tây dãy Yên Tử, có chùa Hạ, chùa Thượng và tuyến cáp treo dài 2,1 km đưa khách lên gần chùa Đồng trên đỉnh núi.
Không gian di sản · Tây Yên Tử
Lăng trên gò cao bên sông Đuống với tấm bia đá dựng năm 1840, cùng ngôi đền trong làng Á Lữ thờ ba vị thủy tổ theo truyền thuyết.
Không gian di sản · Thuận Thành
Cơ sở của một gia đình họ Nguyễn Đăng ở làng Đông Hồ, có nhà trưng bày tư nhân 7 chủ đề song ngữ khánh thành năm 2024 và kho ván khắc cổ sưu tầm từ thập niên 1990.
Phòng tranh · Thuận Thành
Làng bên sông Đuống ngâm tre trúc dưới ao rồi hun khói rơm trong lò đất để lên màu nâu, đen mà không sơn; di sản phi vật thể quốc gia.
Làng nghề · Gia Bình
Làng ba mặt giáp sông Cầu, từng là trung tâm gốm sành nâu từ thế kỷ 14, nay hơn 350 hộ làm bánh đa nem; đình, chùa, từ chỉ của làng là di tích quốc gia đặc biệt.
Làng nghề · Vân Hà
Làng Bưởi làm nghề gò, đúc đồng, thờ tổ nghề Nguyễn Công Truyền ở đình Diên Lộc và giỗ tổ vào cuối tháng Chín âm lịch.
Làng nghề · Gia Bình
Làng gốm sành bên sông Cầu có nghề từ khoảng đầu thời Trần, nay khoảng 200 hộ làm chum vại và gốm mỹ thuật men da lươn.
Làng nghề · Phù Lãng
Làng Mái bên bờ nam sông Đuống, nơi sinh ra tranh khắc gỗ in trên giấy điệp; từ 17 dòng họ làm tranh nay còn 3 gia đình giữ nghề, được UNESCO ghi danh cần bảo vệ khẩn cấp năm 2025.
Làng nghề · Thuận Thành
Ngôi đình dựng năm 1681 thờ Thánh Tam Giang ở làng Cổ Mễ (Cô Mễ) bên sông Cầu, cạnh chùa Cô Mễ và đền Bà Chúa Kho; di tích quốc gia năm 1989.
Làng cộng đồng · Vũ Ninh
Quần thể hội trường, nhà triển lãm, quảng trường và sân khấu ngoài trời rộng hơn 10 ha ở phường Vũ Ninh, nơi mở các festival Về miền Quan họ.
Nghệ thuật & Sáng tạo · Vũ Ninh
Chợ của làng buôn Phù Lưu ở phường Từ Sơn, được ghi là đã sầm uất từ thế kỷ XV, nay vẫn bán nhiều vải vóc, đồ khô, giày dép, hàng sắt.
Chợ địa phương · Từ Sơn
Làng nghề gỗ mỹ nghệ ở phường Đồng Nguyên, nơi khoảng 3.500 hộ làm sập gụ, tủ chè, bàn ghế chạm khắc, đục máy xong vẫn sửa lại bằng tay.
Làng nghề · Đồng Nguyên
Khu chợ ba tầng mang tên Chợ Lim, Trung tâm giao thương quốc tế ở trung tâm Lim, hoạt động từ cuối năm 2010, cách đồi Lim của Hội Lim khoảng 500 m.
Chợ địa phương · Tiên Du
Ngôi nhà 5 gian của một gia đình họ Nguyễn Hữu ở làng Đông Hồ, nơi ba thế hệ cùng khắc ván, phơi giấy điệp, in tranh và giữ hàng nghìn mộc bản.
Phòng tranh · Thuận Thành
Chợ đầu mối bán buôn, bán lẻ ở trung tâm phường Bắc Giang, nằm sát sông Thương, công trình hai tầng với 748 ki-ốt đưa vào sử dụng từ năm 2006.
Chợ địa phương · Bắc Giang
Công trình của tỉnh Bắc Ninh bên đê sông Đuống, có nhà trưng bày hơn 500 m² với hơn 1.000 tài liệu, hiện vật về nghề làm tranh Đông Hồ và khu in tranh cùng nghệ nhân.
Không gian di sản · Thuận Thành
Ngôi chùa ở trung tâm Luy Lâu xưa, khởi dựng từ thế kỷ II, thờ Pháp Vân trong hệ thống Tứ Pháp, có tháp gạch Hòa Phong ba tầng giữa sân.
Không gian di sản · Trí Quả
Vạn Phúc tự dưới chân núi Phật Tích, khởi dựng năm 1057 thời Lý; giữ hai bảo vật quốc gia là tượng A Di Đà đá xanh và bộ 10 linh thú đá.
Không gian di sản · Phật Tích
Ngôi chùa bên đê sông Đuống mang kiến trúc thế kỷ XVII, giữ bốn bảo vật quốc gia bằng gỗ, có tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cao 3,7 m.
Không gian di sản · Trí Quả
Không có địa điểm nào khớp với bộ lọc.
Lễ hội
Hội làng Đồng Kỵ mùng 4–6 tháng Giêng: rước hai quả pháo gỗ sơn son thếp vàng dài khoảng 6 m về đình, tưởng nhớ Thành hoàng Thiên Cương; DSVH phi vật thể quốc gia.
Vào mùng 4 tháng Giêng hằng năm, làng Đồng Kỵ, nay thuộc phường Đồng Kỵ, tỉnh Bắc Ninh, mở hội với nghi lễ rước pháo, một phong tục gắn với truyền thuyết về Đức Thánh Thiên Cương, vị thần được người dân địa phương tôn làm Thành hoàng. Theo truyền thuyết, Thiên Cương từng tập hợp quân sĩ tại Đồng Kỵ để chuẩn bị xuất quân đánh giặc. Tiếng pháo trong hội xưa được xem như tiếng pháo lệnh thúc quân, vì vậy tục rước và thi pháo trở thành cách cộng đồng tưởng nhớ chiến công của vị thần và cầu mong một năm bình an, thuận lợi.
Điểm nhấn của lễ hội là rước hai quả pháo mô hình lớn cùng các tràng pháo từ Nhà truyền thống về đình làng. Đoàn rước có đông người tham gia, đi trong tiếng trống, tiếng chiêng và các nghi thức tế lễ trang trọng. Trước đây, hội Đồng Kỵ từng có tục thi và đốt pháo thật; sau khi Nhà nước cấm đốt pháo, người dân chuyển sang làm pháo mô hình để tiếp nối phong tục. Những quả pháo được tạo hình công phu, trang trí nổi bật và trở thành biểu tượng đặc trưng của lễ hội. Sau nghi lễ rước pháo là nghi thức xuất quân với các ông Đám được trai tráng trong làng rước trên vai, tái hiện không khí chuẩn bị ra trận của đoàn quân Thiên Cương.
Không gian hội Đồng Kỵ còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian như Quan họ, đấu vật, cờ tướng, chọi gà và các trò chơi truyền thống. Lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016, góp phần lưu giữ một phong tục đặc sắc của vùng Đông Ngàn và đời sống cộng đồng làng Đồng Kỵ.
Từ khóa
Lễ hội
Hội rằm tháng Ba tại Đền Đô (Cổ Pháp điện) thờ tám vị vua triều Lý ở Đình Bảng; rước kiệu Thánh Mẫu và các vua Lý từ chùa Ứng Tâm về đền.
Lễ hội Đền Đô là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, diễn ra tại Đền Đô, phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nơi thờ tám vị vua triều Lý. Lễ hội gắn với sự kiện Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế vào ngày 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, mở đầu cho vương triều Lý. Đền Đô, còn gọi là Đền Lý Bát Đế hay Cổ Pháp Điện, được xem là không gian linh thiêng gắn với quê hương và nơi thờ tự các vị vua nhà Lý.
Lễ hội được tổ chức từ ngày 14 đến 16 tháng 3 âm lịch, trong đó ngày 15 tháng 3 là chính hội. Điểm đặc trưng của lễ hội là các nghi lễ rước kiệu, dâng hương, tế lễ và lễ rước Đức Thánh Mẫu cùng kiệu các vua triều Lý từ chùa Ứng Tâm về Đền Đô. Những nghi lễ này tái hiện truyền thống thờ phụng và tri ân các vị vua có công với đất nước, đồng thời tạo nên một không gian lễ hội trang nghiêm, quy mô với sự tham gia của đông đảo người dân và du khách.
Bên cạnh phần lễ, không gian hội có nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật và trò chơi dân gian mang đậm bản sắc Kinh Bắc. Đặc biệt, đoàn rước kiệu với quy mô lớn, kéo dài qua các tuyến đường của địa phương là một trong những hình ảnh nổi bật của lễ hội. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, giao lưu Quan họ, trải nghiệm văn hóa và giới thiệu sản phẩm địa phương cũng góp phần đưa Lễ hội Đền Đô trở thành dịp để cộng đồng tưởng nhớ lịch sử triều Lý và khám phá văn hóa vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Thiên nhiên & Mùa
Chuỗi đồi cỏ và bãi đá ở dải độ cao 600 đến 1.000 m thuộc vùng Sơn Động cũ, nơi khách cắm trại qua đêm, đón bình minh và săn mây vào tháng 9, tháng 10.
Cao nguyên Đồng Cao nằm giữa vùng núi phía Đông Bắc tỉnh Bắc Ninh, ở độ cao khoảng 600 đến gần 1.000 m so với mực nước biển tùy theo khu vực. Địa hình nơi đây mở ra với những triền cỏ rộng, núi thấp nối tiếp, các phiến đá lớn nằm rải rác và những khoảng không khoáng đạt nhìn xuống vùng núi rừng phía xa. Không gian ít công trình, nhiều cây cỏ và gió núi tạo nên cảm giác rộng rãi, yên tĩnh, phù hợp để tạm rời nhịp sống đô thị và dành thời gian giữa thiên nhiên.
Đồng Cao được yêu thích bởi những trải nghiệm ngoài trời. Du khách có thể đi bộ qua các đồi cỏ, tìm những điểm cao để ngắm toàn cảnh núi rừng, chụp ảnh giữa những bãi đá và thảo nguyên, hoặc đơn giản ngồi nghỉ giữa không gian lộng gió. Khi lưu trú qua đêm, cắm trại trên cao nguyên là trải nghiệm nổi bật, từ dựng lều, chuẩn bị bữa ăn ngoài trời đến quây quần bên lửa trại và ngắm bầu trời đêm. Bình minh và hoàng hôn cũng là những khoảnh khắc được nhiều du khách tìm đến Đồng Cao để trải nghiệm trực tiếp thay vì chỉ ngắm cảnh.
Dưới chân cao nguyên là các bản làng của đồng bào địa phương, tạo cơ hội kết hợp khám phá cảnh quan với tìm hiểu đời sống vùng cao. Với địa hình rộng và cảnh quan chủ yếu là đồi cỏ, bãi đá, Đồng Cao phù hợp cho những chuyến dã ngoại, trekking nhẹ, cắm trại và khám phá thiên nhiên theo nhóm.
Từ khóa
Thiên nhiên & Mùa
Hồ thủy lợi trên sông Hóa, tích nước từ năm 1969, mặt nước khoảng 2.600 ha với hàng trăm đảo, thuộc hai xã Sơn Hải và Tân Sơn.
Hồ Cấm Sơn nằm giữa vùng núi phía Đông Bắc tỉnh Bắc Ninh, thuộc xã Sơn Hải, trải rộng giữa những dãy núi và rừng cây xanh quanh năm. Mặt hồ rộng hơn 2.600 ha, với hàng trăm đảo lớn nhỏ nhấp nhô giữa lòng nước. Từ trên thuyền, cảnh quan mở ra theo từng khoảng: mặt nước xanh nối tiếp những triền núi, các đảo cây xanh nằm rải rác và những bản làng thấp thoáng ven hồ. Không gian rộng và khá tĩnh lặng khiến Cấm Sơn phù hợp với những hành trình tìm về thiên nhiên, tránh xa sự đông đúc và khám phá cảnh quan vùng hồ bằng nhịp điệu chậm rãi.
Vẻ đẹp của Cấm Sơn thay đổi theo mực nước và mùa trong năm. Mùa mưa, nước dâng phủ rộng lòng hồ, các đảo hiện rõ giữa mặt nước và những dòng nước từ núi đổ về tạo nên khung cảnh sinh động. Đến mùa khô, nước rút để lộ những bãi bồi ven hồ, nơi người dân canh tác ngô và hoa màu. Đời sống quanh Cấm Sơn cũng gắn chặt với mặt nước và núi rừng. Đây là nơi sinh sống của cộng đồng Tày, Nùng, Dao, Sán Chay với những nếp nhà ven đồi, các làn điệu dân ca và phong tục truyền thống. Du khách có thể đi thuyền giữa các đảo, câu cá, ghé bản làng hoặc thưởng thức những sản vật địa phương. Sự kết hợp giữa cảnh quan hồ, rừng núi và đời sống cộng đồng tạo nên nét riêng của Cấm Sơn trong hành trình khám phá thiên nhiên Bắc Ninh.
Từ khóa
Thiên nhiên & Mùa
Hồ thủy lợi ở xã Kiên Lao giữa rừng thông và đồi vải thiều, lòng hồ có năm đảo trồng thông, khách đi thuyền máy, cắm trại, câu cá.
Hồ Khuôn Thần nằm giữa vùng đồi núi và những vườn cây ăn quả của xã Kiên Lao, tỉnh Bắc Ninh, tạo thành một không gian thiên nhiên rộng mở với mặt hồ xanh, rừng cây và những đảo thông nằm rải rác trên lòng hồ. Hồ có diện tích mặt nước khoảng 240 ha, được bao quanh bởi khoảng 800 ha rừng trồng với thông, keo và chàm. Những đảo thông xanh nổi lên giữa mặt nước cùng các triền đồi nối tiếp nhau tạo nên cảnh quan đặc trưng của vùng núi Lục Ngạn. Quanh hồ còn có các bản làng của cộng đồng Tày, Nùng, nơi vẫn lưu giữ nhiều nét văn hóa địa phương.
Cảnh sắc Khuôn Thần thay đổi theo mùa và gắn chặt với nhịp mùa vụ của vùng cây ăn quả. Mùa hè là thời điểm hồ mang vẻ xanh mát rõ nét, khi rừng cây phủ kín các triền đồi và những vườn vải bước vào mùa thu hoạch. Sang các mùa khác, du khách có thể bắt gặp những vườn cam, bưởi, mận, hồng thay nhau tạo màu sắc cho vùng đất quanh hồ. Vào mùa mưa, những dòng nước từ núi đổ xuống lòng hồ và qua đập Khuôn Thần tạo nên khung cảnh mạnh mẽ hơn. Du khách có thể đi thuyền trên hồ, ghé các đảo thông, cắm trại, câu cá hoặc kết hợp khám phá vườn cây và đời sống bản địa. Khuôn Thần phù hợp cho hành trình tìm về thiên nhiên, tận hưởng không gian trong lành và trải nghiệm vẻ đẹp thay đổi theo mùa của vùng núi Bắc Ninh.
Từ khóa
Lễ hội
Hội vùng Dâu – Luy Lâu quanh ngày 8 tháng Tư âm lịch: các làng rước tượng Tứ Pháp (mây, mưa, sấm, chớp) về chùa Dâu, di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 8 tháng 4 âm lịch hằng năm, vùng Dâu - Luy Lâu, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh lại bước vào mùa hội Chùa Dâu. Trung tâm của lễ hội là Chùa Dâu, ngôi chùa có lịch sử lâu đời gắn với quá trình Phật giáo du nhập và giao thoa với tín ngưỡng nông nghiệp bản địa tại Luy Lâu. Từ sự kết hợp này hình thành tín ngưỡng Tứ Pháp với Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện, tượng trưng cho mây, mưa, sấm, chớp và thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa của cư dân trồng lúa.
Điểm nhấn đặc sắc của lễ hội là lễ rước Phật Tứ Pháp từ các ngôi chùa trong vùng về Chùa Dâu làm lễ cộng đồng. Những đoàn rước nối dài qua các làng cùng hệ thống nghi lễ như dâng hương, hồi cung, rước kiệu tạo nên không gian lễ hội giàu tính cộng đồng. Đặc biệt, các nghi thức và trò diễn dân gian như “mẹ đuổi con”, “cướp nước”, múa gậy Bạch trượng, Hồng côn phản ánh những lớp tín ngưỡng dân gian cổ gắn với cầu mưa, cầu mùa.
Bên cạnh phần lễ, hội Chùa Dâu còn có nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng như biểu diễn nghệ thuật, múa rối nước, trò chơi dân gian và các hoạt động giao lưu tại địa phương. Đây cũng là dịp để du khách tìm hiểu không gian văn hóa Dâu - Luy Lâu, nơi những lớp tín ngưỡng bản địa, Phật giáo và đời sống cộng đồng được lưu giữ qua nghi lễ, kiến trúc và sinh hoạt lễ hội.
Từ khóa
Nhà hát & Sân khấu
Nhà hát của đơn vị quan họ chuyên nghiệp lập năm 1969, dựng cạnh làng Diềm, có khán phòng 341 ghế gỗ Đồng Kỵ và hồ nước để hát quan họ trên thuyền.
Nhà hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh tọa lạc tại khu Viêm Xá (làng Diềm), tỉnh Bắc Ninh vùng đất gắn với không gian văn hóa Quan họ. Công trình có diện tích khoảng 19.400 m², được xây dựng như một không gian biểu diễn và giới thiệu dân ca Quan họ, với hệ thống sân khấu, khán phòng và không gian cảnh quan phục vụ các chương trình nghệ thuật, giao lưu văn hóa.
Thiết kế của Nhà hát kết hợp hình thức hiện đại với những hình ảnh quen thuộc của làng quê Kinh Bắc. Hình khối mái vòm cong dài khoảng 60 m được lấy cảm hứng từ mái đình, trong khi lớp vỏ mặt đứng sử dụng các họa tiết gợi hình nón Ba Tầm, một hình ảnh gắn với văn hóa Quan họ. Phía trước công trình còn có hồ cảnh quan được thiết kế để có thể tổ chức Quan họ trên thuyền, đưa hình thức diễn xướng truyền thống vào không gian nhà hát hiện đại.
Bên trong, sân khấu được cách điệu từ kiến trúc cổng làng, hệ thống ghế sử dụng sản phẩm gỗ Đồng Kỵ và được thiết kế theo phong cách đương đại. Nhà hát cũng có một phòng hát kết hợp không gian trong nhà và ngoài trời được thiết kế theo ý tưởng mô phỏng cấu trúc âm học của thùng đàn. Công trình đạt Giải Bạc Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia 2022 - 2023 ở hạng mục Kiến trúc công cộng.
Từ khóa
Bảo tàng
Bảo tàng ngoài công lập ở phường Từ Sơn, trưng bày gần 3.000 cổ vật, trong đó có hai bảo vật quốc gia: ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" và thạp đồng Đông Sơn.
Tọa lạc tại phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Bảo tàng Hoàng gia Nam Hồng là bảo tàng tư nhân lưu giữ bộ sưu tập gần 3.000 cổ vật được sưu tầm trong hơn 20 năm. Các hiện vật trải dài từ văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Champa đến các triều đại phong kiến Việt Nam, cùng nhiều hiện vật của Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu, tạo nên một không gian khám phá lịch sử và nghệ thuật qua nhiều thời kỳ.
Điểm nhấn đặc biệt của bảo tàng là hai Bảo vật quốc gia: Ấn vàng Hoàng đế chi bảo của vua Minh Mạng và Thạp đồng Đông Sơn có niên đại khoảng 2.300 năm. Trong đó, Thạp đồng nổi bật với tình trạng còn đủ cả nắp và thân, cùng dải hoa văn động vật chạy ngược chiều kim đồng hồ hiếm gặp còn Ấn vàng Hoàng đế chi bảo được chế tác năm 1823, cao 10,4 cm và nặng hơn 10,7 kg.
Không gian trưng bày được tổ chức thành các khu chuyên đề, từ cổ vật Đông Sơn, đồ đồng và gốm Việt Nam đến đồ sứ ký kiểu thời Lê - Trịnh, hiện vật cung đình và cổ vật của các nền văn hóa nước ngoài. Đây là điểm đến đặc biệt dành cho những ai muốn quan sát trực tiếp cổ vật quý, tìm hiểu lịch sử Việt Nam qua hiện vật gốc và khám phá sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực.
Từ khóa
Lễ hội
Lễ hội ở đền trên sườn núi Kho, Cô Mễ, tưởng niệm người trông coi kho lương thời Lý; chính hội 12 tháng Giêng, có nghi thức phát lương, tán lộc.
Lễ hội Đền Bà Chúa Kho là một trong những lễ hội tín ngưỡng nổi tiếng của vùng Kinh Bắc, diễn ra tại đền Bà Chúa Kho ở khu phố Cổ Mễ, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi đền nằm trên sườn núi Kho, gắn với truyền thuyết về một người phụ nữ có công giúp triều đình nhà Lý trông coi kho lương, đồng thời phát lương cứu dân trong cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1077. Sau khi bà hy sinh, triều đình phong bà là Phúc Thần, nhân dân lập đền thờ tại nơi từng đặt kho lương và tôn xưng là Bà Chúa Kho.
Lễ hội chính diễn ra vào ngày 12 tháng Giêng, gắn với ngày giỗ Bà Chúa Kho. Điểm đặc trưng của lễ hội là hệ thống nghi lễ tưởng niệm và cầu an, cầu lộc, trong đó nổi bật có dâng hương, tế lễ và nghi thức phát lương, tán lộc, tái hiện hình ảnh Bà Chúa Kho gắn với việc quản lý, phân phát lương thực và chăm lo đời sống nhân dân. Từ những ngày đầu xuân, đông đảo người dân và du khách tìm về đền để dâng lễ, cầu bình an, tài lộc và một năm làm ăn thuận lợi. Không gian lễ hội còn gắn với đời sống văn hóa của vùng Kinh Bắc qua các chương trình hát Quan họ, trò chơi dân gian và những hoạt động văn hóa cộng đồng.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Làng ven sông Cầu có đình, đền, chùa Vọng Nguyệt và nhà thờ họ Ngô "ngũ đại liên trúng", tức là năm đời liên tiếp đỗ tiến sĩ; từng nổi tiếng nghề ươm tơ.
Làng cổ Vọng Nguyệt nằm bên bờ sông Cầu, thuộc xã Tam Giang, huyện Yên Phong, là một trong những làng Việt cổ của vùng Kinh Bắc. Theo văn bia do Hàn lâm học sĩ Trương Hán Siêu soạn thời Trần, vùng đất này từng có tên là xã Thứ Nhị và đã hình thành một cộng đồng cư dân từ nhiều thế kỷ trước. Không gian làng gắn với dòng sông Như Nguyệt và vùng chiến địa nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1077, đồng thời lưu giữ quần thể di tích gồm đình, đền và chùa Vọng Nguyệt.
Điểm đặc biệt của Vọng Nguyệt còn nằm ở truyền thống khoa bảng nổi tiếng của dòng họ Ngô. Từ Hoàng Giáp Ngô Ngọc vào thế kỷ XV, dòng họ này có 5 đời liên tiếp đỗ đại khoa trong gần 200 năm, được Phan Huy Chú ghi nhận là trường hợp hiếm có trong lịch sử khoa cử. Nhà thờ 5 tiến sĩ họ Ngô hiện là di tích lịch sử cấp quốc gia, cùng với chùa Khai Nghiêm nơi còn lưu bia đá do Trương Hán Siêu soạn từ thời Trần và đền Vọng Nguyệt thờ các nhân vật gắn với lịch sử chống quân Tống. Những di tích và truyền thống khoa bảng ấy tạo nên bản sắc riêng của Vọng Nguyệt, một làng cổ ven sông mang đậm chiều sâu lịch sử và văn hóa Kinh Bắc.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Làng Cổ Pháp xưa, quê hương nhà Lý, có đình Đình Bảng (1700–1736) và đền Đô thờ tám vua Lý, cả hai đều là di tích quốc gia đặc biệt.
Làng cổ Đình Bảng là một trong những không gian văn hóa lâu đời của vùng Kinh Bắc, gắn với lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Từ Sơn. Nơi đây lưu giữ hệ thống di tích giàu giá trị như đình Đình Bảng, đền Đô, chùa Kim Đài cùng nhiều dấu tích văn hóa của làng Việt Bắc Bộ. Đặc biệt, đình Đình Bảng được dựng từ năm 1700 - 1736, nổi bật với kiến trúc dáng nhà sàn bề thế, hệ thống mái rộng với những đầu đao cong vút và nghệ thuật chạm khắc gỗ tinh xảo của thế kỷ XVIII.
Không gian Đình Bảng còn gắn với những lớp văn hóa tín ngưỡng lâu đời của cộng đồng cư dân nông nghiệp, từ tục thờ Cao Sơn Đại vương, Thủy Bá Đại vương, Bạch Lệ Đại vương đến việc thờ Lục Tổ là những người có công lập lại làng. Đình Đình Bảng cũng từng ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng, trong đó có những lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm địa phương. Sự hiện diện của các công trình cổ, tín ngưỡng dân gian và đời sống cộng đồng được tiếp nối qua nhiều thế hệ tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng, giúp Đình Bảng trở thành điểm đến tiêu biểu để khám phá chiều sâu văn hóa làng Việt vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Khu trưng bày ngoài trời giữa phường Chũ do một hợp tác xã lập, có nhà trình tường, nhà gỗ lim của người Sán Chí và hàng nghìn hiện vật.
Làng Văn hóa Đông Bắc nằm tại tổ dân phố Minh Khai, phường Chũ, tỉnh Bắc Ninh, là không gian văn hóa du lịch được xây dựng theo hướng kết hợp giữa bảo tồn hiện vật, kiến trúc truyền thống và các hoạt động văn hóa cộng đồng. Khuôn viên rộng khoảng 12.000 m², gồm nhà sàn, nhà gỗ, hội trường, tiểu cảnh và nhiều không gian trưng bày, tái hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng Bắc Bộ và Đông Bắc.
Điểm đặc biệt của nơi đây là bộ sưu tập hàng nghìn cổ vật được chủ nhân sưu tầm từ nhiều địa phương, trải dài qua nhiều thời kỳ và chất liệu như đồng, đá, gốm, sứ. Bên cạnh các hiện vật, không gian ngoài trời được sắp đặt như một bảo tàng mở, kết hợp với kiến trúc nhà truyền thống để tạo nên một không gian vừa tham quan vừa tìm hiểu văn hóa.
Làng Văn hóa Đông Bắc còn tổ chức các hoạt động giao lưu văn nghệ với những làn điệu dân gian như Quan họ, Sloong hao, Soong cô…, qua đó giới thiệu sự đa dạng văn hóa của cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc. Đây là điểm đến phù hợp để khám phá cổ vật lâu đời, kiến trúc truyền thống và đời sống văn hóa dân gian trong cùng một không gian.
Từ khóa
Bảo tàng
Bảo tàng tổng hợp của vùng Bắc Ninh cũ trên đường Lý Thái Tổ, giữ 21.776 tài liệu, hiện vật, 64 bia đá Hán Nôm ngoài sân và hai bảo vật quốc gia.
Bảo tàng Bắc Ninh số 2 là nơi lưu giữ và giới thiệu những lớp lịch sử, văn hóa tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, từ truyền thống khoa bảng, đời sống tín ngưỡng đến lịch sử đấu tranh cách mạng. Bảo tàng hiện bảo quản hơn 21.700 tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều hiện vật gốc và các tư liệu quý phản ánh quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Bắc Ninh qua nhiều thời kỳ.
Điểm đặc biệt của bảo tàng là hệ thống di sản Hán - Nôm với nhiều loại hình như sắc phong, thần tích, gia phả, văn bia, hoành phi, câu đối… Trong đó nổi bật là các bia đá ghi chép về khoa bảng, danh nhân, tín ngưỡng và lịch sử làng xã Kinh Bắc. Những tư liệu này giúp tái hiện lịch sử địa phương qua những ghi chép trực tiếp từ các cộng đồng và di tích xưa.
Không gian bảo tàng gồm khu trưng bày trong nhà và ngoài trời, giới thiệu từ cổ vật, tư liệu lịch sử đến các hiện vật quân sự như máy bay MiG-21, ra đa, tên lửa, pháo phòng không. Đây là điểm đến phù hợp để tìm hiểu Bắc Ninh từ chiều sâu lịch sử, văn hiến đến những dấu mốc quan trọng trong quá trình đấu tranh và phát triển của vùng đất Kinh Bắc.
Từ khóa
Không gian di sản
Văn miếu hàng tỉnh trên núi Phúc Sơn, thờ Khổng Tử, giữ 12 bia đá dựng năm 1889 ghi tên 677 vị đại khoa xứ Kinh Bắc.
Tọa lạc trên núi Phúc Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Văn Miếu Bắc Ninh được khởi dựng từ thời Lê Sơ và là nơi thờ Khổng Tử, các bậc Tiên hiền, đồng thời tôn vinh truyền thống khoa bảng của xứ Kinh Bắc. Trải qua nhiều lần trùng tu, Văn Miếu hiện vẫn giữ được không gian kiến trúc truyền thống cùng hệ thống bia đá có giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt.
Nổi bật nhất là 12 bia “Kim bảng lưu phương”, ghi danh các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Tiến sĩ của Kinh Bắc qua các triều đại, trong đó lưu danh 677 vị đại khoa. Hệ thống bia được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2020, đồng thời cung cấp nhiều tư liệu quý về lịch sử khoa cử, quê quán, học vị và chức tước của các danh nhân khoa bảng.
Không gian Văn Miếu gồm cổng Nghi môn, Tiền tế, Hậu đường, Tả vu, Hữu vu và hai tòa Bi đình, với hệ thống khung gỗ lim cùng các mảng chạm khắc truyền thống. Đây là nơi giúp du khách tìm hiểu rõ hơn về truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và nền văn hiến lâu đời của vùng Kinh Bắc qua kiến trúc, bia đá và những câu chuyện về các bậc khoa bảng được lưu danh tại đây.
Từ khóa
Lễ hội
Hội hàng tổng Nội Duệ xưa ở đồi Lim, 12–13 tháng Giêng âm lịch; không gian hát canh, hát thuyền, hát lán Quan họ; di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (2025).
Hội Lim là lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, được tổ chức vào dịp đầu xuân, với không gian trung tâm tại đồi Lim và các làng thuộc vùng Lim, Bắc Ninh. Đến thế kỷ XVIII, Hội Lim đã phát triển thành hội hàng tổng của Tổng Nội Duệ. Ngày nay, lễ hội thường diễn ra vào ngày 12 và 13 tháng Giêng, với các nghi lễ rước sắc, tế lễ, dâng hương cùng nhiều hoạt động văn hóa dân gian.
Điểm đặc sắc nhất của Hội Lim nằm ở không gian thực hành Dân ca Quan họ Bắc Ninh di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi danh năm 2009. Trong những ngày hội, liền anh, liền chị gặp gỡ và giao duyên qua các hình thức hát đối đáp, hát canh, hát trên thuyền, hát tại các lán Quan họ và không gian làng quê. Lời ca đi cùng trang phục, cách xưng hô, lề lối giao tiếp và những quy tắc ứng xử đặc trưng, tạo nên một sinh hoạt văn hóa cộng đồng giàu tính truyền thống. Năm 2025, Hội Lim được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, ghi nhận giá trị của lễ hội trong việc bảo tồn và tiếp nối văn hóa Quan họ vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Bản của hơn 160 hộ người Nùng ở xã Tân Sơn, còn ở nhà trình tường mái ngói âm dương và duy trì câu lạc bộ hát Sloong hao.
Làng cổ Bắc Hoa nằm giữa những triền đồi xanh của xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là không gian sinh sống của cộng đồng người Nùng với những ngôi nhà trình tường đất, mái ngói âm dương nép mình bên đồi cây và vườn nhà. Không gian làng vẫn giữ được vẻ mộc mạc, yên bình với những con đường nhỏ, hàng rào cây và nếp nhà truyền thống xen giữa cảnh quan núi đồi. Bao quanh là rừng xanh, suối nhỏ và những vùng cây ăn quả, tạo nên một bức tranh làng bản vùng cao gần gũi với thiên nhiên.
Bắc Hoa có vẻ đẹp thay đổi theo mùa. Mùa xuân, những triền đồi và khu vực quanh làng rực rỡ với hoa mận, hoa đào và những cánh đồng hoa cải cúc. Sang mùa hè, những vườn vải, nhãn và cây ăn quả bước vào mùa thu hoạch, trong khi rừng cây xanh mát và các dòng suối tạo nên không gian dịu mát giữa vùng núi. Vào thu đông, những vườn cam, bưởi và sắc hoa trên đồng tiếp tục tạo nên những gam màu khác cho ngôi làng. Đây là điểm đến phù hợp để cảm nhận cảnh quan nông thôn vùng cao và trải nghiệm nhịp sống chậm giữa thiên nhiên Bắc Ninh.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Làng Viêm Xá bên sông Cầu, nơi có đền Vua Bà thờ Thủy tổ Quan họ, Đền Cùng – Giếng Ngọc và đình Diềm với bức cửa võng là bảo vật quốc gia.
Làng Diềm (Viêm Xá) là một trong những làng Quan họ gốc tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, nằm bên bờ nam sông Cầu và được biết đến là nơi lưu giữ nhiều giá trị cốt lõi của văn hóa Quan họ. Điểm đặc biệt của Làng Diềm là Đền Vua Bà, người được cộng đồng tôn là Thủy tổ Quan họ, tạo nên một không gian tín ngưỡng gắn chặt với nguồn cội của những làn điệu dân ca này. Cùng với Đền Cùng, Giếng Ngọc, đình làng và các không gian sinh hoạt cộng đồng, nơi đây hình thành một quần thể văn hóa đặc trưng của làng Quan họ cổ.
Quan họ ở Làng Diềm vẫn hiện diện trong đời sống cộng đồng qua canh hát, lễ hội, tục kết chạ, miếng trầu và những quy ước ứng xử của Quan họ. Các thế hệ liền anh, liền chị truyền lại cho nhau không chỉ những làn điệu cổ mà cả cách giao tiếp, đón tiếp bạn hát và lối sống trọng nghĩa tình. Chính sự tiếp nối này khiến Làng Diềm được ví như một “bảo tàng sống” của Quan họ Kinh Bắc, nơi di sản vẫn được thực hành và trao truyền trong chính không gian văn hóa đã nuôi dưỡng nó qua nhiều thế hệ.
Từ khóa
Không gian di sản
Khu du lịch tâm linh, sinh thái ở sườn Tây dãy Yên Tử, có chùa Hạ, chùa Thượng và tuyến cáp treo dài 2,1 km đưa khách lên gần chùa Đồng trên đỉnh núi.
Tây Yên Tử nằm ở sườn phía Tây dãy núi Yên Tử, thuộc tỉnh Bắc Ninh, nơi cảnh quan núi rừng hòa quyện với hệ thống chùa, tháp và di tích gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam. Khu vực này gắn với hành trình hoằng dương Phật pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông và sự hình thành, phát triển của Thiền phái Trúc Lâm từ thế kỷ XIII. Không gian Tây Yên Tử có địa hình đa dạng với rừng xanh, suối, thung lũng và những dãy núi trùng điệp, tạo nên điểm giao thoa giữa giá trị văn hóa tâm linh và thiên nhiên vùng Đông Bắc.
Đến Tây Yên Tử, du khách có thể tham quan quảng trường trung tâm, tìm hiểu những dấu mốc cuộc đời Phật hoàng Trần Nhân Tông qua hệ thống tượng, chiêm bái chùa Hạ và chùa Thượng hoặc tiếp tục hành trình lên chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử. Tuyến cáp treo và đường đi bộ mở ra góc nhìn rộng về cảnh quan rừng núi, đặc biệt vào những ngày trời quang hoặc khi mây phủ trên sườn núi. Tây Yên Tử phù hợp với hành trình kết hợp tìm hiểu lịch sử Phật giáo, chiêm bái di tích và khám phá thiên nhiên.
Từ khóa
Không gian di sản
Lăng trên gò cao bên sông Đuống với tấm bia đá dựng năm 1840, cùng ngôi đền trong làng Á Lữ thờ ba vị thủy tổ theo truyền thuyết.
Tọa lạc bên bờ Nam sông Đuống, tại thôn Á Lữ, tỉnh Bắc Ninh, khu di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương là không gian văn hóa, tâm linh gắn với câu chuyện về cội nguồn dân tộc. Quần thể gồm lăng Kinh Dương Vương và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ được người dân gìn giữ qua nhiều thế hệ. Khu di tích được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1993.
Lăng nằm trên gò đất cao hướng ra sông Đuống, nổi bật với tấm bia đá “Kinh Dương Vương lăng” có niên đại năm 1840. Đền thờ mang kiến trúc truyền thống với các mảng chạm khắc tứ linh, tứ quý, đồng thời lưu giữ nhiều sắc phong, thần phả, ngai thờ, hoành phi và câu đối có giá trị.
Hằng năm, lễ hội Kinh Dương Vương diễn ra vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch, thu hút đông đảo người dân và du khách về dâng hương, tưởng niệm các nhân vật gắn với truyền thuyết nguồn gốc dân tộc. Không gian di tích vì thế trở thành điểm đến nổi bật để tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng và những câu chuyện về cội nguồn của người Việt.
Từ khóa
Phòng tranh
Cơ sở của một gia đình họ Nguyễn Đăng ở làng Đông Hồ, có nhà trưng bày tư nhân 7 chủ đề song ngữ khánh thành năm 2024 và kho ván khắc cổ sưu tầm từ thập niên 1990.
Phòng tranh của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế là không gian lưu giữ và giới thiệu tranh dân gian Đông Hồ tại làng Đông Hồ, tỉnh Bắc Ninh. Gắn với gia đình có 20 thế hệ làm tranh, nơi đây được hình thành từ tâm huyết phục hồi nghề tranh của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế sau thời gian dòng tranh đứng trước nguy cơ mai một. Không gian hiện lưu giữ hơn 100 bản khắc gỗ cổ cùng gần 1.000 bản khắc được sưu tầm, phục dựng và sáng tác mới, bên cạnh nhiều tác phẩm tranh Đông Hồ truyền thống.
Điểm đặc biệt của phòng tranh là du khách có thể tìm hiểu tranh Đông Hồ từ chính những vật liệu và công đoạn làm tranh truyền thống như giấy dó, màu tự nhiên, ván khắc gỗ và kỹ thuật in từng lớp màu. Các màu tranh được tạo từ nguyên liệu tự nhiên như điệp, sỏi son, hoa hòe, lá tràm và than lá tre, tạo nên sắc màu mộc mạc đặc trưng. Du khách cũng có thể xem nghệ nhân thực hiện các công đoạn chế tác, tìm hiểu câu chuyện phía sau những bản tranh và trực tiếp trải nghiệm in một bức tranh Đông Hồ.
Từ khóa
Làng nghề
Làng bên sông Đuống ngâm tre trúc dưới ao rồi hun khói rơm trong lò đất để lên màu nâu, đen mà không sơn; di sản phi vật thể quốc gia.
Làng nghề tre trúc Xuân Lai nằm bên sông Đuống, tỉnh Bắc Ninh, có lịch sử lâu đời với nghề chế tác các sản phẩm từ tre, trúc, nứa và mây. Nghề phát triển mạnh từ thời Lê Trung Hưng, ban đầu gắn với các vật dụng sinh hoạt như nông cụ, thang, giường, giát giường, sau đó mở rộng sang bàn ghế, đồ nội thất, tranh tre và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ.
Nét đặc trưng của Xuân Lai nằm ở kỹ thuật hun khói tre. Tre sau khi ngâm nước được xử lý, nắn thẳng rồi đưa vào lò hun bằng rơm trộn đất trong nhiều ngày để tạo độ bền và màu sắc tự nhiên. Tùy thời gian hun, tre có thể chuyển từ vàng, nâu nhạt, nâu cánh gián đến đen bóng mà không cần sơn phủ tạo màu. Từ những thân tre hun khói, người thợ tiếp tục đan, ghép, tạo hình thành nội thất, đồ gia dụng và tranh tre nghệ thuật. Du khách đến Xuân Lai có thể tìm hiểu quy trình xử lý tre, khám phá các sản phẩm thủ công và cảm nhận cách người thợ biến vật liệu quen thuộc của làng quê thành những sản phẩm có giá trị sử dụng và thẩm mỹ.
Từ khóa
Làng nghề
Làng ba mặt giáp sông Cầu, từng là trung tâm gốm sành nâu từ thế kỷ 14, nay hơn 350 hộ làm bánh đa nem; đình, chùa, từ chỉ của làng là di tích quốc gia đặc biệt.
Làng cổ Thổ Hà nằm bên bờ Bắc sông Cầu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, với ba mặt giáp sông tạo nên không gian làng quê đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Qua thời gian, Thổ Hà vẫn lưu giữ được nhiều dấu tích kiến trúc và cảnh quan truyền thống như cổng làng, đình, cây đa, bến nước, những con ngõ nhỏ cùng các ngôi nhà cổ hơn 100 năm tuổi. Những bức tường xây bằng mảnh gốm kết hợp bùn đất cũng là dấu vết đặc biệt còn lại từ thời Thổ Hà nổi tiếng với nghề gốm.
Thổ Hà từng là một trung tâm gốm sứ lâu đời của vùng Kinh Bắc, với sản phẩm nổi tiếng về kỹ thuật nung, màu sắc và độ tinh xảo. Dù nghề gốm không còn duy trì như trước, đời sống làng nghề vẫn tiếp tục với các sản phẩm như bánh đa nem, mì gạo và bánh đa vừng. Đến Thổ Hà, du khách có thể đi qua những không gian làng cổ ven sông, tìm hiểu dấu tích nghề gốm, thưởng thức đặc sản địa phương và khám phá đời sống văn hóa cộng đồng gắn với Quan họ cùng những phong tục truyền thống được lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Từ khóa
Làng nghề
Làng Bưởi làm nghề gò, đúc đồng, thờ tổ nghề Nguyễn Công Truyền ở đình Diên Lộc và giỗ tổ vào cuối tháng Chín âm lịch.
Làng nghề gò, đúc đồng Đại Bái, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, có lịch sử lâu đời và từng được biết đến với tên Nôm là làng Bưởi Nồi. Nghề đồng tại đây phát triển mạnh từ đầu thế kỷ XI dưới sự truyền dạy và tổ chức sản xuất của Tổ nghề Nguyễn Công Truyền. Từ những vật dụng sinh hoạt như nồi, chảo, thau, cân, người thợ Đại Bái dần phát triển nhiều dòng sản phẩm như đỉnh đồng, lư hương, tượng, trống, tranh đồng, hoành phi và câu đối.
Điểm đặc sắc của Đại Bái nằm ở kỹ thuật luyện, pha chế và chế tác đồng được truyền qua nhiều thế hệ. Người thợ thực hiện nhiều công đoạn từ tạo khuôn, đúc phôi đến gò, chạm và hoàn thiện thủ công, tạo nên những sản phẩm có đường nét tinh xảo. Đặc biệt, kỹ thuật chạm đồng tam khí, ngũ sắc tạo ra các sản phẩm có màu sắc và hoa văn phong phú. Đến làng nghề, du khách có thể tìm hiểu quy trình chế tác, khám phá các cơ sở sản xuất và tìm mua những sản phẩm đồng mang dấu ấn thủ công của Đại Bái.
Từ khóa
Làng nghề
Làng gốm sành bên sông Cầu có nghề từ khoảng đầu thời Trần, nay khoảng 200 hộ làm chum vại và gốm mỹ thuật men da lươn.
Làng gốm Phù Lãng nằm bên dòng sông Cầu, thuộc tỉnh Bắc Ninh, là làng nghề truyền thống có lịch sử hơn 700 năm, nổi tiếng với dòng gốm sành mang sắc nâu trầm và lớp men da lươn đặc trưng. Khác biệt của gốm Phù Lãng nằm ở vẻ đẹp mộc mạc, gần gũi với chất đất tự nhiên, cùng kỹ thuật tạo hình và nung gốm được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Từ những sản phẩm gia dụng như chum, vại, ấm, chậu đến các tác phẩm gốm mỹ thuật, mỗi sản phẩm đều mang dấu ấn thủ công riêng.
Đến Phù Lãng, du khách có thể dạo quanh không gian làng cổ, ghé thăm các xưởng gốm, quan sát nghệ nhân tạo hình, trang trí và hoàn thiện sản phẩm. Một số cơ sở còn tổ chức trải nghiệm làm gốm, giúp du khách tự tay nhào đất, tạo hình và khám phá các công đoạn của nghề. Sự kết hợp giữa nghề thủ công lâu đời, không gian làng quê ven sông và hoạt động trải nghiệm mang đến cơ hội tìm hiểu trực tiếp nét đặc sắc của gốm truyền thống vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Làng nghề
Làng Mái bên bờ nam sông Đuống, nơi sinh ra tranh khắc gỗ in trên giấy điệp; từ 17 dòng họ làm tranh nay còn 3 gia đình giữ nghề, được UNESCO ghi danh cần bảo vệ khẩn cấp năm 2025.
Làng tranh dân gian Đông Hồ nằm bên bờ Nam sông Đuống, nay thuộc khu phố Đông Khê, phường Song Hồ, tỉnh Bắc Ninh, là cái nôi của dòng tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ. Nghề làm tranh đã được hình thành và phát triển qua nhiều thế hệ, nổi bật với kỹ thuật in mộc bản thủ công trên giấy dó quét điệp và sử dụng màu sắc có nguồn gốc từ nguyên liệu tự nhiên. Những đề tài quen thuộc như Đám cưới chuột, Lợn đàn, Vinh hoa Phú quý… phản ánh đời sống, ước vọng và quan niệm dân gian của người Việt.
Đến làng tranh Đông Hồ, du khách có thể tìm hiểu không gian làng nghề, xem nghệ nhân thực hiện các công đoạn làm tranh, từ chuẩn bị giấy, pha màu đến in tranh bằng ván khắc gỗ, đồng thời tự tay trải nghiệm in tranh và tìm mua các sản phẩm thủ công. Làng hiện cũng có Trung tâm Bảo tồn Tranh dân gian Đông Hồ, góp phần giới thiệu lịch sử, kỹ thuật và giá trị của nghề tranh đến du khách.
Từ khóa
Làng cộng đồng
Ngôi đình dựng năm 1681 thờ Thánh Tam Giang ở làng Cổ Mễ (Cô Mễ) bên sông Cầu, cạnh chùa Cô Mễ và đền Bà Chúa Kho; di tích quốc gia năm 1989.
Đình làng Cổ Mễ là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, được khởi dựng năm 1681 dưới thời vua Lê Hy Tông. Đình thờ Thánh Tam Giang – hai anh em Trương Hống, Trương Hát, những nhân vật được cộng đồng tôn làm Thành hoàng và gắn với truyền thuyết chống quân Lương vào thế kỷ VI.
Điểm đặc sắc của đình nằm ở hệ thống chạm khắc gỗ có giá trị từ thế kỷ XVII, với những đề tài như Long vân đại hội, Ngũ hổ tranh châu cùng hình tượng người, chim thú, cây cỏ được thể hiện sinh động bằng các kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng, chạm kênh bong. Đình hiện còn lưu giữ nhiều bia đá, sắc phong và tư liệu liên quan đến lịch sử thờ phụng Thành hoàng của làng. Hằng năm, lễ hội đình diễn ra vào mùng 10 tháng 8 âm lịch, kết hợp nghi lễ truyền thống với các hoạt động văn hóa dân gian và hát Quan họ, tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa đặc trưng của làng Cổ Mễ.
Từ khóa
Nghệ thuật & Sáng tạo
Quần thể hội trường, nhà triển lãm, quảng trường và sân khấu ngoài trời rộng hơn 10 ha ở phường Vũ Ninh, nơi mở các festival Về miền Quan họ.
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc tọa lạc trên đường Kinh Dương Vương, thành phố Bắc Ninh, là công trình văn hóa sự kiện quy mô lớn, phục vụ các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hội nghị, hội thảo, triển lãm và những sự kiện lớn của tỉnh. Trung tâm có khuôn viên khoảng 10 ha, gồm hội trường, các phòng họp đa năng, khu trưng bày, quảng trường và sân khấu ngoài trời.
Công trình có kiến trúc đặc biệt khi kết hợp giữa kiến trúc hiện đại và dáng dấp đình chùa truyền thống của xứ Kinh Bắc. Các khối công trình được bố trí theo hình cung, tạo tổng thể gợi hình ảnh vành nón quai thao, biểu tượng gắn với văn hóa Quan họ; phía trước là quảng trường, hồ nước và sân khấu ngoài trời, tạo nên một không gian mở rộng lớn. Trung tâm cũng thường được lựa chọn làm địa điểm tổ chức các chương trình nghệ thuật, lễ hội và sự kiện văn hóa quy mô lớn của Bắc Ninh.
Từ khóa
Chợ địa phương
Chợ của làng buôn Phù Lưu ở phường Từ Sơn, được ghi là đã sầm uất từ thế kỷ XV, nay vẫn bán nhiều vải vóc, đồ khô, giày dép, hàng sắt.
Chợ Giầu, nay thuộc phường Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh, gắn với làng Phù Lưu vùng đất có truyền thống buôn bán lâu đời của Kinh Bắc. Chợ xưa còn gọi là chợ Phù Lưu, được ghi nhận đã khá sầm uất từ thế kỷ XV và từng là nơi giao thương của nhiều loại hàng hóa như nông sản, vải vóc, tơ lụa, đồ đồng, đồ gỗ, nông cụ và gia súc. Từ một khu chợ gắn với làng cổ Phù Lưu, chợ dần phát triển thành trung tâm buôn bán lớn của khu vực Từ Sơn.
Ngày nay, Chợ Giầu vẫn duy trì hoạt động buôn bán với nhiều ngành hàng, nổi bật như vải vóc, đồ khô, giày dép, hàng sắt và các mặt hàng phục vụ đời sống hằng ngày. Không gian chợ cùng khu vực phố xung quanh vẫn mang nhịp sống thương mại đặc trưng của Từ Sơn, đặc biệt nhộn nhịp vào các dịp lễ, Tết. Đây là địa điểm phù hợp để cảm nhận dấu ấn văn hóa kẻ chợ và truyền thống giao thương lâu đời của vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Làng nghề
Làng nghề gỗ mỹ nghệ ở phường Đồng Nguyên, nơi khoảng 3.500 hộ làm sập gụ, tủ chè, bàn ghế chạm khắc, đục máy xong vẫn sửa lại bằng tay.
Làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ nằm trong không gian Từ Sơn - Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh, là làng nghề có truyền thống làm mộc lâu đời. Từ nghề đóng giường, tủ, bàn ghế phục vụ đời sống, người thợ Đồng Kỵ dần phát triển thành các sản phẩm gỗ mỹ nghệ cao cấp như sập gụ, tủ chè, tượng, hương án, hoành phi, câu đối và đồ nội thất chạm khắc.
Điểm đặc biệt của đồ gỗ Đồng Kỵ nằm ở kỹ thuật chạm khắc cầu kỳ và sự kết hợp giữa công nghệ với tay nghề thủ công. Sau các công đoạn tạo hình bằng máy, người thợ tiếp tục đục, sửa và hoàn thiện bằng tay để tạo nên những đường nét tinh xảo, hoa văn có chiều sâu. Đến Đồng Kỵ, du khách có thể khám phá các cơ sở sản xuất, tìm hiểu quy trình chế tác và trực tiếp quan sát những công đoạn mà đôi tay người thợ tạo nên giá trị riêng cho từng sản phẩm.
Từ khóa
Chợ địa phương
Khu chợ ba tầng mang tên Chợ Lim, Trung tâm giao thương quốc tế ở trung tâm Lim, hoạt động từ cuối năm 2010, cách đồi Lim của Hội Lim khoảng 500 m.
Chợ Lim tỉnh Bắc Ninh là điểm mua bán gắn với đời sống sinh hoạt của cư dân địa phương. Chợ được biết đến với hoạt động giao thương đa dạng, từ thực phẩm, nông sản đến các mặt hàng phục vụ nhu cầu hằng ngày. Vị trí của chợ trong không gian Lim cũng khiến nơi đây trở thành một điểm có thể kết hợp khám phá đời sống địa phương khi du khách tìm hiểu vùng đất Kinh Bắc.
Không gian Chợ Lim đặc biệt nhộn nhịp vào mùa lễ hội, khi du khách về dự Hội Lim và thưởng thức dân ca Quan họ. Hội Lim diễn ra tại khu vực Lim, với trung tâm là núi Hồng Vân (núi Lim) và từ năm 2025 đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Vì vậy, Chợ Lim có thể được xem như một điểm dừng để cảm nhận nhịp sống thường ngày bên cạnh không gian văn hóa lễ hội đặc trưng của vùng Lim.
Từ khóa
Phòng tranh
Ngôi nhà 5 gian của một gia đình họ Nguyễn Hữu ở làng Đông Hồ, nơi ba thế hệ cùng khắc ván, phơi giấy điệp, in tranh và giữ hàng nghìn mộc bản.
Phòng Tranh Đông Hồ của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả là không gian làm tranh gắn với gia đình có truyền thống nhiều thế hệ tại làng Đông Hồ, Bắc Ninh. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả được cha là NNƯT Nguyễn Hữu Sam truyền nghề từ nhỏ và trở về gắn bó với nghề từ năm 1990. Hiện ông cùng con trai và các thế hệ sau tiếp tục thực hành các công đoạn làm tranh truyền thống như khắc ván, in tranh, pha màu và hoàn thiện tranh.
Điểm đặc biệt của nơi đây là không gian gia đình nơi nghề tranh Đông Hồ được truyền trực tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Du khách có thể xem các bản khắc, tìm hiểu cách làm tranh trên giấy dó với màu tự nhiên, quan sát nghệ nhân thực hiện từng công đoạn và nghe câu chuyện về quá trình gìn giữ nghề của gia đình.
Từ khóa
Chợ địa phương
Chợ đầu mối bán buôn, bán lẻ ở trung tâm phường Bắc Giang, nằm sát sông Thương, công trình hai tầng với 748 ki-ốt đưa vào sử dụng từ năm 2006.
Chợ Thương nằm tại phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh, là khu chợ gắn với đời sống buôn bán và sinh hoạt thường ngày của người dân khu vực Bắc Giang xưa. Chợ từng là nơi tập trung nhiều ngành hàng phục vụ nhu cầu của cư dân đô thị, từ thực phẩm, đồ khô đến các mặt hàng gia dụng, tạo nên một không gian giao thương quen thuộc giữa lòng thành phố.
Qua thời gian, Chợ Thương trở thành một phần trong ký ức đô thị và nhịp sống thương mại của vùng. Đến đây, du khách có thể quan sát hoạt động mua bán, khám phá các mặt hàng địa phương và cảm nhận không khí của một khu chợ truyền thống giữa đô thị đang thay đổi. Đây cũng là một lát cắt đời thường giúp hình dung rõ hơn về văn hóa giao thương và sinh hoạt cộng đồng của khu vực Bắc Giang.
Từ khóa
Không gian di sản
Công trình của tỉnh Bắc Ninh bên đê sông Đuống, có nhà trưng bày hơn 500 m² với hơn 1.000 tài liệu, hiện vật về nghề làm tranh Đông Hồ và khu in tranh cùng nghệ nhân.
Trung tâm Bảo tồn Tranh dân gian Đông Hồ tọa lạc tại xã Song Hồ, tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng nhằm bảo tồn và giới thiệu nghề làm tranh dân gian Đông Hồ là di sản văn hóa đặc trưng của vùng Kinh Bắc. Trung tâm có diện tích hơn 19.000 m², gồm khu nhà chính dành cho trưng bày tư liệu, hình ảnh, hiện vật về lịch sử và đặc trưng của dòng tranh, cùng các không gian chế tác, trải nghiệm và dịch vụ.
Đến đây, du khách có thể tìm hiểu quy trình làm tranh, xem nghệ nhân trình diễn và trực tiếp trải nghiệm các công đoạn tạo tranh truyền thống. Trung tâm cũng tổ chức các hoạt động giao lưu, trình diễn nghệ thuật dân gian, hội thảo và truyền nghề, góp phần đưa nghề tranh Đông Hồ đến gần hơn với công chúng và thế hệ trẻ.
Từ khóa
Không gian di sản
Ngôi chùa ở trung tâm Luy Lâu xưa, khởi dựng từ thế kỷ II, thờ Pháp Vân trong hệ thống Tứ Pháp, có tháp gạch Hòa Phong ba tầng giữa sân.
Tọa lạc tại vùng Dâu - Luy Lâu, tỉnh Bắc Ninh, chùa Dâu (Diên Ứng tự, Pháp Vân tự) được xem là ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, có lịch sử gần 2.000 năm và từng là một trung tâm Phật giáo quan trọng ở Luy Lâu. Ngôi chùa gắn với quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam và sự giao thoa giữa Phật giáo với tín ngưỡng nông nghiệp bản địa.
Điểm đặc trưng của chùa Dâu là tín ngưỡng Tứ Pháp với Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện tượng trưng cho mây, mưa, sấm, chớp. Chùa còn nổi bật với tháp Hòa Phong bằng gạch và pho tượng Pháp Vân bằng gỗ. Hằng năm, lễ hội chùa Dâu diễn ra vào ngày 8 tháng 4 âm lịch, nổi bật với nghi thức rước Phật Tứ Pháp, tái hiện lớp tín ngưỡng dân gian lâu đời của vùng Kinh Bắc.
Từ khóa
Không gian di sản
Vạn Phúc tự dưới chân núi Phật Tích, khởi dựng năm 1057 thời Lý; giữ hai bảo vật quốc gia là tượng A Di Đà đá xanh và bộ 10 linh thú đá.
Chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự) tọa lạc trên sườn núi Phật Tích, tỉnh Bắc Ninh, được xây dựng thành đại danh lam dưới thời Lý Thánh Tông năm 1057. Từng là trung tâm Phật giáo quan trọng thời Lý - Trần, ngôi chùa hiện vẫn lưu giữ nhiều dấu tích kiến trúc và nghệ thuật có giá trị, phản ánh chiều sâu lịch sử Phật giáo vùng Kinh Bắc.
Nổi bật nhất tại chùa là pho tượng Phật A Di Đà bằng đá thời Lý, được công nhận là Bảo vật quốc gia năm 2013, cùng 10 tượng linh thú đá thời Lý gồm ngựa, tê giác, trâu, voi và sư tử. Những tác phẩm điêu khắc này tạo nên giá trị đặc biệt của Phật Tích, nơi du khách có thể tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc đá thời Lý trong không gian cổ tự bên sườn núi.
Từ khóa
Không gian di sản
Ngôi chùa bên đê sông Đuống mang kiến trúc thế kỷ XVII, giữ bốn bảo vật quốc gia bằng gỗ, có tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cao 3,7 m.
Tọa lạc bên sông Đuống, chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự) là một ngôi chùa cổ tiêu biểu của vùng Kinh Bắc, mang đậm dấu ấn kiến trúc và nghệ thuật thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII. Không gian chùa được bố trí theo trục với nhiều công trình nối tiếp nhau, nổi bật bởi cầu đá cong bắc qua hồ sen, Tháp Báo Nghiêm và tòa Cửu Phẩm Liên Hoa.
Đặc biệt, chùa lưu giữ tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn là kiệt tác điêu khắc Phật giáo thế kỷ XVII, được tạo tác năm 1656, với 11 đầu, 46 tay lớn và 954 tay nhỏ. Cùng hệ thống tượng, phù điêu đá và chạm khắc gỗ tinh xảo, Bút Tháp tạo nên một quần thể nghệ thuật Phật giáo đặc sắc, hiện được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
Từ khóa