Bỏ qua, đến nội dung chính
Localis

Miền Bắc · Tỉnh

Tuyên Quang

Thủ đô kháng chiến Tân Trào, nay trải lên cao nguyên đá Đồng Văn và đèo Mã Pí Lèng.

47địa điểm đã kiểm chứng
19không gian di sản
10thiên nhiên & mùa

Có gì ở Tuyên Quang

  • Không gian di sản19
  • Thiên nhiên & Mùa10
  • An toàn & Hỗ trợ5
  • Làng cộng đồng4
  • Chợ địa phương4
Xem 47 địa điểm trên sơ đồ

22,70°B · 105,22°Đ

vị trí trên bản đồ Việt Nam

Khám phá Tuyên Quang

  • Bảo tàng Hà Giang

    Bảo tàng bên sông Lô kể Hà Giang từ hóa thạch 500 triệu năm đến văn hóa 19 dân tộc

    Bảo tàng · Hà Giang 1

  • Làng nghề dệt lanh Lùng Tám

    Làng người Mông bên sông Miện giữ nghề trồng lanh, dệt vải, vẽ sáp ong và nhuộm chàm

    Làng nghề · Lùng Tám

  • Lễ hội Chợ tình Khâu Vai

    Phiên chợ hẹn gặp người xưa mỗi năm một lần ngày 27/3 âm lịch của người Nùng, Giáy, Tày trên cao nguyên đá

    Lễ hội · Khâu Vai

  • Làng văn hóa Pả Vi

    Làng du lịch cộng đồng của người Mông với nhà trình tường, rào đá, dưới chân đèo Mã Pí Lèng

    Làng cộng đồng · Mèo Vạc

  • Làng văn hóa Lô Lô Chải

    Thôn người Lô Lô với nhà trình tường, rào đá xếp tay dưới chân núi Rồng, gần cột cờ Lũng Cú

    Làng cộng đồng · Lũng Cú

  • Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm

    Làng Mông giữa thung lũng Sủng Là, có ngôi nhà trình tường làm bối cảnh phim "Chuyện của Pao"

    Làng cộng đồng · Sà Phìn

  • Nghề chạm bạc Lao Xa

    Nghề đúc, chạm trang sức bạc hơn trăm năm của người Mông trong thung lũng Sủng Là

    Làng nghề · Sà Phìn

  • Đền Cấm

    Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn tựa lưng núi Cấm, nhìn ra sông Lô, nơi khách tìm về lễ "Chúa Cấm cửa rừng"

    Không gian di sản · Nông Tiến

  • Khu di tích lịch sử xã Kim Bình

    Đồi Nà Loáng, nơi họp Đại hội II của Đảng tháng 2/1951, nay là di tích quốc gia đặc biệt giữa vòng núi Chiêm Hóa

    Không gian di sản · Kim Bình

  • Đền Hạ

    Đền thờ Mẫu bên bờ sông Lô, nơi hợp tế của Lễ hội rước Mẫu ba đền xứ Tuyên

    Không gian di sản · Minh Xuân

  • Khu di tích lịch sử ATK Kim Quan

    Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng làm việc 1953–1954, dưới rừng Nà Lơi bên sông Phó Đáy

    Không gian di sản · Tân Trào

  • Chợ Trung tâm Mèo Vạc

    Phiên chợ sáng Chủ nhật giữa thung lũng núi đá Mèo Vạc, có khu mua bán trâu bò của người Mông

    Chợ địa phương · Mèo Vạc

  • Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang

    Tòa bảo tàng giữa hồ lưu giữ di cốt người Phia Vài 12.000 năm và trang phục các dân tộc Tuyên Quang

    Bảo tàng · Minh Xuân

  • Thác Nặm Me

    Thác 15 tầng dài khoảng 4 km trong rừng Na Hang – Lâm Bình, đến bằng thuyền rồi đi bộ ngược dốc

    Thiên nhiên & Mùa · Thượng Lâm

  • Cột cờ Lũng Cú

    Cột cờ cao 34,85 m trên đỉnh núi Rồng ở xã Lũng Cú, treo lá cờ 54 m²; di tích quốc gia nơi địa đầu phía bắc.

    Không gian di sản · Lũng Cú

  • Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc

    Chùa dựng năm 1107 thời Lý ở Yên Nguyên, nơi giữ tấm bia đá đặt trên lưng rùa là Bảo vật quốc gia

    Không gian di sản · Yên Nguyên

  • Chợ Đồng Văn

    Phiên chợ sáng Chủ nhật của người Mông, Lô Lô, Dao, Tày giữa trung tâm Đồng Văn, sát phố cổ

    Chợ địa phương · Đồng Văn

  • Cổng trời Quản Bạ – núi đôi Cô Tiên

    Điểm dừng chân trên quốc lộ 4C nhìn xuống thung lũng Quản Bạ và Núi Đôi, là hai quả núi tròn giữa ruộng lúa được xếp hạng danh thắng quốc gia.

    Không gian di sản · Quản Bạ

  • Đền Thác Cái

    Đền thờ Mẫu bên quốc lộ 2, trông ra ghềnh Thác Cái mà Dư địa chí gọi là Tiên Thiềm Mẫu Tử

    Không gian di sản · Yên Phú

  • Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào

    "Thủ đô Khu giải phóng" năm 1945: lán Nà Nưa, cây đa và đình Tân Trào gắn với những ngày trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

    Không gian di sản · Tân Trào

  • Đồi chè Mỹ Bằng

    Vùng đồi bát úp phủ chè dọc Quốc lộ 37, đất nông trường cũ nay do hộ công nhân nhận khoán chăm sóc

    Thiên nhiên & Mùa · Mỹ Lâm

  • Hồ Noong

    Hồ đất ngập nước dưới chân núi Noong, mặt nước co giãn theo mùa giữa ruộng và bản Tày ở xã Phú Linh

    Thiên nhiên & Mùa · Phú Linh

  • Thác Du Già

    Thác Ba Tiên đổ qua nhiều tầng đá dưới tán rừng xã Du Già, "ốc đảo" xanh của Cao nguyên đá Đồng Văn

    Thiên nhiên & Mùa · Du Già

  • Thác Pác Ban

    Thác ba tầng đổ xuống lòng hồ Na Hang, nước chảy ngầm qua núi rồi lộ thiên giữa rừng Tát Kẻ – Bản Bung

    Thiên nhiên & Mùa · Nà Hang

  • Đền Bách Thần

    Đền thờ bách thần trên sườn núi bên sông Gâm, nơi rước mâm Tồng mở đầu hội Lồng Tông của Chiêm Hóa

    Không gian di sản · Chiêm Hoá

  • Dinh thự họ Vương

    Dinh thự đá và gỗ 64 phòng của thủ lĩnh người Mông Vương Chính Đức giữa thung lũng Sà Phìn; di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

    Không gian di sản · Sà Phìn

  • Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

    Danh thắng quốc gia trải trên 11 xã cũ của Hoàng Su Phì, do người La Chí, Dao, Nùng, Tày, Mông tạo dựng; mùa nước đổ tháng 4–6, lúa chín tháng 9–10.

    Không gian di sản

  • Chợ Trung tâm Quản Bạ

    Chợ của thị trấn Tam Sơn cũ, nơi bà con vùng Quản Bạ họp phiên mỗi tuần, nhiều rau và giống cây

    Chợ địa phương · Quản Bạ

  • Khu di tích lịch sử Bộ Tư pháp

    Nơi Bộ Tư pháp đóng trụ sở 1949–1950 trên đồi thôn Mới, cạnh đình Thanh La ở vùng ATK Sơn Dương

    Không gian di sản · Minh Thanh

  • Đền Ỷ La

    Đền thờ Mẫu dựng nơi tượng Phương Dung công chúa từng được đưa về lánh nạn, điểm khởi kiệu lễ rước Mẫu

    Không gian di sản · Minh Xuân

  • Khu suối khoáng Mỹ Lâm

    Nguồn nước khoáng nóng sulfua lấy từ mạch ngầm sâu hơn 150 m ở phường Mỹ Lâm, dùng cho tắm khoáng, tắm bùn, tắm lá thuốc Dao đỏ.

    Thiên nhiên & Mùa · Mỹ Lâm

  • Thác Nặm Tạu

    Thác ba tầng dưới chân núi Khau Đeng, danh lam thắng cảnh quốc gia của vùng Đức Xuân – Bắc Quang cũ

    Thiên nhiên & Mùa · Liên Hiệp

  • Thác số 6

    Thác nhỏ chảy êm cuối thôn Tày Hạ Thành, cách trung tâm Hà Giang cũ khoảng 6 km

    Thiên nhiên & Mùa · Hà Giang 1

  • Chợ Bắc Mê

    Chợ trung tâm thị trấn Yên Phú cũ trên Quốc lộ 34, đầu mối hàng hóa của vùng Bắc Mê

    Chợ địa phương · Bắc Mê

  • Thành nhà Mạc

    Dấu tích thành Tuyên Quang giữa trung tâm tỉnh lỵ: cổng vòm gạch và đoạn tường thành, di tích quốc gia từ năm 1991.

    Không gian di sản · Minh Xuân

  • Đèo Mã Pí Lèng – sông Nho Quế

    Đoạn quốc lộ 4C dài khoảng 20 km trên Con đường Hạnh Phúc, nhìn xuống hẻm Tu Sản và sông Nho Quế; danh thắng quốc gia.

    Không gian di sản

  • Bệnh viện Đa khoa huyện Na Hang

    Cơ sở khám chữa bệnh công lập ở xã Nà Hang, làm việc 24/24 giờ, nay mang tên Bệnh viện Đa khoa khu vực Na Hang

    An toàn & Hỗ trợ · Nà Hang

  • Hang Bó Mỳ

    Hang nước dài khoảng 2 km ở bản Khun, nhiều nhũ đá, là nơi sống của cá Mỳ (cá dầm xanh) và nguồn nước của bản

    Thiên nhiên & Mùa · Bằng Lang

  • Nhà bảo tồn văn hóa bản Khun

    Bốn nhà bảo tồn văn hóa của người Tày, Nùng, La Chí và Dao ở bản Khun, do các hộ gia đình trong bản đứng tên

    Làng cộng đồng · Bằng Lang

  • Thảo nguyên Khuổi Dầu – Xung Khuất

    Thảo nguyên và rừng cọ của bản Khun, nơi cắm trại, hái lá cọ làm nón cùng người dân và lên đỉnh núi Khau Buôn

    Thiên nhiên & Mùa · Bằng Lang

Bảo tàng

Bảo tàng Hà Giang

Bảo tàng bên sông Lô kể Hà Giang từ hóa thạch 500 triệu năm đến văn hóa 19 dân tộc

Hà Giang 1, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ cột mốc Km0 Hà Giang, đi khoảng 200 m theo hướng Đồng Văn là tới Bảo tàng Hà Giang, nằm bên bờ sông Lô, gần đầu cầu Yên Biên 1. Bảo tàng tỉnh Hà Giang thành lập năm 1992; tòa nhà được cải tạo, nâng cấp từ tháng 12/2020 trên khuôn viên 4.100 m² gồm nhà trưng bày, khu trưng bày ngoài trời và một ngôi nhà sàn truyền thống, rồi khai trương, mở cửa chính thức ngày 1/9/2023. Từ khi Hà Giang và Tuyên Quang hợp nhất thành tỉnh Tuyên Quang, nơi này là cơ sở 2 của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, còn trên bản đồ và biển mặt tiền, tên quen thuộc vẫn là "Bảo tàng Hà Giang".

Không gian trưng bày do chuyên gia người Pháp cùng nhóm cộng sự trong nước tư vấn, chia thành gian khánh tiết và bốn chủ đề, mỗi chủ đề một màu và một kiểu ánh sáng riêng. Chủ đề đầu tiên, "Hà Giang những dấu mốc lịch sử", mở bằng các mẫu hóa thạch cổ sinh tìm thấy trên Cao nguyên đá Đồng Văn, niên đại từ 500 triệu đến 5 triệu năm, trong đó có hóa thạch tay cuộn Ma Lé còn nguyên vẹn và những mẫu 250 triệu năm cho thấy vùng đất này xưa kia từng là biển. Phần này khép lại bằng thước phim 3D mapping chiếu trên sa bàn, kể từ sự vận động của vỏ trái đất đến những đợt di cư, tụ cư của các dân tộc, nhờ đó bạn hiểu nhanh vì sao cao nguyên đá lại có hình dạng như bạn sắp thấy ngoài đời.

Ở gian khánh tiết, các tấm pano cao thấp khác nhau gợi những cung đường và ngọn núi, phối màu theo trang phục của đồng bào các dân tộc. Lên tầng 2, màn hình cong khổ lớn đưa bạn qua ba vùng sinh thái của Hà Giang; tiếp đó là chủ đề "Văn hóa đa dạng" về 19 dân tộc cùng sinh sống, với lễ hội Gầu Tào, Lồng Tồng, tục thờ trống đồng của người Lô Lô, lễ nhảy lửa của người Pà Thẻn và các nghề dệt lanh, rèn, chạm bạc, làm giấy bản, tra cứu thêm trên màn hình cảm ứng. Chủ đề cuối, "Xây dựng cuộc sống mới", kể về những công trình và con người làm nên đổi thay, trong đó có con đường Hạnh Phúc dài 185 km mở từ 1959 đến 1965. Ngoài khu trưng bày cố định còn có phòng triển lãm chuyên đề thay đổi theo đợt, chẳng hạn tháng 9/2026 là triển lãm "Sợi lanh kể chuyện văn hóa người Mông", có nghệ nhân hướng dẫn khách thử dệt lanh.

Bảo tàng có thu phí tham quan: 30.000 đồng/lượt cho người lớn; trẻ em từ 6 tuổi, học sinh, sinh viên, người cao tuổi được giảm một nửa, trẻ dưới 6 tuổi được miễn phí. Lịch mở cửa được công bố từ trước khi hợp nhất tỉnh, có nghỉ trưa và nghỉ thứ Hai, nên bạn hãy hỏi lại trước khi đi. Các buổi trình diễn, trò chơi dân gian ở khu nhà sàn thường diễn ra vào cuối tuần, ngày thường không gian sẽ yên hơn.

Phần lớn những gì trưng bày ở chủ đề văn hóa là nghi lễ và tín ngưỡng vẫn đang được các cộng đồng thực hành, không phải chuyện đã qua. Bạn hãy đọc kỹ chú thích, gọi đúng tên dân tộc và tên lễ, không chạm vào hiện vật, và giữ không gian yên tĩnh ở khu trưng bày về lịch sử bảo vệ Tổ quốc.

Theo quy hoạch du lịch của Hà Giang trước đây, bảo tàng được định là điểm dừng đầu tiên của du khách, và đó vẫn là cách dùng hợp lý nhất: ghé vào trước khi lên cung Quản Bạ – Đồng Văn – Mèo Vạc để biết mình sắp đi qua những vùng sinh thái nào, gặp những cộng đồng nào. Gia đình có trẻ nhỏ sẽ thích các màn hình tương tác; nếu đến vào tối thứ Sáu hoặc thứ Bảy, bạn có thể ghép với Phố đi bộ Nguyễn Trãi gần đó. Còn nếu bạn muốn xem di cốt người cổ Phia Vài hay trống đồng Heger loại I, những hiện vật đó nằm ở tòa nhà chính của Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang tại phường Minh Xuân, cách đây khá xa.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan 4 chủ đề trưng bày cố định
  • Xem phim trình chiếu 3D mapping trên sa bàn
  • Tra cứu văn hóa dân tộc trên màn hình tương tác
  • Xem triển lãm chuyên đề theo đợt
  • Chơi trò chơi dân gian ở khu nhà sàn dịp cuối tuần

Từ khóa

  • bảo tàng
  • Tuyên Quang
  • Hà Giang 1
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • hóa thạch cổ sinh
  • văn hóa các dân tộc
  • trình chiếu 3D mapping

Làng nghề

Làng nghề dệt lanh Lùng Tám

Làng người Mông bên sông Miện giữ nghề trồng lanh, dệt vải, vẽ sáp ong và nhuộm chàm

Lùng Tám, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ cổng trời Quản Bạ nhìn về phía sông Miện, những ngày trời quang bạn có thể thấy mái nhà thôn Hợp Tiến nép dưới triền đá núi. Đó là làng dệt lanh Lùng Tám, cách trung tâm Hà Giang khoảng 50 km trên tuyến Quản Bạ – Yên Minh, nơi người Mông vẫn trồng lanh trên nương, se sợi, dệt vải, vẽ sáp ong và nhuộm chàm theo cách mẹ truyền cho con gái qua nhiều thế hệ. Hầu như nhà nào trong làng cũng có một khung cửi.

Kỹ thuật trồng lanh và dệt vải lanh của người Mông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016, loại hình tri thức dân gian. Ở Lùng Tám, một tấm vải đi qua khoảng 40 công đoạn: thân lanh phơi nắng, phơi sương đến khi ngả vàng nâu, được tước thành sợi, nối bằng tay, luộc nhiều lần với nước tro bếp rồi với sáp ong; sau đó người phụ nữ đứng trên một phiến đá đặt trên khúc gỗ tròn, nhún chân cho đá lăn đến khi sợi mềm và trắng. Khó nhất là vẽ sáp ong: người thợ chấm bút vào sáp nóng chảy, kẻ những đường thẳng, hình tam giác, trôn ốc, đồng tiền, chân chim lên mặt vải. Chỗ có sáp không ăn màu chàm, nên khi nhuộm xong và nấu chảy lớp sáp, hoa văn trắng hiện lên trên nền xanh sẫm. Muốn có màu chàm đậm, vải phải ngâm và phơi hàng chục lượt, mất vài ngày nếu trời nắng, có khi tới hai tháng nếu gặp mưa. Tấm vải cũng không chỉ để bán: theo tục lệ được báo chí ghi lại, con gái Mông đến tuổi trưởng thành được gia đình cho đất riêng trồng lanh, phải biết dệt trước khi lấy chồng, và bộ lanh là của hồi môn, là món quà trao qua lại giữa mẹ chồng và nàng dâu.

Đầu mối đón khách là hợp tác xã dệt lanh của thôn, chính thức thành lập năm 2001 với 10 thành viên, đến năm 2025 có khoảng 140 xã viên trong 9 tổ sản xuất. Đây vừa là xưởng vừa là nơi trưng bày: bạn xem chị em se sợi, dệt vải, vẽ sáp ong, thử kéo sợi hoặc ngồi vào khung cửi dệt vài đường, mặc thử trang phục truyền thống, rồi chọn khăn, túi, ví, vỏ gối hay một tấm vải lanh mang về. Sau đó có thể đi bộ quanh thôn, ngắm ruộng nương xen giữa đá và những nếp nhà của người Mông.

Lùng Tám là làng nghề đang sản xuất, không phải khu trình diễn có lịch cố định. Hiện chưa có nguồn chính thức công bố giờ đón khách, phí tham quan hay phí trải nghiệm, nên bạn hãy hỏi trước tại hợp tác xã. Trồng, thu hoạch lanh và nhuộm chàm phụ thuộc mùa vụ, thời tiết, nên không phải lúc nào cũng thấy đủ các công đoạn. Đường lên là đường đèo vùng cao; theo kinh nghiệm của nhiều du khách, mùa khô từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau đi lại thuận lợi hơn.

Xưởng dệt là nơi làm việc hằng ngày của các chị, các bà: hãy hỏi trước khi chụp ảnh người, nhất là lúc họ đang vẽ sáp hay ngồi bên khung cửi, và đừng tự ý chạm vào tấm vải đang dệt hay chảo sáp đang nóng. Mua sản phẩm ngay tại hợp tác xã là cách để tiền đến tay người làm nghề; theo hợp tác xã, phần lợi nhuận bán hàng cho du khách góp vào các lớp dạy dệt cho những cô gái Mông trong vùng.

Lùng Tám hợp với người muốn hiểu một tấm vải từ cây lanh đến hoa văn, người thích đồ thủ công có câu chuyện, và những ai đi cung Quản Bạ – Yên Minh muốn dừng lại ở một nơi ngoài cảnh núi. Nếu bạn chỉ cần mua nhanh một món thổ cẩm làm quà, các quầy hàng ở điểm dừng chân dọc đường sẽ tiện hơn; còn nếu muốn ngồi xuống bên khung cửi và nghe kể về từng công đoạn, hãy dành cho làng một buổi thong thả.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem se sợi, dệt vải, vẽ sáp ong tại hợp tác xã
  • Thử kéo sợi, dệt vài đường trên khung cửi
  • Mặc thử trang phục truyền thống người Mông
  • Mua vải lanh, khăn, túi, ví tại hợp tác xã
  • Dạo quanh thôn Hợp Tiến ngắm ruộng nương

Từ khóa

  • Làng nghề
  • Tuyên Quang
  • Lùng Tám
  • Quản Bạ
  • người Mông
  • dệt lanh
  • vẽ sáp ong
  • nhuộm chàm
  • Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Lễ hội

Lễ hội Chợ tình Khâu Vai

Phiên chợ hẹn gặp người xưa mỗi năm một lần ngày 27/3 âm lịch của người Nùng, Giáy, Tày trên cao nguyên đá

Khâu Vai, Tuyên Quang

Câu chuyện

Mỗi năm chỉ có một ngày, 27 tháng 3 âm lịch (ngày dương thay đổi theo năm), thung lũng đá Khâu Vai mới họp phiên chợ mà người ta không đến để mua bán. Từ chiều 26, người Nùng, Giáy, Tày ở các xã quanh vùng, có người từ Cao Bằng sang, đã men theo những lối đá chênh vênh xuống chợ để gặp lại bạn cũ, tìm bạn mới, cầu duyên, cầu phúc. Đó là Chợ Phong lưu Khâu Vai, quen gọi là chợ tình Khâu Vai, có từ năm 1919, nay thuộc xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang (huyện Mèo Vạc, Hà Giang cũ).

Tương truyền, chợ bắt nguồn từ chuyện tình của chàng Ba người Nùng và nàng Út người Giáy. Hai người yêu nhau nhưng dòng tộc ngăn cấm; thương cha mẹ, thương bản làng, họ chia tay và hẹn mỗi năm gặp lại một lần ở núi Khâu Vai đúng ngày chia tay. Người trong vùng dựng miếu Ông, miếu Bà để tưởng nhớ mối tình ấy, và ngày hẹn trở thành ngày chợ. Cũng vì thế mà theo truyền thống, nhiều đôi vợ chồng cùng đi chợ rồi mỗi người đi tìm bạn cũ của mình, không ghen tuông, coi đó là sự tôn trọng đời sống tinh thần của nhau. Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa "Tập quán xã hội và tín ngưỡng Chợ Phong Lưu Khâu Vai" vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Quyết định số 1952/QĐ-BVHTTDL).

Phần lễ là dâng hương tại miếu Ông, miếu Bà vào ngày 26 và 27 tháng 3 âm lịch; đồ lễ của các gia tộc sửa soạn theo con số 27, như lợn 27 kg, gà 27 kg. Đêm 26, từng nhóm năm bảy người ngồi hát đối: người Giáy, người Nùng hát Cọi, người Tày hát sli, lượn, xen tiếng khèn Mông, bên chén rượu ngô, thắng cố, cơm lam mang theo từ nhà. Lễ hội do chính quyền địa phương tổ chức nay thường kéo dài hai, ba ngày quanh ngày chính. Kỳ 2026 diễn ra 12 - 13/5 (26 - 27/3 âm lịch), khai mạc tối 12/5 tại sân Mê cung đá, có thi chim họa mi hót, thi "Dê khỏe, dê đẹp", gánh ngô qua lối đá tai mèo, gùi nước bằng ống bương, trình diễn trang phục dân tộc, hát đối giao duyên và lễ cầu duyên.

Khâu Vai nằm sâu trong Cao nguyên đá Đồng Văn, cách thành phố Hà Giang cũ khoảng 180 km; đường lên đi theo các cung đèo của quốc lộ 4C qua Quản Bạ, Yên Minh tới Mèo Vạc, nên cần thời gian và tay lái vững. Lịch tính theo âm lịch và mỗi năm có kế hoạch riêng, nơi khai mạc cũng có thể đổi (kỳ 2025 khai mạc ở trung tâm Mèo Vạc, kỳ 2026 ở Mê cung đá Khâu Vai), nên hãy tra thông báo của đúng năm định đi. Ngày nay chợ cũng bày bán nhiều hàng hóa như các chợ khác, và mỗi mùa lễ hội đón hàng nghìn khách, nên khu chợ khá đông.

Miếu Ông, miếu Bà là nơi thờ tự quanh năm của người Khâu Vai: các hộ quanh chợ vẫn mang cỗ đến dâng hương vào mùng 2 Tết, mùng 2/2 và mùng 2/8 âm lịch. Khi đến, bạn nên ăn mặc kín đáo, giữ trật tự ở khu hành lễ và chỉ đứng xem nếu không được mời tham gia. Những cuộc gặp của các cặp bạn cũ là chuyện riêng của họ, vì vậy hãy hỏi trước khi chụp cận cảnh người đang trò chuyện hay hát đối.

Nếu bạn muốn thấy một tập quán còn được chính người trong vùng thực hành, gắn với tiếng hát giao duyên và miếu thờ của cộng đồng, hãy canh đúng đêm 26 và ngày 27 tháng 3 âm lịch. Nếu chỉ muốn ngắm cao nguyên đá mà không chen đông, những ngày thường ở Khâu Vai, đèo Mã Pì Lèng hay sông Nho Quế sẽ dễ chịu hơn; còn nếu đi theo nhóm và ưa không khí hội, có thể ghép thêm chợ Mèo Vạc và làng văn hóa Pả Vi trong cùng chuyến.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem lễ dâng hương miếu Ông, miếu Bà (26–27/3 âm lịch)
  • Nghe hát đối giao duyên: hát Cọi, sli, lượn, khèn Mông
  • Xem lễ khai mạc và chương trình nghệ thuật dân gian
  • Cổ vũ thi Dê khỏe dê đẹp, gánh ngô, gùi nước ống bương
  • Thưởng thức món ngô, thắng cố, rượu ngô tại chợ
  • Tham quan Mê cung đá Khâu Vai

Từ khóa

  • lễ hội
  • chợ tình Khâu Vai
  • Chợ Phong lưu
  • xã Khâu Vai
  • Tuyên Quang
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
  • 27 tháng 3 âm lịch
  • hát giao duyên

Làng cộng đồng

Làng văn hóa Pả Vi

Làng du lịch cộng đồng của người Mông với nhà trình tường, rào đá, dưới chân đèo Mã Pí Lèng

Mèo Vạc, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cách trung tâm Mèo Vạc khoảng 4 km trên Quốc lộ 4C, con đường Hạnh Phúc, ngay dưới chân đèo Mã Pí Lèng, chiếc cổng hình hai cây khèn Mông mở vào Làng văn hóa Pả Vi. Đây là làng du lịch cộng đồng của người Mông ở thôn Pả Vi Hạ, giữa Cao nguyên đá Đồng Văn: những nếp nhà trình tường màu đất, mái ngói âm dương và hàng rào đá xếp tay nằm gọn giữa các ngọn núi đá tai mèo.

Điều nên biết trước: Pả Vi không phải một bản cổ. Khoảng mười năm trước, nơi này còn là bãi đất trống. Năm 2016, tỉnh Hà Giang (cũ) phê duyệt đề án dựng một ngôi làng giữ không gian kiến trúc của người Mông và mở hướng sinh kế mới; Nhà nước làm hạ tầng, từng hộ tự xây nhà theo mẫu truyền thống: tường đất trình, cột kèo gỗ, ba gian hai chái, mái ngói âm dương hai tầng, mỗi khuôn viên khoảng 300 m² bọc rào đá. Làng chia ba khu A, B, C; nhìn từ trên cao, mỗi khu là một hình lục giác như bông hoa đào, loài hoa của cao nguyên đá. Khởi công cuối năm 2016, làng chính thức đón khách từ tháng 4/2019. Các hộ cùng giữ một quy ước du lịch xanh: không xả rác thải nhựa, không phá rừng lấy củi, không dựng công trình bê tông phá vỡ cảnh quan. Ngày 27/9/2025, làng nhận danh hiệu Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất năm 2025 tại Giải thưởng Du lịch Việt Nam.

Phần lớn khách đến Pả Vi để ngủ lại một đêm. Nhà đón khách giữ tường trình và khung gỗ, bên trong là phòng khép kín, có cả phòng cộng đồng giá mềm lẫn phòng riêng. Ban ngày, bạn có thể xem và thử dệt lanh, thêu, làm bánh ngô, nấu rượu ngô men lá hay giã bánh dày cùng người dân; bữa tối thường có thắng cố, mèn mén, thịt hun khói, rượu ngô và các món từ tam giác mạch. Sân hình lục giác trong làng là chỗ biểu diễn văn nghệ, khèn Mông; dịp Tết Gầu Tào hay lễ hội Khèn Mông, làng rộn tiếng khèn và hát giao duyên. Từ làng, các tour trải nghiệm nối tiếp đèo Mã Pí Lèng, sông Nho Quế với hẻm Tu Sản và chợ phiên Mèo Vạc.

Pả Vi là làng du lịch có quy hoạch và khá nhộn nhịp: năm 2026 cả làng có 185 phòng khép kín và 17 phòng ngủ tập thể, đón tối đa khoảng 800 khách mỗi ngày, khoảng một nửa khách lưu trú đến từ nước ngoài. Từ tháng 9, khi tam giác mạch nở và vào mùa lễ hội, nhiều nhà gần như kín phòng, nên hãy đặt trước; mùa hè vắng hơn. Đề án ban đầu chỉ dành cho người Mông, sau mở rộng cho cả người nơi khác đến cùng đầu tư, nên trong làng có những hộ kinh doanh không phải người bản địa. Nước sinh hoạt ở đây hiếm, nhiều nhà phải lọc hoặc mua nước sạch, vì vậy dùng nước tiết kiệm là một cách lịch sự. Mùa đông kéo dài, từ tháng 12 đến tháng 2 trời có thể xuống dưới 0°C.

Dù đón nhiều khách, đây vẫn là nơi các gia đình sinh sống. Trong nhà Mông, bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trang trọng nhất, nên đừng chạm vào hay đặt đồ lên đó; hỏi trước khi chụp ảnh người, nhất là người già và trẻ nhỏ. Mua thổ cẩm, đồ thêu trực tiếp từ người làm và hạn chế đồ nhựa dùng một lần là cách đi cùng quy ước xanh của làng.

Pả Vi hợp với người muốn một đêm tiện nghi vừa đủ trong kiến trúc Mông trên cung Mèo Vạc, Mã Pí Lèng, và thích ở giữa một cộng đồng đang làm du lịch bài bản. Nếu bạn tìm những ngôi nhà trình tường hàng trăm năm tuổi trong một bản lâu đời, Lô Lô Chải dưới chân cột cờ Lũng Cú hay Lũng Cẩm ở thung lũng Sủng Là sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Lưu trú qua đêm trong nhà trình tường kiểu Mông
  • Xem, thử dệt lanh, thêu thổ cẩm cùng người dân
  • Làm bánh ngô, nấu rượu ngô men lá cùng chủ nhà
  • Thưởng thức thắng cố, mèn mén, thịt hun khói
  • Ngâm chân lá thuốc, gội đầu thảo dược
  • Mua thổ cẩm, đồ thủ công từ hộ trong làng
  • Kết hợp đèo Mã Pí Lèng, sông Nho Quế, chợ Mèo Vạc

Từ khóa

  • Làng cộng đồng
  • Tuyên Quang
  • Mèo Vạc
  • người Mông
  • nhà trình tường
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • đèo Mã Pí Lèng
  • du lịch cộng đồng
  • Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất 2025

Làng cộng đồng

Làng văn hóa Lô Lô Chải

Thôn người Lô Lô với nhà trình tường, rào đá xếp tay dưới chân núi Rồng, gần cột cờ Lũng Cú

Lũng Cú, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ chân cột cờ Lũng Cú, đi thêm chưa tới hai cây số đường làng là bạn đã ở giữa Lô Lô Chải, thôn của người Lô Lô nép dưới núi Rồng, ở độ cao khoảng 1.470 m trên Cao nguyên đá Đồng Văn, sát biên giới phía Bắc. Khoảng 120 hộ đang sống ở đây, phần lớn là người Lô Lô, cùng một số gia đình người Mông; báo chí ghi nhận người Lô Lô đã gắn bó với mảnh đất này gần 800 năm.

Điều làm nên Lô Lô Chải là những ngôi nhà trình tường có tuổi từ vài chục đến hơn 200 năm: tường đất trình kín ba mặt, mái ngói âm dương, quanh nhà là hàng rào đá xếp tay cao ngang người, rêu phủ kín. Từ năm 2011 thôn bắt đầu làm du lịch, và trong 37 ngôi nhà cổ đã có 28 nhà mở cửa đón khách lưu trú. Thay vì đổ bê tông, các gia đình sửa bên trong, làm thêm khu vệ sinh khép kín mà giữ nguyên dáng nhà nhìn từ ngõ, theo nguyên tắc mà trưởng thôn nói gọn là làm du lịch nhưng không đánh mất bản sắc. Nguồn thu được chia qua các nhóm trồng rau, nuôi lợn đen, nấu rượu ngô, biểu diễn văn nghệ và hơn 100 quỹ phát triển cộng đồng. Ngày 17/10/2025, Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism) đưa Lô Lô Chải vào danh sách Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025, chọn từ hơn 270 hồ sơ của 65 quốc gia.

Cách hiểu làng trọn vẹn nhất là ngủ lại một đêm trong nhà dân. Bữa tối thường có thắng cố, mèn mén, đậu chúa, thịt treo gác bếp và rượu ngô; ban ngày bạn có thể theo chủ nhà ra vườn hái rau theo mùa, hoặc ngồi xem và học thêu, dệt cùng phụ nữ Lô Lô. Một bộ trang phục truyền thống có thể mất 3 đến 4 năm thêu may, và theo lời kể trong làng, tua rua trên khăn đội đầu hay những đường diềm áo gợi về bầu trời, tinh tú, sự tuần hoàn của Mặt trăng và Mặt trời. Theo hồ sơ làng gửi UN Tourism, tối thứ Sáu và thứ Bảy, nhà văn hóa cộng đồng có buổi văn nghệ dân gian miễn phí từ 20 đến 22 giờ, với dân ca, múa và nhảy sạp; hãy hỏi lại chủ nhà lịch tuần bạn đến. Từ làng, bạn ghép thêm cột cờ Lũng Cú, cột mốc cực Bắc và các thôn Ma Lé, Cẳng Tằng trên tuyến Hành trình Cực Bắc Tổ quốc.

Đường lên khá xa: khoảng 154 km từ phường Hà Giang, qua các cung đèo của cao nguyên đá. Từ khi được vinh danh, lượng khách tăng mạnh; dịp Tết 2026 nhiều nhà đón khách đã kín chỗ, nên vào mùa cao điểm bạn cần đặt chỗ ngủ trước. Cuối năm, sương xuống từ sáng sớm và chiều tối, trời se lạnh, bù lại là hoa đào, hoa lê nở sớm dọc ngõ đá. Thôn cũng đang trong giai đoạn xã siết quản lý xây dựng để giữ kiến trúc cũ, nên bạn có thể gặp vài công trình nhà mới đang dựng.

Lô Lô Chải là nơi người dân đang sống, làm nương, chăn bò và nấu rượu, không phải một khu trưng bày. Hãy chào hỏi và chờ chủ nhà mời trước khi bước vào sân hay vào nhà, xin phép trước khi chụp ảnh người, nhất là người già, trẻ nhỏ và phụ nữ đang thêu. Nếu muốn mang về một món thêu, mua trực tiếp từ người làm là cách để đồng tiền ở lại với chính gia đình đó.

Nếu bạn chỉ ghé nhanh trên đường lên cột cờ, vẫn đi dạo được một vòng các ngõ rào đá. Nhưng Lô Lô Chải hợp nhất với người muốn chậm lại: ngủ một đêm trong nhà trình tường, ăn cơm cùng chủ nhà và thức dậy giữa sương sớm ở điểm cực Bắc. Nếu bạn cần khách sạn đầy đủ tiện nghi hoặc ngại đường đèo dài, hãy cân nhắc chỉ đi trong ngày cùng chuyến thăm cột cờ.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi dạo ngõ rào đá giữa các nhà trình tường
  • Lưu trú qua đêm tại nhà dân trong thôn
  • Ăn cơm cùng gia đình chủ nhà
  • Học thêu, dệt cùng phụ nữ Lô Lô
  • Trồng, thu hoạch rau theo mùa cùng người dân
  • Xem văn nghệ dân gian tối T6, T7 (theo lịch thôn)
  • Kết hợp thăm cột cờ Lũng Cú, cột mốc cực Bắc

Từ khóa

  • Làng cộng đồng
  • Tuyên Quang
  • Lũng Cú
  • người Lô Lô
  • nhà trình tường
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • du lịch cộng đồng
  • Làng du lịch tốt nhất thế giới 2025

Làng cộng đồng

Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm

Làng Mông giữa thung lũng Sủng Là, có ngôi nhà trình tường làm bối cảnh phim "Chuyện của Pao"

Sà Phìn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Trên Quốc lộ 4C, qua Phố Cáo tới ngã ba Sủng Là – Phó Bảng, đi thêm vài trăm mét là xuống thung lũng Sủng Là; một tấm biển bên đường nhựa chỉ lối rẽ vào Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm. Đây là làng của người Mông, sống cùng một số gia đình Lô Lô và Hoa, giữa vùng lõi Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn: những nếp nhà trình tường màu đất vàng, mái ngói âm dương phủ rêu, quanh nhà là bờ rào đá xếp tay và ruộng ngô, vườn đào.

Lũng Cẩm được nhiều người biết đến qua một ngôi nhà. Nhà trình tường của một gia đình Mông trong làng là bối cảnh chính của bộ phim "Chuyện của Pao", chuyển thể từ truyện "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá", ra mắt năm 2005 và giành bốn giải Cánh diều vàng; du khách quen gọi là Nhà của Pao. Nhà khép kín bốn phía quanh một sân trời lát đá, tường đất dày khoảng 50 cm giữ ấm mùa đông và mát mùa hè, móng, hiên, chân cột bằng đá xanh, ngay gian cổng đặt chiếc cối xay. Cổng và then cài đều bằng gỗ, không có chi tiết sắt, vì với người Mông cửa nhà tượng trưng cho lòng hiếu khách. Bờ rào đá quanh nhà cao khoảng 1,5 m, xếp hoàn toàn bằng tay, không dùng xi măng hay cát. Đất trình tường, ngói, gỗ, đá của các ngôi nhà trong làng đều được lấy và làm ngay tại chỗ.

Lối vào làng dài chừng 300 m, dẫn tới Nhà của Pao ở cuối đường. Ngôi nhà vẫn là nơi con cháu gia chủ sinh sống; trong nhà còn treo nhiều ảnh từ bộ phim. Bạn có thể đi quanh sân, ngắm kiến trúc, chụp ảnh (nhiều khách thuê trang phục truyền thống ngay tại đây) và nghe kể về nghề làm ngói, dệt lanh, nấu rượu ngô. Trong làng, phụ nữ Mông vẫn trồng lanh, cuộn sợi bên hiên nhà và dệt vải; một số hộ mở homestay, làm bánh tam giác mạch, rượu ngô men lá từ nguyên liệu địa phương. Đội văn nghệ của thôn biểu diễn vào các dịp lễ, hội và khi khách du lịch có yêu cầu.

Du lịch ở Lũng Cẩm còn ở bước đầu: theo đợt khảo sát của Cục Du lịch Quốc gia cuối năm 2025, phần lớn khách chỉ dừng chân trong thời gian ngắn, homestay và dịch vụ trải nghiệm còn mang tính tự phát, hạ tầng và khâu đón tiếp chưa đồng bộ. Khu vực Nhà của Pao khá nhộn nhịp người qua lại, cả khách trong nước lẫn quốc tế, nên đừng chờ một góc vắng hoàn toàn. Làng hiện đón hàng chục nghìn lượt khách mỗi năm, và xã Sà Phìn có phương án chỉnh trang lại điểm du lịch này.

Nhà của Pao trước hết là nhà ở: gian chính là nơi gia đình thờ cúng tổ tiên, tiếp khách và sinh hoạt hằng ngày. Hãy đi nhẹ, không chạm vào bàn thờ hay đồ đạc, hỏi trước khi chụp ảnh người trong nhà và người dân trong làng, nhất là người già và trẻ nhỏ. Mua vải lanh, đồ thổ cẩm hay một chai rượu ngô trực tiếp từ các hộ là cách để tiền của chuyến đi ở lại với người làm ra chúng.

Lũng Cẩm hợp với người yêu điện ảnh và kiến trúc nhà trình tường của người Mông, muốn dừng chân một chặng trên cung Quốc lộ 4C nối với Phó Bảng, dinh thự họ Vương và cột cờ Lũng Cú; mùa hoa tam giác mạch tháng 10–11, hoa cải tháng 12 và hoa đào đầu năm là lúc thung lũng nhiều sắc nhất. Nếu bạn muốn ở lại đêm trong một làng có mô hình du lịch cộng đồng bài bản hơn, Lô Lô Chải dưới chân cột cờ Lũng Cú hay Làng văn hóa Pả Vi gần Mèo Vạc sẽ phù hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan Nhà của Pao, bối cảnh phim Chuyện của Pao
  • Đi dạo lối rào đá giữa các nhà trình tường
  • Thuê trang phục truyền thống chụp ảnh
  • Nghe kể về nghề làm ngói, dệt lanh, nấu rượu ngô
  • Xem phụ nữ Mông cuộn lanh, dệt vải
  • Mua vải lanh, rượu ngô men lá từ hộ trong làng
  • Kết hợp dinh thự họ Vương, Phó Bảng, Lũng Cú

Từ khóa

  • Làng cộng đồng
  • Tuyên Quang
  • Sà Phìn
  • thung lũng Sủng Là
  • người Mông
  • nhà trình tường
  • Nhà của Pao
  • Cao nguyên đá Đồng Văn

Làng nghề

Nghề chạm bạc Lao Xa

Nghề đúc, chạm trang sức bạc hơn trăm năm của người Mông trong thung lũng Sủng Là

Sà Phìn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ trung tâm xã Sủng Là cũ, đi thêm khoảng 4–6 km vào sâu thung lũng là tới thôn Lao Xa, bản của người Mông nằm trên sườn núi đá, trong vùng lõi Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn. Giữa những nếp nhà trình tường lợp ngói âm dương, vài gia đình vẫn kéo bễ, nung bạc, đổ khuôn và gõ đục chạm hoa văn, giữ một nghề mà người Mông Lao Xa đã theo hơn một trăm năm.

Báo chí gọi Lao Xa là cái nôi của nghề chạm bạc người Mông trên cao nguyên đá: từ lâu, người trong vùng muốn đặt một món trang sức bạc ưng ý đều tìm về đây. Lý do nằm ở phong tục. Trang sức bạc là của hồi môn cha mẹ trao con gái khi về nhà chồng, là thứ người Mông đeo trong lễ, tết, đám cưới; mỗi cô dâu đeo một bộ vòng hai chiếc, một chiếc đúc rỗng chạm hoa văn, một chiếc kết từ những móc bạc nhỏ. Vì thế mùa làm bạc bận nhất trùng mùa cưới, từ tháng 10 âm lịch đến ra Tết, khi khách từ Mèo Vạc, Đồng Văn, Quản Bạ về đặt vòng. Nghề chỉ truyền cho con cháu trong nhà, nên số hộ giữ nghề không nhiều: báo chí ghi 3 hộ năm 2016 và 6 hộ, chủ yếu thuộc dòng họ Mua, năm 2021.

Một chiếc vòng đi qua nhiều công đoạn. Bạc, xưa là đồng bạc hoa xòe, nay thường là đồ bạc cũ mua ở các phiên chợ vùng cao, được nung chảy, đổ khuôn, dát mỏng và tạo hình trên đe; người thợ cả dùng bộ đục chạm hoa, lá, bướm lên mặt vòng rồi tu sửa, đánh bóng. Nay một số khâu như cán, đúc, rút bạc có máy hỗ trợ, nhiều máy do chính người thợ tự chế. Đến vào dịp trước và sau Tết, bạn có thể xem thợ làm và nghe giới thiệu các công đoạn tại nhà người làm nghề, chọn nhẫn, lắc tay, lắc chân, vòng cổ bày trên tấm vải lanh trước hiên, hoặc đặt làm, khắc tên theo yêu cầu. Sau đó, dạo một vòng thôn giữa hàng rào đá và những ngôi nhà trình tường khoảng 80 năm tuổi.

Đây là xưởng của các gia đình, không phải điểm trình diễn có lịch cố định: nghề hoạt động khoảng 6 tháng quanh Tết, ngoài mùa đó có thể không gặp lúc thợ đang làm. Chưa có nguồn chính thức công bố giờ đón khách hay phí tham quan; giá trang sức tùy trọng lượng bạc và công chạm, nên hãy hỏi kỹ trước khi đặt. Bản ít dịch vụ, chuyển khoản còn hạn chế, bạn nên mang tiền mặt. Từ thành phố Hà Giang cũ vào Lao Xa khoảng 130 km đường núi; xe máy, ô tô đi được đến bản.

Với người Mông, bạc không chỉ để làm đẹp: theo quan niệm được báo chí ghi lại, bạc là vật liệu thiêng, gắn với việc nhớ về cội nguồn, tổ tiên. Hãy xin phép trước khi chụp ảnh người thợ và người trong nhà, không tự ý cầm vào khuôn, đục hay mẻ bạc đang nung, và tôn trọng việc nghề chỉ truyền trong gia đình, đừng gặng hỏi bí quyết. Mua trực tiếp từ người làm nghề là cách để tiền đến tay chính những gia đình đang giữ nghề.

Lao Xa hợp với người muốn hiểu vì sao bạc quan trọng trong đời sống người Mông, người thích đồ thủ công có nguồn gốc rõ và những ai đi cao nguyên đá muốn dừng ở một bản yên tĩnh; đi vào tháng Giêng, bạn còn gặp đào, lê nở muộn bên hàng rào đá. Nếu cần những điểm đã quen đón khách đông, hãy ghép Lao Xa với Làng văn hóa du lịch Lũng Cẩm Trên và dinh thự họ Vương cùng xã Sà Phìn.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem thợ đúc, chạm hoa văn trên trang sức bạc
  • Mua nhẫn, vòng, lắc bạc tại nhà người làm nghề
  • Đặt làm hoặc khắc tên trên trang sức bạc
  • Dạo thôn Lao Xa xem nhà trình tường, hàng rào đá

Từ khóa

  • Làng nghề
  • Tuyên Quang
  • Sà Phìn
  • Lao Xa
  • Đồng Văn
  • người Mông
  • chạm bạc
  • trang sức bạc
  • Cao nguyên đá Đồng Văn

Không gian di sản

Đền Cấm

Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn tựa lưng núi Cấm, nhìn ra sông Lô, nơi khách tìm về lễ "Chúa Cấm cửa rừng"

Nông Tiến, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cách trung tâm thành phố Tuyên Quang cũ khoảng 4 km, đền Cấm nằm trên một khu đất cao dưới chân núi Cấm, thuộc dải núi Dùm, cửa đền hướng Tây Nam nhìn ra sông Lô. Đây là đền thờ Mẫu Thượng Ngàn, vị Mẫu cai quản vùng rừng núi, mà khách đi lễ quen gọi là Bà Chúa Cấm hay Chúa Bà. Đền là di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh.

Ở xã Tràng Đà cũ có ba ngôi đền nổi tiếng, mỗi đền gắn với một cõi của tín ngưỡng thờ Mẫu: đền Thượng thờ Mẫu Thượng Thiên áo đỏ cai quản vùng trời, đền Ghềnh Quýt thờ Mẫu Thoải áo trắng cai quản sông nước, còn đền Cấm thờ Mẫu Thượng Ngàn áo xanh của núi rừng. Người đi lễ vẫn truyền nhau rằng đã đến Tuyên Quang lễ Mẫu thì phải đến lễ "Chúa Cấm cửa rừng". Theo lời truyền miệng, chân núi Dùm xưa nhiều hổ báo, ít người dám đặt chân đến. Đền khởi đầu là một ngôi miếu nhỏ dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX, trong đền vẫn còn bức đại tự "Sâm lĩnh miếu", rồi qua nhiều lần trùng tu mới thành quần thể như hôm nay.

Các tòa chính trải dần lên sườn núi. Cung Chúa Bà thờ Công đồng tứ phủ, có giếng nước thiêng mà khách thường xin nước để uống và rửa mặt; tiếp đến là cung Sơn Trang, Tam tòa Thánh Mẫu với cây lát đại thụ phía trước, và cao nhất là cung Tam Bảo thờ Phật, xen giữa là các lầu Quan Sơn thần, Cô Bé, Cậu Bé, Cô Bơ. Ở gian giữa, tượng Bà chúa Thượng ngàn ngồi đội mũ tì lư, khoác áo choàng xanh màu núi rừng; trước án là hai tượng Khuyến thiện và Trừ ác mặc võ phục, tay cầm kiếm. Ngay lối vào, tượng rắn trên hòn giả sơn và bốn con rắn khâu bằng vải trên xà chánh điện cho thấy đền còn nổi tiếng với tín ngưỡng thờ "Thần Xà"; theo ban quản lý đền, rắn ở núi Cấm là loài rắn bình thường, không độc. Sau đền có suối từ lưng núi đổ xuống, còn trên đỉnh núi Cấm là thắng cảnh "cổng trời".

Cổng du lịch của tỉnh gợi ý dành khoảng hai giờ cho đền Cấm. Đầu xuân là lúc đông nhất: các đoàn hành hương đi theo chuỗi đền của thành phố, và những buổi có hầu đồng, trong điện kín người, nhiều người phải đứng bên cửa xem từ xa. Các ngày lễ của đền tính theo âm lịch: lễ Thượng Nguyên, giải hạn mùng 10 tháng Giêng; lễ vào hè mùng 10 tháng Tư; ngày Bà Chúa bản đền mở tiệc mùng 2 tháng Năm; lễ rước Mẫu hoàn cung ngày 16 tháng Hai và 16 tháng Bảy.

Đền Cấm là nơi thờ tự đang hoạt động, và hầu đồng, một thành tố của Di sản "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt", diễn ra ngay trong điện. Khi có giá hầu, người đi lễ tự tản ra hai bên ban thờ để hành lễ; bạn cũng nên đứng về hai bên, ăn mặc kín đáo và hỏi người trông đền trước khi chụp ảnh bên trong.

Đền Cấm hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu qua một ngôi đền gắn với núi rừng, và dễ ghép vào tuyến đi lễ dọc sông Lô mà cổng du lịch tỉnh gợi ý: đền Cấm, đền Thượng, Thiền viện Trúc Lâm, đền Ghềnh Quýt; đền Hạ và đền Ỷ La ở trung tâm phường Minh Xuân cũng nằm trong chuỗi đền thờ Mẫu ấy. Nếu bạn ngại chỗ đông hoặc chưa quen không khí hầu đồng, hãy chọn một ngày thường ngoài mùa lễ đầu xuân. Đừng nhầm với đền Cấm Sơn ở phường An Tường, một ngôi đền khác cũng nằm trên tuyến hành hương.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng đền, dâng hương
  • Viếng các cung trải lên sườn núi Cấm
  • Xin nước giếng thiêng ở Cung Chúa Bà
  • Xem hầu đồng dịp đầu xuân
  • Dự lễ Thượng Nguyên mùng 10 tháng Giêng âm lịch
  • Đi lễ theo tuyến đền dọc sông Lô

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • phường Nông Tiến
  • đền thờ Mẫu
  • Mẫu Thượng Ngàn
  • di tích cấp tỉnh
  • hầu đồng
  • hành hương đầu xuân

Không gian di sản

Khu di tích lịch sử xã Kim Bình

Đồi Nà Loáng, nơi họp Đại hội II của Đảng tháng 2/1951, nay là di tích quốc gia đặc biệt giữa vòng núi Chiêm Hóa

Kim Bình, Tuyên Quang

Câu chuyện

Ở thôn Bó Củng, xã Kim Bình, giữa vòng núi Pù Choong, Pù Mi, Pù Méo, Trai Mặt và Khặm Khuật, có một quả đồi đỉnh bằng như cái bát úp tên là Nà Loáng. Từ ngày 11 đến 19/2/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp trên quả đồi này. Đó là đại hội đầu tiên có đông đủ đại biểu các Đảng bộ được chọn cử từ cơ sở trong nước, và đến nay là đại hội duy nhất họp ngoài thủ đô Hà Nội. Tại đây, Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam; Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư.

Vì sao lại là Nà Loáng? Núi cao bao quanh như bức tường thành, dưới chân đồi có suối Cổ Linh lấy nước sinh hoạt, từ đỉnh đồi có nhiều lối mòn tỏa vào An toàn khu. Cuối năm 1950, cán bộ trường Nguyễn Ái Quốc, bộ đội và người dân các dân tộc Tuyên Quang dựng hơn 30 ngôi nhà gỗ, tre, nứa, lá cọ, tất cả nép dưới tán cây to theo lời dặn của Bác Hồ: "Trên trời nhìn xuống không thấy gì, dưới đất bốn mặt nhìn vào cũng không thấy gì." Đại hội họp đúng dịp đồng bào Kim Bình mở lễ hội Lồng tông, nên di tích gắn bó chặt chẽ với lễ hội này.

Khu di tích không chỉ có một quả đồi. Được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2016, khu vực bảo vệ gồm 35 di tích và địa điểm rải trên bốn xã cũ Kim Bình, Vinh Quang, Kiên Đài và Linh Phú. Riêng Kiên Đài là nơi ở và làm việc của các lãnh tụ và nhiều cơ quan Trung ương từ năm 1948 đến 1952, khi cán bộ ở nhờ trong những nếp nhà sàn của người Tày. Vùng đất này còn ghi dấu Đại hội thống nhất Việt Minh – Liên Việt tháng 3/1951 và Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất.

Trên đồi Nà Loáng hôm nay là các hạng mục được phục dựng từ năm 2007 đến 2009: nhà hội trường mái lá, cổng chào, Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ và lán ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lán Bác là nếp nhà sàn nhỏ 4 x 4 m, sàn cao hơn 1 m, phải khom lưng mới vào được cửa. Quanh đồi còn 50 đường hào và 55 hầm trú ẩn cá nhân được giữ lại.

Cũng nên hình dung đúng trước khi đi: ngôi nhà nào bạn thấy trên đồi cũng là công trình dựng lại, phần lớn các điểm khác chỉ còn địa điểm và bia ghi dấu. Hiện vật gốc như bàn ghế hội trường, hòm gạo, tráp tài liệu của đại biểu được lưu ở Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang. Giờ mở cửa, giá vé và số điện thoại chưa được công bố cập nhật trên kênh chính thức.

Đây là nơi tưởng niệm, nên bạn giữ yên tĩnh trong hội trường và trước đài tưởng niệm. Bó Củng là thôn của người Tày đang sinh sống, vì vậy hãy hỏi ý trước khi chụp ảnh người dân hay nhà riêng.

Kim Bình hợp với người muốn đứng tận nơi một sự kiện lớn của lịch sử Đảng đã diễn ra, các đoàn về nguồn và người thích đi vùng núi Chiêm Hóa. Nếu bạn muốn xem tận mắt hiện vật gốc của Đại hội, hãy ghé Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang; còn nếu muốn một quần thể lán và hầm còn giữ nguyên trong rừng, ATK Kim Quan ở xã Tân Trào sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan nhà hội trường Đại hội II phục dựng
  • Xem lán ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Dâng hương tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ
  • Xem hệ thống hào, hầm trú ẩn còn bảo tồn

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • Kim Bình
  • Chiêm Hóa
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • Đại hội II của Đảng
  • di tích kháng chiến
  • du lịch về nguồn

Không gian di sản

Đền Hạ

Đền thờ Mẫu bên bờ sông Lô, nơi hợp tế của Lễ hội rước Mẫu ba đền xứ Tuyên

Minh Xuân, Tuyên Quang

Câu chuyện

Nằm sát bờ sông Lô, giữa khu trung tâm phường Minh Xuân và chỉ cách Quảng trường Nguyễn Tất Thành chưa đầy một cây số, Đền Hạ quay mặt về hướng đông, nhìn thẳng ra dòng sông. Ngôi đền còn có tên đền Hiệp Thuận, đền Tam Kỳ hay đền Mẫu Tam Cờ; bốn chữ "Hiệp Thuận linh từ" được đắp nổi ngay trên mái. Đền thờ Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên và là một trong ba ngôi đền thờ Mẫu cổ của thành phố, cùng đền Thượng và đền Ỷ La, được công nhận di tích cấp quốc gia.

Điều làm nên vị trí riêng của Đền Hạ nằm trong một câu chuyện được sách Đại Nam nhất thống chí chép lại. Tương truyền hai công chúa Ngọc Lân và Phương Dung theo xa giá đi xem xét địa phương, đỗ thuyền bên sông Lô; đêm ấy nổi mưa gió, hai nàng bay lên trời. Dân lập đền thờ Phương Dung ở bờ hữu ngạn, chính là Đền Hạ ngày nay, còn đền thờ Ngọc Lân ở bờ bên kia là đền Thượng. Vì thế mỗi năm vào trung tuần tháng Hai âm lịch, kiệu Mẫu từ đền Thượng và đền Ỷ La được rước về Đền Hạ để hợp tế, như một cuộc đoàn tụ của hai chị em. Lễ hội rước Mẫu được khôi phục từ năm 2007 và năm 2017 được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Năm 1738, nơi đây mới là một ngôi miếu nhỏ; đến năm 1918 miếu được xây cất thành ngôi đền như ngày nay, và năm 2018 cả ba cung tiền tế, trung cung, hậu cung được trùng tu, làm mới, khuôn viên mở rộng. Khi đến, bạn hãy dừng lại ở cổng đọc đôi liễn "Lô giang tại kỳ tiền, La sơn tại kỳ hậu", nghĩa là phía trước là sông Lô, phía sau là núi La, rồi nhìn bốn trụ cổng đắp nổi hình phượng, mái đao cong với rồng phượng trên lớp ngói vẩy. Bên trong, gian thờ bố trí theo hình chữ "tam" gồm ba cung, cột kèo và cửa võng chạm đề tài tứ linh, tứ quý; đền còn lưu giữ chuông đồng đúc năm 1759, khánh và ba pho tượng cổ.

Cổng du lịch của tỉnh gợi ý dành khoảng hai giờ cho Đền Hạ. Hãy chuẩn bị cho cảnh đông người nếu đi đầu năm: từ mùng 3 Tết đến hết tháng 3 âm lịch, các đoàn hành hương từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ… nối nhau đi lễ Mẫu qua chuỗi đền của thành phố, và trong những ngày lễ hội, sân đền là nơi đón các đoàn rước. Phần lớn công trình bạn thấy hôm nay là kết quả của đợt trùng tu năm 2018, nên dấu vết cổ nằm chủ yếu ở hiện vật và câu chuyện hơn là ở kiến trúc.

Đền Hạ là nơi thờ tự đang được người dân thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu hằng ngày, không phải một công trình chỉ để ngắm. Bạn nên ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong gian thờ và hỏi người trông đền trước khi chụp ảnh bên trong. Vào ngày rước Mẫu, Đền Hạ là điểm hợp tế, nên hãy đứng ngoài lối đi của đoàn kiệu và theo hướng dẫn của ban tổ chức.

Đền Hạ hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Tuyên Quang qua một hành trình ba đền, ghép cùng đền Ỷ La, đền Thượng bên kia sông, Thành Nhà Mạc hay Bảo tàng tỉnh ở gần đó. Nếu bạn tìm không gian tĩnh lặng để ngắm kiến trúc, hãy tránh mùa lễ đầu xuân và chọn một ngày thường trong năm.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng đền, dâng hương
  • Xem kiến trúc mái đao, trụ phượng, chạm tứ linh tứ quý
  • Dự Lễ hội rước Mẫu (trung tuần tháng Hai âm lịch)
  • Đi lễ theo hành trình ba đền Hạ – Thượng – Ỷ La

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • phường Minh Xuân
  • đền thờ Mẫu
  • di tích quốc gia
  • sông Lô
  • lễ hội rước Mẫu
  • hành hương đầu xuân

Không gian di sản

Khu di tích lịch sử ATK Kim Quan

Nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng làm việc 1953–1954, dưới rừng Nà Lơi bên sông Phó Đáy

Tân Trào, Tuyên Quang

Câu chuyện

Men theo quốc lộ 2C về thôn Khuôn Điển, xã Tân Trào, bạn gặp một cánh rừng già ôm lấy dòng sông Phó Đáy. Dưới tán rừng Nà Lơi và Vực Nhù ấy là Khu di tích lịch sử ATK Kim Quan, An toàn khu nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng Văn phòng Trung ương Đảng và một bộ phận Văn phòng Chính phủ ở và làm việc từ cuối năm 1953 đến tháng 8 năm 1954, những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Những người nghiên cứu lịch sử địa phương giải thích vì sao lại là Kim Quan: rừng rậm che chắn, sông Phó Đáy bao quanh như một con hào tự nhiên, đường lui sang Thái Nguyên hay lên Bắc Kạn đều thuận. Đầu năm 1953, Tiểu đoàn Công binh 333 lên dựng nhà cho các cơ quan Trung ương và đào ba căn hầm sâu vào lòng núi Nà Lơi; để giữ bí mật, toàn bộ đất đào hầm được đổ xuống sông, vách hầm ốp gỗ ba mặt. Tại đây, ngày 19/4/1954 Bộ Chính trị họp ra nghị quyết cho chiến dịch Điện Biên Phủ; tháng 7/1954 Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ 6 (khóa II); và cũng từ đây đoàn đại biểu Chính phủ do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu lên đường dự Hội nghị Giơ-ne-vơ. Ban Biên tập Báo Nhân Dân khi ấy đóng ngay bên cạnh, nay được ghi dấu bằng một Nhà bia khánh thành năm 2023.

Theo quốc lộ 2C đi vào, điểm đầu tiên là nơi làm việc của Chính phủ. Cách đó khoảng 200 mét là khu Trung ương Đảng, với hội trường, nhà ở của Tổng Bí thư Trường Chinh, các bộ phận điện đài, văn thư, thư viện và căn hầm dài 56 mét có cửa nhìn ra sông Phó Đáy. Đi tiếp đến Vực Nhù là lán ở và làm việc của Bác: một nếp nhà sàn lợp lá cọ, vách nứa, dựng trên sườn núi trông ra suối Khuôn Điển, nối với hầm an toàn bằng đường hào chữ chi. Mọi công trình đều làm bằng gỗ, tre, nứa, lá sẵn có quanh vùng, nên điều đọng lại sau chuyến đi là sự giản dị của cả một bộ máy kháng chiến nằm gọn dưới tán cây.

Hãy hình dung đúng trước khi đi: đây là quần thể lán và hầm rải rác dưới rừng và ven sườn núi, không có công trình đồ sộ hay khu trưng bày lớn. Giờ mở cửa, giá vé và số điện thoại liên hệ của khu di tích hiện chưa được công bố trên kênh chính thức, nên nếu đi theo đoàn hoặc muốn có người thuyết minh, bạn nên hỏi trước qua chính quyền xã Tân Trào.

Kim Quan là nơi tưởng niệm và là địa chỉ mà các trường trong vùng vẫn đưa học sinh đến học về truyền thống cách mạng. Ở trong lán và hầm, bạn giữ không gian yên tĩnh như ở một nơi tưởng niệm, và dành chút thời gian cho Nhà bia Báo Nhân Dân, nơi ghi lại những tháng làm báo giữa rừng.

Nếu bạn muốn hiểu chặng cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp qua chính nơi các quyết định được đưa ra, Kim Quan hợp để ghép với các điểm thuộc Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào trong cùng xã, hoặc với Khu di tích lịch sử Bộ Tư pháp ở vùng ATK lân cận. Còn nếu thời gian ngắn và bạn muốn bắt đầu bằng hiện vật, tư liệu trong nhà, Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan lán ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • Xem hầm an toàn Trung ương Đảng trong núi Nà Lơi
  • Tham quan khu hội trường và nơi làm việc của Chính phủ
  • Viếng Nhà bia di tích Báo Nhân Dân thời kỳ kháng chiến
  • Đi bộ dưới tán rừng Nà Lơi ven sông Phó Đáy

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • Tân Trào
  • Kim Quan
  • An toàn khu ATK
  • di tích kháng chiến
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • du lịch về nguồn

Không gian di sản

Cao nguyên đá Đồng Văn – phố cổ Đồng Văn

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO đầu tiên của Việt Nam, và phố cổ Đồng Văn khoảng 40 nhà trình tường dưới chân núi Đồn Cao.

Đồng Văn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cao nguyên đá Đồng Văn là một vùng, không phải một điểm: Công viên địa chất toàn cầu UNESCO rộng khoảng 2.350 km² trên địa bàn bốn huyện cũ Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc của Hà Giang cũ, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang. Điểm dừng cụ thể mà hầu hết du khách tìm đến là phố cổ Đồng Văn, nằm dưới chân núi Đồn Cao ở xã Đồng Văn, theo Quốc lộ 4C qua Quản Bạ và Yên Minh.

Vùng này gia nhập Mạng lưới công viên địa chất toàn cầu năm 2010, là công viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Việt Nam; trang UNESCO ghi năm 2015 là năm có danh hiệu "Công viên địa chất toàn cầu UNESCO", khi UNESCO lập chương trình này. Theo UNESCO, đá vôi chiếm khoảng 60% diện tích, lịch sử địa chất hơn 550 triệu năm, hẻm Tu Sản sâu 700 đến 800 m. Danh hiệu được tái công nhận năm 2023; đợt tái thẩm định lần thứ tư diễn ra cuối tháng 7/2026, kết quả chưa công bố tại thời điểm cập nhật.

Phố cổ có khoảng 40 ngôi nhà hai tầng trình tường, mái ngói âm dương. Các nguồn ghi niên đại khác nhau: báo chí viết khu phố hình thành từ đầu thế kỷ XIX hoặc đầu thế kỷ XX, UNESCO ghi các ngôi nhà có từ khoảng năm 1890. Cư dân phố cổ là người Tày, Nùng và người Kinh. Phố cổ được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia; năm xếp hạng ghi 2008 hoặc 2009 tùy nguồn.

Cạnh phố là chợ cổ gồm các dãy nhà lồng hình chữ U, cột đá, xây khoảng năm 1925 đến 1928 theo các nhà nghiên cứu. Từ năm 2010 chợ huyện đã chuyển ra khỏi chợ cổ, nền chợ cũ nay có quán cà phê. Chợ phiên hiện họp sáng Chủ nhật trên con phố đối diện quảng trường, đi sâu khoảng 400 m có chợ gia súc; khu ăn sáng có thắng cố, mèn mén.

Bạn có thể dạo phố và chợ cổ, leo núi Đồn Cao (di tích thời chống Pháp) nhìn xuống thị trấn, ngủ homestay trong nhà cổ. Buổi tối, quảng trường phố cổ có đêm giao lưu văn nghệ cộng đồng, theo VnExpress (3/2026) từ 19h30 đến 21h30 hằng ngày, khách góp tùy tâm; lịch này nên hỏi lại.

Mặt hạn chế: dịp lễ, Tết đường lên Đồng Văn hay tắc, Tết 2026 khu vực này hết phòng, có khách phải ngủ trên ô tô. Mưa lũ có thể chia cắt các tuyến trên cao nguyên. Năm 2013 báo chí ghi nhiều nhà cổ xuống cấp. Mùa hoa tam giác mạch cuối tháng 10 đến tháng 12 là lúc đông khách.

Xã Đồng Văn nằm trong danh sách xã khu vực biên giới đất liền theo Nghị định 299/2025/NĐ-CP: công dân Việt Nam cần mang thẻ căn cước. Khách nước ngoài nên hỏi đơn vị lữ hành hoặc Công an tỉnh về giấy tờ trước khi đi.

Nhà cổ trong phố phần lớn vẫn là nhà ở, hỏi chủ nhà trước khi vào hay chụp trong nhà. Ở chợ phiên, xin phép trước khi chụp ảnh người mua bán.

Phố cổ hợp với người muốn ngủ lại một đêm trên cao nguyên, đi chợ phiên sáng Chủ nhật và dùng nơi này làm chỗ nghỉ để đi tiếp Lũng Cú, Mã Pí Lèng. Nếu chỉ đi trong ngày từ khu Hà Giang cũ, Cổng trời Quản Bạ và Núi Đôi, khoảng 40 đến 46 km từ cột mốc Km0, là chặng gần hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Dạo phố cổ, chợ cổ Đồng Văn
  • Đi chợ phiên sáng Chủ nhật
  • Lên núi Đồn Cao ngắm thị trấn
  • Xem đêm giao lưu văn nghệ ở quảng trường
  • Lưu trú homestay nhà cổ

Từ khóa

  • công viên địa chất UNESCO
  • phố cổ
  • chợ phiên
  • di tích quốc gia
  • Đồng Văn
  • tam giác mạch

Chợ địa phương

Chợ Trung tâm Mèo Vạc

Phiên chợ sáng Chủ nhật giữa thung lũng núi đá Mèo Vạc, có khu mua bán trâu bò của người Mông

Mèo Vạc, Tuyên Quang

Câu chuyện

Sáng Chủ nhật, từ lúc trời còn chưa tỏ mặt người, những con đường đèo dốc quanh co đổ về trung tâm xã Mèo Vạc đã có người gùi hàng, dắt bò xuống chợ. Chợ Trung tâm Mèo Vạc nằm giữa một thung lũng tứ bề là núi đá và mỗi tuần chỉ họp phiên một lần, vào sáng Chủ nhật. Từ khoảng 4 đến 5 giờ sáng, bà con từ các xã quanh vùng đã có mặt; khoảng 6 giờ 30, chợ đã tấp nập. Phần đông người đi chợ là người Mông, cộng đồng chiếm đa số ở vùng Mèo Vạc.

Điều làm phiên chợ này khác là khu mua bán gia súc. Người dân dắt bò tới từ sáng sớm và tập trung ở một khu riêng; lái buôn từ nhiều nơi ở miền Bắc lên chọn bò, người mua để làm thịt, người mua để làm bò kéo, nên cách xem mỗi con một khác. Ở đây còn có dê núi và lợn cắp nách, giống lợn nhỏ của người Mông. Cái tên ấy đến từ cách bà con mang hàng: đồ đạc cho vào quẩy tấu, còn gà, lợn thì không nhốt lồng mà ôm theo người xuống chợ.

Đầu chợ là nông sản: măng, ngô, khoai, mật ong, cá suối, rau rừng, lá thuốc; nhiều khi chỉ một tấm bạt hay một bao khoai đã thành quầy hàng. Dãy hàng rượu ngô toàn phụ nữ đứng bán, rượu đựng trong can 20, 50 lít. Gian quần áo rực rỡ váy Mông: váy truyền thống làm tay có khi mất cả năm mới xong một chiếc, còn váy bày ở chợ phần nhiều là hàng may sẵn, hợp túi tiền bà con. Đông nhất là khu ẩm thực với hàng trăm gian san sát: thắng cố, mèn mén, phở gà nấu trên bếp lò củi, nước dùng để nhạt, trên bàn có sẵn bát muối, ớt cho khách tự nêm. Ở phía cổng chợ, đồng bào nướng bánh ngô ngay tại chỗ.

Cần biết trước khi đi: chợ chỉ có phiên vào Chủ nhật, ngày thường không có không khí phiên, nên muốn kịp lúc đông nhất bạn phải ngủ lại Mèo Vạc từ tối thứ Bảy. Đây là chợ dân sinh, hàng hóa chủ yếu phục vụ đời sống bà con, từ gia súc, nông sản đến dao rựa, giày dép, chứ không phải khu bán quà lưu niệm. Khu gia súc đông người và trâu bò. Giờ tan chợ, đơn vị quản lý và quy định riêng của chợ hiện chưa có công bố chính thức.

Với bà con, phiên chợ còn là dịp gặp bạn bè, người thân sau những ngày lao động, nên cả nhà thường đi cùng nhau và ăn bữa ở chợ rồi mới về. Hãy hỏi trước khi chụp ảnh ai đó, nhường lối cho người gùi hàng và người dắt bò, đứng lùi lại khi người ta đang xem bò, trả giá. Người bán ở đây ít nói thách, nên mặc cả nhẹ nhàng là đủ; mua mật ong, rau rừng hay váy áo trực tiếp từ người bán là cách để tiền về thẳng gia đình họ.

Chợ Trung tâm Mèo Vạc hợp với người muốn thấy đời sống thường ngày của cộng đồng Mông trên cao nguyên đá, không ngại dậy sớm và len giữa đám đông. Nếu bạn chỉ qua Mèo Vạc vào ngày thường, hoặc cần một nơi mua quà gọn gàng có giá niêm yết, chợ sẽ không như mong đợi. Chợ Đồng Văn cũng họp sáng Chủ nhật, nên một buổi sáng bạn chỉ đi trọn được một trong hai: chọn Mèo Vạc nếu muốn xem chợ trâu bò, chọn Đồng Văn nếu muốn ghép với phố cổ.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi chợ phiên sáng Chủ nhật
  • Xem khu mua bán trâu, bò, dê, lợn
  • Ăn thắng cố, mèn mén, phở ở khu ẩm thực
  • Mua măng, mật ong, rau rừng từ người bán
  • Xem gian váy áo, vải thổ cẩm của người Mông
  • Ăn bánh ngô nướng ở cổng chợ

Từ khóa

  • Chợ địa phương
  • Tuyên Quang
  • xã Mèo Vạc
  • chợ phiên Chủ nhật
  • cao nguyên đá
  • chợ trâu bò
  • người Mông
  • thắng cố

Bảo tàng

Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang

Tòa bảo tàng giữa hồ lưu giữ di cốt người Phia Vài 12.000 năm và trang phục các dân tộc Tuyên Quang

Minh Xuân, Tuyên Quang

Câu chuyện

Giữa hồ công viên ở phường Minh Xuân, trên một khu đất cao nối bằng cầu sang khu Đài tưởng niệm, là tòa nhà ba tầng có một mái chính ở giữa và bốn mái dốc ở bốn góc, mặt bằng vuông cắt vát góc để nhìn từ hướng nào quanh hồ cũng thấy trọn công trình. Đó là Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, tiền thân là Bảo tàng tỉnh Hà Tuyên; tòa nhà hiện nay được đưa vào sử dụng từ tháng 7/2010 và mở cửa đón khách từ năm 2012.

Thứ khiến bảo tàng này khác các bảo tàng tỉnh khác là bộ di cốt hóa thạch của người nguyên thủy cách nay khoảng 12.000 năm, khai quật tại hang Phia Vài ở Nà Hang, còn tương đối nguyên vẹn, với cách táng thức hiếm gặp: hai con ốc biển được đặt vào hai hốc mắt. Cùng không gian là chiếc ấm đầu người mình chim thời Lý (thế kỷ XI–XII) và hai trống đồng Heger loại I. Gần 2.000 hiện vật đang trưng bày được chọn từ kho hơn 22.000 tài liệu, hiện vật.

Hành trình bắt đầu ở gian khánh tiết với bức phù điêu gỗ rộng 100 m² khắc lán Nà Nưa, cây đa Tân Trào và làng Tân Lập, rồi đi qua ba chủ đề trên 1.600 m² trưng bày: tự nhiên và văn hóa các dân tộc; Tuyên Quang thời tiền sử, sơ sử và lịch sử dựng giữ quê hương; Tuyên Quang – Thủ đô Khu giải phóng, Thủ đô Kháng chiến. Ở gian các dân tộc, bạn lần lượt gặp khung cửi, dụng cụ quay sợi của người Tày; trang phục Dao Tiền màu chàm đen với hàng cúc bạc lớn và chân váy thêu hoa văn bằng sáp ong; góc bếp người Mông với hình người mẹ địu con bên bếp lửa; rồi trang phục Pà Thẻn, Sán Chay. Riêng người Dao Đỏ có từng bộ trang phục cho lễ hội, cưới hỏi, lên nương và ngày thường, nên chỉ cần nhìn kỹ là bạn đọc được nhịp sống của một cộng đồng qua cách họ mặc. Một vòng xem đầy đủ mất khoảng hai giờ.

Thông tin vé và giờ mở cửa giữa các trang công bố chưa thống nhất, nên bạn gọi số cố định của bảo tàng trước khi đi, nhất là khi đi theo đoàn và muốn có cán bộ thuyết minh. Các triển lãm chuyên đề gần đây, như "Sợi lanh kể chuyện văn hóa người Mông" tháng 9/2026, được tổ chức ở cơ sở 2 của bảo tàng tại phường Hà Giang 1, cách tòa nhà này rất xa, vì vậy hãy xem kỹ địa điểm trước khi đi.

Bộ di cốt Phia Vài là di hài của một con người cổ đại, và nhiều bộ trang phục gốc trong kho là thứ ngay cả người trong cộng đồng cũng khó tìm lại, như trang phục Dao Ô Gang, Dao Cóc Mùn. Xem chậm, giữ khoảng cách với hiện vật và giữ không gian yên tĩnh là cách tôn trọng cả người xưa lẫn các cộng đồng đang sống.

Đây là điểm dừng hợp với gia đình có học sinh, người thích khảo cổ, và bất kỳ ai sắp lên các xã vùng cao muốn nhận diện trang phục các dân tộc trước khi gặp ngoài đời. Từ bảo tàng, bạn đi bộ được tới Thành nhà Mạc (khoảng 600 m), Quảng trường Nguyễn Tất Thành và Đền Hạ (dưới 1 km) để ghép thành nửa ngày ở trung tâm. Nếu bạn chỉ muốn xem triển lãm mới theo mùa, cơ sở 2 ở Hà Giang 1 sẽ đúng chỗ hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan trưng bày thường xuyên 3 chủ đề
  • Nghe cán bộ bảo tàng thuyết minh
  • Giao lưu với nghệ nhân, nhân chứng lịch sử
  • Trải nghiệm dệt vải và trò chơi dân gian

Từ khóa

  • bảo tàng
  • Tuyên Quang
  • Minh Xuân
  • khảo cổ tiền sử
  • trống đồng
  • trang phục dân tộc
  • Thủ đô Khu giải phóng

Thiên nhiên & Mùa

Thác Nặm Me

Thác 15 tầng dài khoảng 4 km trong rừng Na Hang – Lâm Bình, đến bằng thuyền rồi đi bộ ngược dốc

Thượng Lâm, Tuyên Quang

Câu chuyện

Thác Nặm Me nằm trong rừng phía trên lòng hồ Na Hang – Lâm Bình, ở địa bàn xã Khuôn Hà cũ, nay thuộc xã Thượng Lâm. Trong tiếng Tày, Nặm Me nghĩa là "Thác Mẹ", "Suối Mẹ". Không có đường bộ chạy thẳng tới thác: theo người dân địa phương, gần như lối nào cũng phải đi thuyền đến chân thác rồi mới bắt đầu đi bộ.

Nước của Nặm Me bắt nguồn từ những cánh rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang – Lâm Bình, đổ xuống khu vực núi Hát Nghiền rồi về sông Gâm. Theo cổng du lịch của tỉnh, thác dài khoảng 4.000 m với 15 tầng thác lớn, xen giữa là những tầng nhỏ, nước chảy khá đều quanh năm qua rừng nguyên sinh và núi đá vôi. Tầng thác chính nằm trên cùng, nơi nước dội từ trên cao xuống, tung bọt trắng vào vách núi; cổng du lịch tỉnh ví dòng thác này như "mái tóc nàng tiên giữa đại ngàn". Vùng thác thuộc xã Thượng Lâm, nằm trong vùng lõi khu danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Na Hang – Lâm Bình.

Lối quen thuộc bắt đầu từ bến thủy của xã Thượng Lâm: hơn 30 phút đi thuyền trên lòng hồ, rồi khoảng 3 giờ đi bộ ngược dốc qua những dốc đá cao, suối cạn dưới tán rừng nguyên sinh, có đoạn đi qua rừng nghiến cổ thụ. Trên đường bạn gặp thác Khuổi Nhi trước khi tới Nặm Me. Cũng có lối đi thuyền từ phía đập thủy điện Tuyên Quang, qua danh thắng Cọc Vài. Ở chân thác, các nhóm thường tự nướng cá hồ, gà địa phương. Xã Thượng Lâm hiện đưa Nặm Me vào hành trình hai ngày một đêm cùng Cọc Vài Phạ, hang Khuổi Pín, thác Khuổi Nhi, nghỉ đêm tại homestay và sang ngày hôm sau ghé làng văn hóa Nà Tông.

Nặm Me chưa phải khu thác có lối đi, vé và dịch vụ tổ chức sẵn: cổng du lịch tỉnh vẫn viết về thác như một điểm sẽ hấp dẫn "khi được đưa vào khai thác", và chưa có công bố về giờ mở cửa hay giá vé. Đường mòn ven suối khó nhận ra, có đoạn cần dây để bám. Cổng thông tin huyện Lâm Bình cũ khuyên du khách mang đủ vật dụng cần thiết và chuẩn bị thể lực; người từng đi khuyên đi theo tour có người địa phương dẫn đường. Hãy tính trọn một ngày cho chặng thuyền và đi bộ, khởi hành sớm và mang đủ nước.

Thác nằm giữa rừng của khu bảo tồn, nơi có nhiều cây gỗ quý như nghiến, vốn được bảo vệ nghiêm ngặt. Vì vậy hãy đi đúng lối người dẫn đường chỉ, không bẻ cây, và mang rác ra khỏi rừng. Thuê thuyền, người dẫn đường và nghỉ tại homestay của người dân Thượng Lâm (năm 2026 xã có 31 homestay và 10 thuyền du lịch đủ điều kiện) là cách để chuyến đi góp trực tiếp vào thu nhập của cộng đồng quanh hồ.

Nặm Me hợp với người thích đi bộ đường rừng, đủ sức khỏe và sẵn lòng dành một ngày cho một ngọn thác. Nếu đi cùng người lớn tuổi, trẻ nhỏ hoặc chỉ muốn ngắm thác nhẹ nhàng, thác Khuổi Nhi trên cùng lộ trình dễ leo hơn; còn chuyến thuyền trên hồ qua Cọc Vài Phạ đã đủ cho nửa ngày ngắm cảnh Na Hang – Lâm Bình.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi thuyền trên lòng hồ tới lối vào thác
  • Đi bộ xuyên rừng lên các tầng thác
  • Nướng cá hồ, gà địa phương ở chân thác
  • Kết hợp thác Khuổi Nhi trên cùng lộ trình

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • xã Thượng Lâm
  • thác nước
  • Na Hang – Lâm Bình
  • trekking
  • Lâm Bình cũ

Không gian di sản

Cột cờ Lũng Cú

Cột cờ cao 34,85 m trên đỉnh núi Rồng ở xã Lũng Cú, treo lá cờ 54 m²; di tích quốc gia nơi địa đầu phía bắc.

Lũng Cú, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cột cờ Quốc gia Lũng Cú đứng trên đỉnh núi Rồng (Long Sơn) ở xã Lũng Cú, cách phố cổ Đồng Văn khoảng 24 đến 26 km về phía bắc, ở độ cao khoảng 1.470 m. Cần nói rõ ngay: cột cờ không phải điểm cực Bắc. Điểm cực Bắc là một mỏm đá bên sông Nho Quế ở thôn Séo Lủng, cách cột cờ khoảng 3,3 km đường chim bay.

Theo báo chí dẫn truyền thuyết và sử sách, nơi đây có cột cờ từ thời Lý. Năm 1978, Đồn Công an nhân dân vũ trang Lũng Cú (nay là Đồn Biên phòng Lũng Cú) dựng cột bằng cây sa mộc; năm 2000 xây cột bê tông. Cột hiện nay khởi công tháng 3/2010, khánh thành ngày 25/9/2010, xây theo mô hình Cột cờ Hà Nội, cao 34,85 m, thân bát giác gắn 8 mặt trống đồng và 8 phù điêu đá. Lá cờ rộng 54 m², tượng trưng 54 dân tộc, được thay 7 đến 10 ngày một lần vì gió mạnh. Cột cờ là di tích quốc gia, xếp hạng ngày 18/11/2009.

Đường lên có 839 bậc: 425 bậc đá từ chân núi lên nhà chờ, 279 bậc đá lên chân cột và 135 bậc thép xoắn ốc trong lòng cột. Bạn có thể đi xe điện lên nhà chờ rồi leo tiếp. Từ đỉnh cột nhìn xuống làng Lô Lô Chải, làng Thèn Pả và vùng biên giới. Dưới chân cột có nhà trưng bày hiện vật của đồng bào. Làng Lô Lô Chải cách cột cờ khoảng 1 km, có homestay, có thể thử nhuộm chàm, vẽ sáp ong.

Phí tham quan theo Nghị quyết 39/2025/NQ-HĐND của tỉnh, áp dụng từ 01/01/2026, là 40.000 đồng một lượt người lớn; trẻ em dưới 6 tuổi được miễn, trẻ em lớn hơn được giảm 50%. Giá vé xe điện chưa có công bố chính thức. Mức phí có thể thay đổi, nên hỏi lại tại chỗ.

Mặt hạn chế: đường từ Đồng Văn sang Lũng Cú có đoạn đá dăm, cua dốc, ổ gà, đi mất khoảng một tiếng rưỡi. Đoạn cuối lên cột cờ dốc, hẹp, bãi đỗ nhỏ; dịp cao điểm chính quyền từng cấm xe chở khách, khách phải đi xe điện hoặc đi bộ. Ngày 2/1/2026 nhiều đoàn phải bỏ điểm này vì không mua được vé xe điện. Mùa mưa cột cờ hay bị mây mù che, mùa khô có gió rét, sương muối, có lúc băng tuyết.

Xã Lũng Cú nằm trong danh sách xã khu vực biên giới đất liền theo Nghị định 299/2025/NĐ-CP. Công dân Việt Nam cần mang thẻ căn cước. Khách nước ngoài nên hỏi đơn vị lữ hành hoặc Công an tỉnh về giấy tờ. Nếu muốn xuống mỏm đá cực Bắc, đường mòn gần mốc 428 mất khoảng 2 giờ; nên hỏi Đồn Biên phòng Lũng Cú trước khi đi.

Cột cờ là biểu tượng chủ quyền do Đồn Biên phòng Lũng Cú bảo vệ. Ăn mặc, đi lại nghiêm túc khi lên đỉnh, không trèo lên lan can hay chân cột. Làng Lô Lô Chải và Thèn Pả là nơi người Lô Lô, người Mông đang sống, hỏi trước khi chụp ảnh người và vào nhà.

Lũng Cú hợp với người muốn đứng ở nơi địa đầu, leo bậc được và có thể ngủ lại ở Đồng Văn hoặc làng Lô Lô Chải. Nếu bạn không leo được nhiều bậc và chỉ muốn ngắm núi, Cổng trời Quản Bạ trên Quốc lộ 4C là điểm dừng ven đường nhẹ hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Leo 839 bậc lên đỉnh cột cờ
  • Đi xe điện lên nhà chờ
  • Xem nhà trưng bày dưới chân cột
  • Thăm làng Lô Lô Chải, Thèn Pả

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • cột cờ
  • núi Rồng
  • biên giới
  • Lũng Cú
  • Cao nguyên đá Đồng Văn

Không gian di sản

Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc

Chùa dựng năm 1107 thời Lý ở Yên Nguyên, nơi giữ tấm bia đá đặt trên lưng rùa là Bảo vật quốc gia

Yên Nguyên, Tuyên Quang

Câu chuyện

Ở phía tây nam vùng Chiêm Hóa cũ, trên một gò đồi cao ráo thuộc thôn Bảo Ninh, xã Yên Nguyên, chùa Bảo Ninh Sùng Phúc giữ một tấm bia đá xanh đặt trên lưng rùa đá. Trán bia khắc sáu chữ lớn "Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi", nghĩa là bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Theo văn bia, chùa được khởi dựng vào cuối mùa xuân năm Đinh Hợi, niên hiệu Long Phù Nguyên Hóa đời vua Lý Nhân Tông, tức năm 1107, và được coi là ngôi chùa cổ nhất hiện còn ở Tuyên Quang.

Điều làm nên giá trị của nơi này là tấm bia. Bia cao 1,39 m, tạc từ một khối đá xanh nguyên, khắc kín 25 dòng với 1.130 chữ Hán do Lý Thừa Ân, một văn thần thời Lý, soạn. Ngoài phần giáo lý nhà Phật, văn bia kể về dòng họ Hà đã 15 đời làm châu mục châu Vị Long, vùng Chiêm Hóa ngày nay, có người được kết làm em vua và kết duyên với công chúa nhà Lý. Vì thế các nhà nghiên cứu coi tấm bia là tư liệu quý về cách triều Lý gắn kết các thủ lĩnh miền núi với triều đình. Bia là tài liệu thành văn cổ nhất tìm được trên đất Tuyên Quang, đã được công nhận là Bảo vật quốc gia; ngày 29/12/2023, chùa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia.

Ngôi chùa thời Lý từng đổ nát hoàn toàn. Năm 1961, người dân phát hiện tấm bia dưới chân núi Đan Hán; các nhà nghiên cứu sau đó thống nhất đưa bia về chùa lưu giữ, và huyện Chiêm Hóa phục dựng lại ngôi chùa làm nơi trưng bày. Bạn đi lên chùa chính qua những bậc thềm lát gạch đỏ đã phủ rêu, giữa cây cổ thụ, cây ăn trái và vườn rau. Hãy dành thời gian đứng trước bia để xem đôi rồng chầu và hoa văn mây trên trán bia, rồi đọc tấm bia mới dựng bên cạnh, nơi toàn bộ văn bia đã được dịch ra chữ quốc ngữ.

Cũng cần biết trước rằng công trình bạn thấy hôm nay là chùa phục dựng. Dấu vết của ngôi chùa thời Lý chỉ còn ở nền chùa xưa và những hiện vật khảo cổ như gạch lát, tháp đất nung. Đây là chùa làng giữa vùng nông thôn, ít dịch vụ cho khách, và các nguồn chính thức chưa công bố giờ mở cửa cập nhật. Dịp ngày 8 tháng Tư âm lịch, xã Yên Nguyên tổ chức lễ hội chùa gắn với Đại lễ Phật đản, với lễ cúng Phật, tắm Phật, thả chim bồ câu phóng sinh, rồi văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian.

Chùa đang là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương, và tấm bia là bảo vật quốc gia đang được bảo vệ, có camera giám sát. Bạn nên mặc trang phục kín đáo, giữ yên lặng trong chính điện và chỉ ngắm bia, không chạm tay lên mặt chữ hay lưng rùa.

Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc hợp với người mê lịch sử, chữ Hán Nôm và mỹ thuật thời Lý, hoặc muốn ghép một điểm văn hóa vào chuyến đi thác Lụa cách đó khoảng 6 km. Nếu bạn tìm một ngôi chùa cổ còn nguyên kiến trúc gỗ xưa, nơi này sẽ không đáp ứng; giá trị của nó nằm ở tấm bia và câu chuyện mà văn bia kể lại.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chùa, dâng hương
  • Xem bia đá thời Lý đặt trên lưng rùa đá
  • Đọc bản dịch quốc ngữ của văn bia
  • Dự lễ hội chùa dịp 8 tháng Tư âm lịch

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • xã Yên Nguyên
  • Chiêm Hóa
  • chùa cổ thời Lý
  • bảo vật quốc gia
  • văn bia Hán Nôm
  • di tích quốc gia

Không gian di sản

Khu di tích lịch sử Cách mạng Lào tại thôn Ngòi

Nơi Hoàng thân Xuphanuvông và đoàn cán bộ cách mạng Lào ở, làm việc 1950–1951, giữa Làng Ngòi và hang Đá Bàn

Mỹ Lâm, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cách trung tâm thành phố Tuyên Quang hơn 20 km về phía tây, trên hai quả đồi Gò Tre và đồi Tơ ở Làng Ngòi, phường Mỹ Lâm, từng có một doanh trại dựng dưới tán rừng già bằng tre, nứa của địa phương. Từ tháng 6 năm 1950 đến giữa năm 1951, đây là nơi Hoàng thân Xuphanuvông, đồng chí Cayxỏn Phômvihản cùng đoàn cán bộ, bộ đội cách mạng Lào ở và làm việc, trong vòng bảo vệ của đại đội Chămpa Sắc và du kích xã Mỹ Bằng.

Vùng đất này được chọn vì nằm ở ngã ba giáp ranh Tuyên Quang, Yên Bái, Phú Thọ, từ đó đi đường bộ tới thị xã Tuyên Quang hay các vùng an toàn khu Sơn Dương, Chiêm Hóa đều thuận. Từ ngày 13 đến 15 tháng 8 năm 1950, tại gò Tre, xóm Thổ, hơn 100 đại biểu các bộ tộc Lào dự Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Ítxala; Đại hội bầu Hoàng thân Xuphanuvông làm Thủ tướng Chính phủ Liên hiệp kháng chiến Lào và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận, đồng chí Cayxỏn Phômvihản làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cuối năm ấy, để giữ bí mật, đoàn chuyển vào một hang đá thông hai đầu ở khe núi Nhọn, chân núi Là, thôn Đá Bàn. Cuối tháng 12 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Hang Bòng ở Tân Trào sang Đá Bàn làm việc với lãnh đạo cách mạng Lào; Tết Tân Mão 1951, đoàn ăn Tết cùng bà con người Dao Quần trắng trong thôn.

Khu di tích ngày nay chia làm hai cụm. Ở Làng Ngòi có nhà ở, làm việc của Hoàng thân được phục hồi, nhà bia tổng thể, các bia sự kiện và đường nội bộ, hoàn thành trong dự án tôn tạo khánh thành ngày 6/9/2014. Ở Đá Bàn, bạn đi lên sườn núi, cách khu dân cư khoảng 600 m, tới hang đá và tấm bia khắc song ngữ Việt – Lào đánh dấu nơi ở của Hoàng thân từ cuối năm 1950 đến giữa năm 1951. Cổng du lịch của tỉnh gợi ý dành khoảng hai tiếng cho cả hai cụm.

Nên hình dung đúng trước khi đi: lán trại năm 1950 làm bằng vật liệu tạm, những gì bạn thấy hôm nay là công trình phục hồi và bia đánh dấu, không có khu trưng bày hiện vật lớn. Đoạn lên Đá Bàn là lối đi sườn núi trong rừng. Giờ mở cửa và mức vé chưa được công bố rõ trên kênh chính thức sau khi tỉnh áp dụng quy định phí tham quan mới từ năm 2026.

Đây là nơi ghi dấu quan hệ hai nước và vẫn đón các đoàn đại biểu Lào về thăm, nên bạn giữ không gian trang nghiêm ở nhà bia và gọi đúng danh xưng các nhân vật như trên bia. Đá Bàn là thôn của người Dao đang sinh sống, hãy hỏi ý trước khi chụp ảnh người dân hay nhà riêng.

Khu di tích hợp với người tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam – Lào, các đoàn về nguồn và du khách Lào muốn thăm nơi các nhà lãnh đạo của họ từng ở. Gần đó trong thôn có Khu tưởng niệm Bác Hồ và Nhà văn hóa thôn Ngòi. Nếu bạn muốn xem một quần thể lán, hầm kháng chiến quy mô lớn hơn, Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Thăm nhà bia và bia sự kiện ở cụm Làng Ngòi
  • Xem nhà ở, làm việc của Hoàng thân được phục hồi
  • Đi bộ lên hang Đá Bàn đọc bia song ngữ Việt – Lào
  • Ghé Khu tưởng niệm Bác Hồ trong thôn Ngòi

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • Mỹ Lâm
  • Mỹ Bằng
  • di tích cách mạng
  • quan hệ Việt Nam – Lào
  • Hoàng thân Xuphanuvông
  • du lịch về nguồn

Chợ địa phương

Chợ Đồng Văn

Phiên chợ sáng Chủ nhật của người Mông, Lô Lô, Dao, Tày giữa trung tâm Đồng Văn, sát phố cổ

Đồng Văn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Sáng Chủ nhật, khi trời còn mờ, các ngả đường dẫn vào trung tâm xã Đồng Văn trên cao nguyên đá đã có người gùi hàng xuống chợ. Phiên chợ Đồng Văn họp mỗi tuần một lần, từ khoảng 5 giờ sáng đến 1 giờ trưa, và là nơi bà con Mông, Lô Lô, Dao, Tày, Nùng, Giáy từ các thôn bản quanh vùng mang nông sản, gia súc, đồ thủ công tự làm ra mua bán, trao đổi. Nhà ở xa hàng chục cây số, nhiều người lên đường từ chiều thứ Bảy. Người vùng cao không nói đi chợ, mà nói xuống chợ.

Ở Đồng Văn có hai cái chợ, và biết điều này giúp bạn đi đúng chỗ. Chợ cổ nằm giữa phố cổ: ba dãy nhà xếp hình chữ U, chân cột bằng đá xanh được thợ Tứ Xuyên đẽo và chạm hoa văn, mái ngói âm dương, được xây trong khoảng 1925 đến 1928. Để giữ công trình này, chính quyền huyện Đồng Văn cũ đã dời phiên chợ sang khu chợ mới mái tôn, rộng hơn, cách đó vài trăm mét, còn chợ cổ được dành cho dịch vụ du lịch. Phiên Chủ nhật bạn tìm là ở chợ mới; chợ cổ để ngắm kiến trúc khi dạo phố.

Trong phiên chợ, gian nông cụ với dao, liềm bày dưới đất luôn có người đứng chọn; thổ cẩm và trang phục dệt tay nằm cạnh những sạp quần áo may sẵn đủ màu; có lúc bà con trình diễn nghề thủ công ngay giữa chợ; cuối chợ là khu mua bán gia súc. Khu hàng ăn có những chảo phở, bún rất to, thắng cố, xôi ngũ sắc, mèn mén, bánh màn thầu của người Hoa và rượu ngô; người bán thường mời khách nếm thử dù mua hay không. Muốn mang về thì có mật ong bạc hà, chè shan tuyết, táo mèo, tam thất. Theo Báo Văn hóa, vào ngày giữa tháng chợ còn có các chương trình giao lưu văn hóa như thi chọi chim, trưng bày dệt thổ cẩm.

Cần biết trước khi đi: chợ chỉ họp sáng Chủ nhật, ngày thường không có phiên, nên muốn kịp không khí đầu phiên bạn phải ngủ lại Đồng Văn từ tối thứ Bảy. Đây là chợ dân sinh, hàng hóa chủ yếu phục vụ đời sống của bà con, và khu chợ mới là nhà mái tôn chứ không phải công trình cổ. Đường lên khá xa, gần 300 km từ trung tâm tỉnh; từ cột cờ Lũng Cú về trung tâm Đồng Văn khoảng 35 km.

Với bà con, phiên chợ còn là dịp gặp người thân, bạn bè sau một tuần làm nương, nên cả gia đình thường đi cùng nhau và ở lại gần hết buổi. Hãy hỏi trước khi chụp ảnh ai đó, nhất là người già và trẻ nhỏ, nhường lối cho người đang gùi hàng, và đứng cách xa một chút ở khu gia súc. Mua thổ cẩm hay đặc sản trực tiếp từ người làm ra là cách để tiền đi thẳng về gia đình họ.

Chợ Đồng Văn hợp với người muốn thấy đời sống thường ngày của các cộng đồng trên cao nguyên đá, sẵn sàng dậy sớm và đi bộ len giữa các sạp. Nếu bạn chỉ có ngày thường ở Đồng Văn, hoặc tìm một khu mua sắm quà lưu niệm gọn gàng, hãy dạo phố cổ và chợ cổ thay vì chờ phiên.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi chợ phiên sáng Chủ nhật
  • Mua thổ cẩm, trang phục dân tộc dệt tay
  • Xem gian nông cụ và khu mua bán gia súc
  • Ăn thắng cố, xôi ngũ sắc, mèn mén ở khu hàng ăn
  • Mua mật ong bạc hà, chè shan tuyết, táo mèo
  • Xem bà con trình diễn nghề thủ công

Từ khóa

  • Chợ địa phương
  • Tuyên Quang
  • xã Đồng Văn
  • chợ phiên Chủ nhật
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • thổ cẩm
  • thắng cố
  • phố cổ Đồng Văn

Không gian di sản

Cổng trời Quản Bạ – núi đôi Cô Tiên

Điểm dừng chân trên quốc lộ 4C nhìn xuống thung lũng Quản Bạ và Núi Đôi, là hai quả núi tròn giữa ruộng lúa được xếp hạng danh thắng quốc gia.

Quản Bạ, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ cột mốc Km0 ở khu Hà Giang cũ, đi Quốc lộ 4C lên phía bắc khoảng 40 km là tới Cổng trời Quản Bạ, chặng dừng đầu tiên trên đường lên cao nguyên đá Đồng Văn. Đây là điểm dừng chân ven quốc lộ có Trạm thông tin Cổng trời, nhìn xuống thung lũng Quản Bạ, ruộng lúa và Núi Đôi. Trang giới thiệu Công viên địa chất của UNESCO cũng nêu Cổng trời Quản Bạ là điểm ngắm toàn cảnh.

Cần phân biệt hai thứ: danh lam thắng cảnh quốc gia là Núi Đôi (còn gọi núi Cô Tiên), không phải Cổng trời. Núi Đôi ở thôn Nà Khoang, xã Quản Bạ, cách Km0 khoảng 46 km, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng theo Quyết định 4196/QĐ-BVHTTDL ngày 16/11/2009; cổng thông tin tỉnh và báo chí ghi năm công nhận 2010.

Theo trang thông tin của xã, Núi Đôi gồm hai chóp tròn hình bát úp, rộng gần 3,6 ha, chu vi 995,6 m, cấu tạo đá dolomit, là một dạng cảnh quan karst của Công viên địa chất. Bên trái có ba chóp núi nhọn xếp hình tam giác, gốc của tên Tam Sơn. Tương truyền núi gắn với chuyện nàng tiên và chàng trai Mông thổi đàn môi; một dị bản kể chàng khổng lồ gánh núi ngăn sông.

Cách đi phổ biến là dừng ở Cổng trời để nhìn toàn cảnh, rồi xuống thung lũng để thấy Núi Đôi ở gần giữa ruộng, có nhà trình tường và nhà sàn xung quanh. Từ Cổng trời cũng nhìn thấy hồ Nặm Đăm của thôn homestay người Dao. Trong 8 tháng đầu năm 2025, Trạm thông tin Cổng trời đón gần 99.000 lượt khách.

Màu núi đổi theo mùa: lúa dưới chân núi bắt đầu chín vàng từ cuối tháng 8 sang thu, đầu năm có hoa đào, mai anh đào ở trung tâm xã. Mùa đông Cổng trời hay có mây mù, có ngày không nhìn thấy thung lũng.

Cần biết trước: chưa có công bố chính thức về phí hay giờ mở Trạm thông tin. Tháng 3/2026 tỉnh khảo sát quy hoạch lại khu Cổng trời, nên điểm dừng, bãi đỗ có thể thay đổi. Đoạn Quốc lộ 4C gần Cổng trời từng sạt lở (Km 43, tháng 6/2018), nên theo dõi thời tiết mùa mưa và dừng xe đúng chỗ, không đứng ở mép đường đèo. Tháng 2/2026 một dù lượn gắn động cơ đang bay tập rơi xuống quốc lộ ở xã Quản Bạ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết hoạt động này chưa phục vụ khách, nên đừng mua dịch vụ bay ở đây.

Núi Đôi nằm giữa ruộng lúa của người dân. Đi theo lối có sẵn, không giẫm lên ruộng khi xuống chụp gần. Năm 2013 địa phương từng làm bồn hoa, xếp chữ giữa hai núi và bị báo chí, Sở Văn hóa phản đối vì làm thay đổi cảnh quan.

Điểm này hợp với chặng dừng 30 phút đến một giờ trên đường lên Đồng Văn, người thích chụp cảnh ruộng theo mùa. Nếu bạn muốn nhìn hẻm vực và dòng sông thay vì thung lũng ruộng, đèo Mã Pí Lèng ở phía bắc Đồng Văn là lựa chọn khác trên cùng tuyến.

Có gì để trải nghiệm

  • Dừng chân ngắm toàn cảnh thung lũng Quản Bạ
  • Chụp ảnh Núi Đôi
  • Kết hợp động Lùng Khúy, làng Nặm Đăm

Từ khóa

  • danh thắng quốc gia
  • Núi Đôi
  • Cổng trời
  • quốc lộ 4C
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • Quản Bạ

Không gian di sản

Đền Thác Cái

Đền thờ Mẫu bên quốc lộ 2, trông ra ghềnh Thác Cái mà Dư địa chí gọi là Tiên Thiềm Mẫu Tử

Yên Phú, Tuyên Quang

Câu chuyện

Trên quốc lộ 2 hướng lên Hà Giang, qua đất Hàm Yên cũ, đền Thác Cái nằm ở xã Yên Phú, dưới chân núi Đền, mặt trước hướng ra sông Lô. Ngay trước cửa đền, một khu đá thác lớn chắn ngang dòng sông, quanh năm nước réo; ngôi đền thờ Mẫu này mang tên chính ghềnh thác ấy, và lúc mới dựng nó còn nằm ven sông Lô trước khi được dời về chân núi như hôm nay.

Ghềnh Thác Cái đã có tên trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi từ thế kỷ XV: Tiên Thiềm Mẫu Tử, tức Cóc Mẹ Cóc Con, ám chỉ những tảng đá mấp mô giữa dòng; những chỗ nước réo quanh đó được gọi là Hý Tượng cảng (Thác Voi Rống) và Tẩu Mã cảng (Thác Ngựa Phi). Tấm văn bia cổ của điện thờ cũ khắc dòng chữ Hán “Đại Than thủy khẩu, cảm ứng Long Mẫu nương nương thần vị”, đại ý ghềnh đá lớn cửa sông cảm ứng các vị Thần Mẫu. Theo tục tế lễ của người dân ven sông, Long Mẫu là vị thần tối thượng, trong lời khấn Nôm gọi là Bà chúa Thượng ngàn hay Chúa Bà, kèm hai vị Nương Thần mà theo truyền thuyết là Ngọc Lân và Phương Dung công chúa, cũng là hai vị được thờ ở đền Hạ, đền Thượng của thành Tuyên. Ngày nay đền được giới thiệu là nơi thờ Thánh Mẫu Thoải, vị Mẫu chủ về nguồn nước, cùng Chúa bà Thác Cái và Đức Thánh Trần; dân gian còn gọi Long Mẫu ở đây là Tổ Mẫu, tương truyền là người sinh Lạc Long Quân.

Đến đền, bạn viếng tòa đền chính dựng theo kiểu chữ Đinh, tường hồi bít đốc, thân đền bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, nền lát đá xanh, cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản. Gần đền có cây Sui được báo tỉnh ghi là trên 500 tuổi, cùng ngôi đền soi bóng xuống sông Lô. Đền là di tích kiến trúc nghệ thuật được Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang xếp hạng năm 2008.

Cần biết trước rằng tòa đền chính bạn thấy là công trình mới, xây lại bằng vật liệu truyền thống và hoàn thành cuối tháng 2/2024; trước đó đền đã được dựng lại một lần năm 2004 khi quốc lộ 2 được nâng cấp. Đền nằm ngay ven quốc lộ, vì vậy hãy dừng đỗ xe ở chỗ an toàn, tránh đứng sát mép đường.

Đền Thác Cái là nơi thờ tự đang hoạt động. Lễ đền diễn ra ngày 14 tháng Bảy âm lịch hằng năm; dịp đầu xuân, đền đón khách cùng mùa lễ hội Động Tiên, Chợ quê Hàm Yên và lễ hội chọi trâu Hàm Yên. Ăn mặc kín đáo khi vào điện và hỏi người trông đền trước khi chụp ảnh bên trong.

Đền Thác Cái hợp với người đi tuyến quốc lộ 2 giữa Tuyên Quang và Hà Giang muốn dừng chân ở một ngôi đền gắn với ghềnh thác sông Lô, và dễ ghép với Động Tiên cách khoảng 5 km hay vùng cam sành Hàm Yên. Nếu bạn tìm một quần thể đền cổ có lễ hội rước Mẫu quy mô lớn, các đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La ở trung tâm tỉnh lỵ sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng đền, dâng hương
  • Ngắm ghềnh Thác Cái trên sông Lô trước cửa đền
  • Xem cây Sui cổ thụ gần đền
  • Dự lễ đền ngày 14 tháng Bảy âm lịch
  • Ghép tham quan Động Tiên cách khoảng 5 km

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • xã Yên Phú
  • Hàm Yên
  • đền thờ Mẫu
  • sông Lô
  • ghềnh Thác Cái
  • di tích cấp tỉnh

Không gian di sản

Khu du lịch sinh thái Na Hang – Lâm Bình

Lòng hồ thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm giữa núi đá vôi; đi thuyền tới cột đá Cọc Vài và thác Khuổi Nhi ở Thượng Lâm.

Tuyên Quang

Câu chuyện

Vùng hồ Na Hang - Lâm Bình là lòng hồ thủy điện Tuyên Quang trên sông Gâm, cách trung tâm tỉnh (TP Tuyên Quang cũ) hơn 100 km đường bộ, trải qua hai huyện Na Hang và Lâm Bình cũ. Tên xếp hạng của vùng này là danh lam thắng cảnh Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình, di tích quốc gia đặc biệt từ năm 2018. Cách gọi "khu du lịch sinh thái" là tên thông dụng; tỉnh mới đặt mục tiêu trình quy hoạch khu du lịch vào năm 2027.

Hồ nằm giữa các dãy núi đá vôi; riêng xã Thượng Lâm có hơn 4.000 ha mặt nước. Hai điểm được nhắc nhiều nhất đều ở xã Thượng Lâm: Cọc Vài (Vài Phạ), cột đá tự nhiên cao khoảng 50 m giữa lòng hồ, tên tiếng Tày nghĩa là cọc buộc trâu của chàng khổng lồ Tài Ngào trong truyền thuyết; và thác Khuổi Nhi nhiều tầng, chỉ đến được bằng thuyền.

Cách đi phổ biến là xuống thuyền ở bến Na Hang (gần đập thủy điện) hoặc bến Thượng Lâm. Thuyền đi qua đền Pác Tạ, thác Mơ, Cọc Vài, động Song Long tới Khuổi Nhi, khoảng 1 giờ từ mỗi bến. Ở Khuổi Nhi bạn leo thác, tắm thác, cắm trại; quanh Cọc Vài có kayak. Buổi tối nghỉ ở homestay nhà sàn tại Thượng Lâm, nơi có hát Then, đàn tính.

Từ 01/01/2026, phí tham quan Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Lâm Bình là 50.000 đồng/lượt/người theo nghị quyết của tỉnh; tiền thuê thuyền tính riêng và chưa có bảng giá chính thức, nên hỏi tại bến. Chuyến đi hợp nhất khi có 1 - 2 ngày.

Hạn chế cần biết: đường bộ xa, dịch vụ trên hồ phụ thuộc thuyền của các hộ và đơn vị địa phương, và theo cổng thông tin tỉnh năm 2026, biển cảnh báo, áo phao, lan can, quy trình cứu hộ và kỹ năng người lái thuyền vẫn đang cần được chuẩn hóa.

An toàn: mặc áo phao suốt khi ngồi thuyền, không đùa nghịch khi thuyền chạy. Leo Khuổi Nhi cần giày đế chống trơn; đường lên thác có nhiều chỗ chỉ là vết đục vào đá, nước chảy qua; đoạn băng suối lên đỉnh thác nước không sâu nhưng chảy xiết, đi chậm và bám tay vịn.

Cọc Vài là nơi người Tày coi là linh thiêng; khi thuyền dừng, giữ ý tứ, không trèo lên đá hay ném đồ xuống nước. Ở Lâm Bình cũ còn có cộng đồng người Pà Thẻn (thôn Thượng Minh, xã Hồng Quang cũ, nay xã Minh Quang); nghi lễ nhảy lửa của họ theo truyền thống diễn ra từ tháng 10 âm lịch đến tháng Giêng, có dịp được tái hiện cho khách. Xem khi có chương trình công khai, không tự ý vào lễ trong nhà hay trong bản.

Vùng hồ hợp với người thích đi thuyền, tắm thác, ở nhà sàn một hai đêm. Không hợp với người chỉ có nửa ngày hoặc ngại đường xa. Nếu muốn so sánh với một hồ khác giữa núi đá vôi ở vùng Việt Bắc, hồ Ba Bể (Thái Nguyên) là lựa chọn nên tìm hiểu.

Có gì để trải nghiệm

  • Du thuyền lòng hồ
  • Leo, tắm thác Khuổi Nhi
  • Chèo kayak quanh Cọc Vài
  • Lưu trú homestay nhà sàn Tày ở Thượng Lâm
  • Nghe hát Then, đàn tính

Từ khóa

  • di tích quốc gia đặc biệt
  • hồ thủy điện
  • sông Gâm
  • Cọc Vài
  • thác Khuổi Nhi
  • Thượng Lâm

Không gian di sản

Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào

"Thủ đô Khu giải phóng" năm 1945: lán Nà Nưa, cây đa và đình Tân Trào gắn với những ngày trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám.

Tân Trào, Tuyên Quang

Câu chuyện

Khu di tích Tân Trào có cụm chính ở thôn Tân Lập, xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang (trước đây thuộc huyện Sơn Dương); trung tâm tỉnh cách Hà Nội khoảng 125 km theo đường cao tốc. Năm 1945, vùng này là "Thủ đô Khu giải phóng", nơi chuẩn bị những quyết định cuối cùng trước Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Tân Trào là di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012, trong đợt xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đầu tiên.

Ngày 21/5/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pác Bó về tới Tân Trào, dừng chân đầu tiên ở đình Hồng Thái. Từ cuối tháng 5 đến tháng 8/1945, Người ở và làm việc tại lán Nà Nưa, hồ sơ xếp hạng ghi là lán Nà Lừa, bên sườn núi. Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại cụm lán ngày 13 - 15/8/1945; Quốc dân Đại hội họp ở đình Tân Trào ngày 16 - 17/8/1945. Chiều 16/8/1945, dưới cây đa Tân Trào, Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số 1 và Giải phóng quân làm lễ xuất quân.

Theo tuyến của ban quản lý, bạn đi từ khu tưởng niệm các vị tiền bối, lên lán Nà Nưa, xuống cây đa, qua làng Tân Lập, tới đình Tân Trào rồi đình Hồng Thái; đi xa hơn có lán Hang Bòng và ATK Kim Quan. Đình Tân Trào dựng năm 1923, kiểu nhà sàn, cột gỗ, mái lá cọ. Cây đa hôm nay không còn như năm 1945: cây "đa ông" đổ năm 1993 do bão, phần thân chính cây còn lại đã chết và được bọc, chống đỡ để giữ, phần cành còn sống vẫn được chăm sóc. Trên hồ Nà Nưa có bè mảng nghe hát Then, cần đặt trước.

Khu di tích trải rộng trên nhiều xã, nên muốn đi hết các điểm chính cần khoảng 4 - 6 giờ; phần lớn khách đi trong ngày. Dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám (16 - 17/8) khu di tích đông nhất năm.

Vé 40.000 đồng/lượt/người từ 01/01/2026, thu một lần cho các điểm trong khu; trẻ dưới 6 tuổi và một số đối tượng được miễn, trẻ em, học sinh, sinh viên, người cao tuổi được giảm 50% khi xuất trình giấy tờ. Giờ mở cửa mùa hè 7h00 - 17h00, mùa đông 7h30 - 17h00, cả ngày lễ, Tết. Điện thoại Bảo tàng ATK Tân Trào: 0207 6566 866. Nên hỏi lại trước khi đi vì giá và giờ có thể thay đổi.

Đây là nơi tưởng niệm. Ăn mặc lịch sự, giữ yên lặng ở lán, đình và khu tưởng niệm, không trèo lên gốc đa hay bia đá, không bước qua dây chắn. Làng Tân Lập là nơi người dân đang sống, xin phép trước khi vào nhà; hát Then trên hồ là chương trình biểu diễn cho khách, khác với Then trong nghi lễ của gia đình người Tày.

Tân Trào hợp với người muốn hiểu những ngày trước Cách mạng Tháng Tám tại chính nơi diễn ra, đi cùng người thuyết minh. Nếu muốn so sánh với một an toàn khu khác, ATK Định Hóa (Thái Nguyên) là lựa chọn nên tìm hiểu.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan lán Nà Nưa, cây đa, đình Tân Trào, đình Hồng Thái
  • Đi bè mảng nghe hát Then trên hồ Nà Nưa (đặt trước)
  • Tham quan làng Tân Lập
  • Trekking núi Hồng

Từ khóa

  • di tích quốc gia đặc biệt
  • lịch sử cách mạng
  • lán Nà Nưa
  • cây đa Tân Trào
  • đình Tân Trào
  • Tuyên Quang

Thiên nhiên & Mùa

Đồi chè Mỹ Bằng

Vùng đồi bát úp phủ chè dọc Quốc lộ 37, đất nông trường cũ nay do hộ công nhân nhận khoán chăm sóc

Mỹ Lâm, Tuyên Quang

Câu chuyện

Theo Quốc lộ 37 từ thành phố Tuyên Quang về phía Yên Bái, qua khu suối khoáng Mỹ Lâm chừng 5 km, dọc quốc lộ hiện ra những quả đồi tròn phủ kín chè. Đó là đồi chè Mỹ Bằng, vùng chè mà báo chí và ngành du lịch tỉnh quen gọi là đồi chè “vạn người mê”. Vùng đồi trải trên đất xã Mỹ Bằng và phường Mỹ Lâm cũ, nay cùng thuộc phường Mỹ Lâm, phía tây là dãy núi Là.

Đây là vùng chè sản xuất chứ không phải một khu du lịch dựng sẵn. Mỹ Bằng có địa hình đồi bát úp, khí hậu nhiệt đới ẩm, nền đất cát pha; đầu năm 2025 xã cũ có khoảng 570 ha chè, diện tích lớn nhất tỉnh. Những luống chè uốn quanh sườn đồi như ruộng bậc thang là công sức hàng chục năm: người Kinh từ miền xuôi lên lập nông trường chè, sống xen với người Cao Lan, Tày, Dao vốn ở dưới chân núi Là. Đất nông trường nay được chia khoán cho các hộ công nhân chăm sóc và thu hoạch trong 50 năm, mỗi hộ dưới 1 ha, nên các sườn đồi bạn đi qua được chia thành phần việc của từng gia đình. Búp chè ở đây làm cả chè xanh lẫn chè đen.

Phần lớn khách dừng xe ven quốc lộ rồi đi bộ một đoạn vào giữa các luống chè để ngắm và chụp ảnh. Ban Quản lý các khu du lịch tỉnh cho biết đồi chè đẹp hơn lúc bình minh và hoàng hôn. Từ khoảng đầu tháng 5, đồi chè vào vụ thu hoạch, mỗi lứa cách nhau chừng 45 ngày. Chè được cắt bằng máy, mỗi máy có năm người đi kèm và một người vác bao chè về điểm tập kết. Vài năm gần đây, người dân trồng thêm bằng lăng, phong linh, hoa ban xen giữa đồi để khách chụp ảnh. Nếu gặp hộ làm chè sẵn lòng đón khách, bạn có thể hái thử búp chè, uống chè nóng, nghe chuyện làm chè và mua chè xanh, chè đen mang về.

Bạn nên biết trước rằng chưa có đơn vị nào quản lý đồi chè như một điểm tham quan: chưa có vé, giờ mở cửa, lối đi hay bãi đỗ xe được công bố. Các trải nghiệm hái chè, thưởng trà đều tùy hộ làm chè, không có lịch cố định. Giữa những ngày hè nắng gắt, trên đồi ít bóng mát; mùa thu hoạch có máy cắt và xe chở chè đi lại trên các lối nhỏ.

Đồi chè là ruộng chè của hộ dân. Bạn hãy đi theo lối có sẵn giữa các luống, không giẫm lên gốc chè, nhường lối cho người đang làm việc, và hỏi chủ đồi trước khi vào sâu trong luống, hái búp chè hay chụp ảnh người hái chè.

Đồi chè Mỹ Bằng hợp với người đang nghỉ ở khu suối khoáng Mỹ Lâm muốn một chặng ngắn ngắm cảnh, chụp ảnh và xem mùa chè. Bạn có thể ghép thêm Khu di tích lịch sử Cách mạng Lào ở thôn Làng Ngòi ngay gần đó. Nếu bạn tìm một khu đồi chè có dịch vụ trọn gói, tiểu cảnh và lối tham quan tổ chức sẵn, nơi này sẽ không như mong đợi.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm và chụp ảnh đồi chè ven Quốc lộ 37
  • Xem người dân thu hoạch chè vào vụ (từ đầu tháng 5)
  • Hái thử búp chè cùng hộ làm chè (hỏi chủ đồi trước)
  • Mua chè xanh, chè đen của vùng chè Mỹ Bằng

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • phường Mỹ Lâm
  • đồi chè
  • Quốc lộ 37
  • mùa thu hoạch chè
  • chụp ảnh phong cảnh
  • Yên Sơn cũ

Thiên nhiên & Mùa

Hồ Noong

Hồ đất ngập nước dưới chân núi Noong, mặt nước co giãn theo mùa giữa ruộng và bản Tày ở xã Phú Linh

Phú Linh, Tuyên Quang

Câu chuyện

Rời trung tâm Hà Giang cũ chừng 23–25 km, qua những cánh rừng, ruộng bậc thang và bản làng của người Tày, Mông, Dao, bạn tới hồ Noong ở xã Phú Linh, một hồ nước tự nhiên trên dãy Tây Côn Lĩnh, nằm quanh chân núi Noong. Hồ hình thành từ hai đầm lầy Pum Áng và Pum Yệu, nước phần lớn đến từ các hang đá nên trong và mát. Người dân gọi hồ là “con mắt của rừng”, vì mặt nước lấp lánh dưới nắng hay trong đêm trăng.

Hồ Noong là hồ đất ngập nước, nên mỗi mùa là một cảnh khác. Từ tháng 4 đến tháng 10, nước dâng, mặt hồ có thể rộng khoảng 80 ha và đi bè, thuyền được; từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, nước rút còn khoảng 20–30 ha, phần đất khô ven bờ được người dân trồng ngô, lạc, đậu, rau và thả trâu bò. Nhịp nước ấy từng gắn với tập quán của cả vùng: trước kia thôn ven hồ quản lý hồ, người dân chỉ đánh bắt vài ngày khi nước gần cạn, bằng nơm, vó, không dùng lưới. Lời tương truyền còn kể dưới lòng hồ có “mỏ cá”, cứ mưa đầu mùa là cá từ đâu tràn về, gầy mỏng như chiếc lá.

Cách ngắm hồ phổ biến hiện nay là đi dạo quanh bờ hoặc ngồi bè gỗ thả trôi trên mặt nước. Năm 2024, mười hai hộ dân ở hai thôn Noong 1 và Noong 2 tự dựng 14 nhà bè lợp lá cọ và tôn để đón khách; tại đây bạn có thể ăn các món dân tộc và món cá đắng, loài cá từng là thương hiệu, đặc sản của xã Phú Linh. Sáng sớm, khi sương và khói bếp từ những nếp nhà sàn quyện vào chân núi, là lúc nhiều người chọn thuê bè ra hồ.

Bạn nên biết trước rằng hồ hôm nay khác với những bức ảnh rừng cây mọc giữa lòng hồ còn được chia sẻ. Từ giữa những năm 2000, lòng hồ được chia thành các ao nuôi cá và phần lớn cây trong lòng hồ không còn; năm 2019 lòng hồ gần như không còn nước. Đến năm 2024, hồ đã tích nước trở lại và dịch vụ dần quay về, nhưng mực nước vẫn phụ thuộc vào mưa. Hồ chưa có vé, giờ mở cửa hay đơn vị quản lý được công bố; bè và ăn uống do hộ dân tự làm, nên hãy hỏi giá trước khi dùng dịch vụ.

Khi đi bè, hãy hỏi người chèo về mực nước và chỗ nên dừng, nhất là sau những trận mưa lớn. Đất ven hồ là ruộng và bãi chăn thả của người dân, vì vậy hãy đi theo lối có sẵn, không giẫm lên hoa màu, và mang rác về để mặt nước giữ được trong.

Hồ Noong hợp với người đang ở khu vực Hà Giang cũ muốn một chặng thong thả gần thành phố: ngồi bè, ăn cá, nhìn đời sống quanh một hồ nước theo mùa. Nếu bạn tìm một khu du lịch có lối đi và dịch vụ tổ chức sẵn, hoặc đến giữa mùa khô, hồ sẽ không như mong đợi; mùa mưa là lúc nên đến, và có thể ghép với Nghĩa trang quốc gia Vị Xuyên ở gần đó.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bè, thuyền gỗ ngắm cảnh mặt hồ (mùa nước)
  • Đi dạo quanh bờ hồ
  • Ăn món cá đắng và món dân tộc tại nhà bè
  • Trải nghiệm bắt cá cùng người dân ven hồ

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • xã Phú Linh
  • hồ Noong
  • hồ đất ngập nước
  • đi bè
  • cá đắng
  • Tây Côn Lĩnh
  • Vị Xuyên cũ

Thiên nhiên & Mùa

Thác Du Già

Thác Ba Tiên đổ qua nhiều tầng đá dưới tán rừng xã Du Già, "ốc đảo" xanh của Cao nguyên đá Đồng Văn

Du Già, Tuyên Quang

Câu chuyện

Xuôi từ Mèo Vạc về Du Già, triền núi đá xám dần nhường chỗ cho rừng, ruộng ngô, nương lúa và những dòng suối, đến mức Cục Du lịch Quốc gia gọi xã này là "ốc đảo" xanh giữa Cao nguyên đá Đồng Văn. Thác Du Già, còn gọi là thác Ba Tiên, nằm dưới tán rừng ở thôn Thâm Luông của xã. Từ khu vực thành phố Hà Giang cũ vào đến Du Già khoảng 70 km, mất chừng ba giờ đường đèo dốc và những khúc cua chữ M.

Nước bắt nguồn từ các khe suối trên núi, đổ qua nhiều tầng đá rồi tụ thành những hồ tự nhiên dưới chân thác; phía trên dòng thác cũng có những hồ nhỏ nằm giữa các khối đá. Dòng suối nuôi thác được người Tày gọi là Thâm Lương, nghĩa là "hang lớn", một cái tên gắn với dấu tích địa chất của vùng núi đá vôi. Nước giữ mát quanh năm nên đây là chỗ tránh nóng quen thuộc, và theo câu chuyện người dân lưu truyền, tên Ba Tiên gắn với mối tình dang dở giữa một chàng trai nghèo thổi sáo giỏi và cô gái Ba Tiên.

Từ thác, dòng nước chảy tiếp qua bản làng; nhiều khách chọn đi bộ dọc suối để nhìn đời sống thường ngày của người dân. Thác thường nằm trong một đêm nghỉ lại Du Già: năm 2026 xã có khoảng 30 homestay và nhà nghỉ, nhiều nơi cải tạo từ nhà truyền thống, tập trung nhiều nhất ở thôn Cốc Pảng của người Tày. Nếu đến vào thứ Sáu, bạn gặp chợ phiên Du Già với sắc thổ cẩm của người Mông, Dao, Tày, Cao Lan.

Thác chưa được tổ chức như một khu du lịch: năm 2023 nơi này chưa có đơn vị quản lý, và đến nay chưa thấy công bố về vé hay giờ mở cửa. Quanh thác là đá phủ rêu và lối đi ven suối. Từ tháng 7/2023, theo văn bản của huyện Yên Minh cũ, xã Du Già tạm dừng hoạt động tắm tại thác cho đến khi đủ điều kiện khai thác và được cơ quan có thẩm quyền cho phép; chưa thấy thông báo mở lại, nên hãy hỏi UBND xã hoặc nơi bạn lưu trú trước khi xuống nước, và làm theo biển cảnh báo đặt tại thác.

Khu thác có biển nhắc giữ gìn cảnh quan, vì vậy hãy mang rác về. Tháng 9/2025, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tuyên Quang đề nghị xã và các đơn vị lữ hành nhắc du khách giữ ứng xử văn minh; bộ quy tắc ứng xử du lịch của Hà Giang (2018) yêu cầu trang phục phù hợp, lịch sự, nên hãy thay đồ kín đáo trước khi rời thác về bản hay ra đường.

Thác Du Già hợp với người đi theo cung đường Cao nguyên đá muốn một chặng dừng mát, ghép với một đêm ở bản và phiên chợ của xã. Nếu bạn tìm một khu thác có vé, lối đi và dịch vụ tổ chức sẵn, nơi này chưa đáp ứng; còn nếu chỉ có một ngày và không định nghỉ đêm ở Du Già, quãng đường đèo vào xã khá dài so với thời gian ở thác.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm thác đổ qua nhiều tầng đá và các hồ đá
  • Đi bộ dọc suối khám phá bản làng
  • Nghỉ đêm tại homestay của hộ dân trong xã Du Già
  • Kết hợp chợ phiên Du Già (thứ Sáu)

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • xã Du Già
  • thác nước
  • thác Ba Tiên
  • Cao nguyên đá Đồng Văn
  • Yên Minh cũ

Thiên nhiên & Mùa

Thác Pác Ban

Thác ba tầng đổ xuống lòng hồ Na Hang, nước chảy ngầm qua núi rồi lộ thiên giữa rừng Tát Kẻ – Bản Bung

Nà Hang, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ thị trấn Na Hang cũ đi khoảng 4 km là tới thác Pác Ban, thác mà các trang giới thiệu của tỉnh còn gọi là thác Mơ. Thác đổ xuống từ rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ – Bản Bung vào vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, cách trung tâm tỉnh khoảng 100 km. Thác còn có tên Tát Tốc, tiếng Tày nghĩa là "thác Rơi".

Trước khi đổ thành thác, nước đã đi một quãng dài trong lòng núi: bắt nguồn từ mỏ nước Bó Nặm giáp xã Bản Thi (Chợ Đồn, Bắc Kạn cũ), chảy ngầm qua các hang Nặm Pàn, Nậm Chang rồi mới lộ thiên ở Bản Chủ. Thác từng có chín tầng. Khi thủy điện Tuyên Quang đắp đập dâng nước từ cuối năm 2006, các tầng dưới chìm vào hồ, nay còn ba tầng. Cũng vì vậy mà cách vào quen thuộc là ngồi xuồng qua mặt hồ tới chân thác.

Tầng thứ nhất nước đổ mạnh, tung bọt trắng. Muốn lên tầng thứ hai, bạn leo hơn 10 m thang dây; ở đó có một hồ nhỏ nước trong và những hang nhũ đá, nước chảy êm hơn qua các khối đá phủ rêu. Tầng thứ ba cao nhất. Theo thang dây vịn vào đá lên tới đỉnh, bạn nhìn thấy thị trấn Na Hang giữa 99 ngọn núi bao quanh, rồi có thể đi bộ vào rừng có những cây sến, táu, lát to vài người ôm. Pác Ban cũng là điểm dừng quen thuộc của các chuyến du thuyền trên lòng hồ Na Hang, cùng với Cọc Vài Phạ và khu bảo tồn Tát Kẻ – Bản Bung.

Lối lên các tầng trên là thang dây bám vào đá, đá ven thác phủ rêu, nên phần leo không hợp với người ngại độ cao. Mùa mưa thác đổ xối xả, mùa khô dòng nước hiền hơn. Dưới chân thác có nhà sàn để nghỉ chân và dịch vụ ăn uống, nhưng vé, giờ mở cửa và quy định riêng về bơi hay leo thác hiện chưa được công bố rõ. Trước khi leo lên các tầng trên hoặc xuống nước, hãy hỏi đơn vị quản lý khu du lịch hoặc người lái thuyền.

Với dân làng Pác Ban, vũng nước dưới chân thác không chỉ là cảnh đẹp. Theo lời kể truyền đời, bà Then của làng từng chữa bệnh cho Thuồng Luồng, rồi nấp bên vũng nước này để giúp vua Thủy Tề. Từ đó, năm nào hạn hán, dân làng lại thả một bắp hoa chuối đỏ cùng một con dao cùn xuống vũng nước để cầu mưa. Hãy nghe câu chuyện như một phần đời sống tín ngưỡng của cộng đồng, giữ sạch dòng nước và mang rác ra khỏi khu thác.

Pác Ban hợp với người muốn ghép một chặng thác và rừng vào chuyến thuyền trên hồ Na Hang. Theo huyện Na Hang, tháng 7 đến tháng 12 là lúc hồ tích nước cao, trời không quá nóng hay quá lạnh. Nếu không muốn leo thang dây, ngắm tầng dưới từ xuồng cũng đủ thấy dáng thác. Muốn đi thêm, các thác Khuổi Nhi, Nặm Me trên cùng lòng hồ là lựa chọn để kết hợp.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi xuồng qua hồ tới chân thác
  • Leo thang dây lên các tầng thác
  • Đi bộ vào rừng quanh đỉnh thác
  • Ghé thác trong chuyến du thuyền hồ Na Hang
  • Nghỉ chân ở nhà sàn dưới chân thác

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • xã Nà Hang
  • thác nước
  • thác Mơ
  • hồ Na Hang
  • Tát Kẻ – Bản Bung
  • Na Hang cũ

Không gian di sản

Đền Bách Thần

Đền thờ bách thần trên sườn núi bên sông Gâm, nơi rước mâm Tồng mở đầu hội Lồng Tông của Chiêm Hóa

Chiêm Hoá, Tuyên Quang

Câu chuyện

Trên sườn núi Bách Thần, nhìn xuống trung tâm xã Chiêm Hóa (thị trấn Vĩnh Lộc cũ) và dòng sông Gâm, đền Bách Thần là nơi người Chiêm Hóa gửi lời cầu mùa mỗi đầu năm. Đây là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, cuối năm 2024 được UBND tỉnh Tuyên Quang công nhận là điểm du lịch, và là nơi các mâm lễ của Lễ hội Lồng Tông được rước xuống đồng.

Tên đền nói đúng điều bạn sẽ gặp bên trong: "bách thần" là trăm vị thần. Đền thờ Tam phủ công đồng cùng các vị thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu, bên cạnh Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Tam tòa Thánh Mẫu, các quan Tứ phủ, sơn thần thổ địa. Các cụ cao niên trong vùng còn gọi là đền Phúc Thần, vị thần ban phúc cho dân. Điều làm nên nét riêng của đền là một nhân thần của chính vùng đất này: tướng quân Ma Doãn Giảo, người con Chiêm Hóa được ghi nhận có công giúp dân chống quân Cờ Đen vào khoảng cuối thế kỷ XIX.

Đền có từ trước năm 1945. Khi ấy đền dựng ở khu chợ thị trấn, bên một cây đa lớn, cửa đền hướng vọng sang núi Bách Thần bên tả ngạn sông Gâm. Về sau đền được phục dựng trên chính sườn núi ấy, ở vị trí mới. Chính lễ của đền trùng ngày hội Lồng Tông, mùng 8 tháng Giêng âm lịch. "Lồng Tông" trong tiếng Tày nghĩa là xuống đồng: sáng ngày hội, 9 mâm Tồng bày sản vật địa phương được rước từ đền xuống sân vận động, có múa lân dẫn đường; Thầy Cả, người cúng chính, cùng các thầy giúp việc làm lễ đặt mâm tạ ơn trời đất, rồi đến nghi thức xuống đồng, cày tịch điền mở đầu mùa vụ. Đền vì thế là điểm khởi đầu của cả nghi lễ cầu mùa.

Ngày thường, bạn lên đền dâng hương, xem gian thờ bách thần và đứng trên sườn núi ngắm khu trung tâm Vĩnh Lộc bên sông Gâm. Cần biết trước: nguồn chính thống về đền mới chỉ có vài đoạn giới thiệu, chưa có thuyết minh chi tiết về kiến trúc hay hiện vật; giờ mở cửa và giá vé hiện hành chưa được đơn vị quản lý công bố rõ, nên nếu đi xa hãy hỏi trước. Dịp hội Lồng Tông, khu trung tâm xã rất đông người dự hội.

Đền là nơi thờ tự đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong gian thờ, hỏi người trông đền trước khi chụp ảnh bên trong. Vào ngày hội, hãy đứng ngoài lối đi của đoàn rước mâm Tồng và chỉ chụp ảnh nghi lễ từ xa.

Đền Bách Thần hợp với người muốn hiểu cách tín ngưỡng thờ Mẫu, các vị thần linh và lễ cầu mùa của người Tày đan vào nhau ở một thị trấn miền núi, nhất là nếu bạn đến đúng mùng 8 tháng Giêng. Nếu muốn ghép thêm, đền Đầm Hồng, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Kim Bình và chùa Bảo Ninh Sùng Phúc cùng nằm trong vùng Chiêm Hóa.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng đền, dâng hương
  • Ngắm thị trấn Vĩnh Lộc bên sông Gâm từ sườn núi
  • Xem lễ rước mâm Tồng (mùng 8 tháng Giêng âm lịch)
  • Dự Lễ hội Lồng Tông

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • xã Chiêm Hóa
  • đền thờ
  • di tích cấp tỉnh
  • lễ hội Lồng Tông
  • tín ngưỡng thờ Mẫu
  • sông Gâm

Không gian di sản

Dinh thự họ Vương

Dinh thự đá và gỗ 64 phòng của thủ lĩnh người Mông Vương Chính Đức giữa thung lũng Sà Phìn; di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Sà Phìn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Dinh thự họ Vương nằm ở thôn Sà Phìn, xã Sà Phìn, cách trung tâm xã Đồng Văn khoảng 15 km theo quốc lộ 4C, trên cao nguyên đá phía bắc tỉnh Tuyên Quang (trước đây thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang). Tên xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật Khu nhà Vương. Đây là nơi ở của Vương Chính Đức, thủ lĩnh người Mông trong vùng, người dân gian quen gọi là "vua Mèo".

Dinh dựng trên một gò đất giữa thung lũng Sà Phìn, do thợ người Vân Nam cùng thợ và nhân công người Mông làm. Công trình gồm tiền dinh, trung dinh, hậu dinh, với 4 nhà ngang, 6 nhà dọc, hai tầng, 64 phòng; vật liệu là đá xanh, gỗ và ngói đất nung. Tường bao bằng đá có lỗ châu mai, hậu dinh có hai lô cốt. Năm xây mỗi tài liệu ghi một khác: cổng thông tin tỉnh ghi 1898 - 1907, ban quản lý Công viên địa chất ghi cuối 1919 - đầu 1928. Ngày 23/7/1993, khu nhà được xếp hạng di tích quốc gia; đây không phải di tích quốc gia đặc biệt.

Con trai ông, Vương Chí Sình (sau đổi tên Vương Chí Thành), là đại biểu Quốc hội khóa I, II; mộ ông được cải táng về trước cổng dinh năm 2003. Đất của dinh được cấp giấy chứng nhận cho các hậu duệ họ Vương từ năm 2019, còn di tích do chính quyền địa phương quản lý, tu bổ.

Bạn đi vào theo lối lát đá giữa hàng sa mộc, qua cửa chính có bậc đá xếp hình bán nguyệt, rồi vào sân trong. Bên trong có phòng trưng bày ảnh các thế hệ họ Vương, kho, bếp, chuồng ngựa; khu mộ dòng họ ở bên ngoài. Có người thuyết minh tại chỗ kể về dòng họ, thế đất và các hiện vật. Một buổi tham quan thường mất 1 - 2 giờ.

Hạn chế: không gian trưng bày chủ yếu là kiến trúc và ảnh, thông tin lịch sử có chỗ các nguồn còn lệch nhau (năm xây, diện tích). Cổng thông tin tỉnh ghi giờ mở 7h30 - 17h00 hằng ngày và vé khoảng 20.000 đồng/người lớn (9/2025); từ 01/01/2026 tỉnh áp dụng biểu phí mới cho các di tích, nên hỏi lại mức vé tại cổng.

Đường tới dinh là quốc lộ 4C qua vùng núi đá, mùa mưa có thể sạt lở; đi ban ngày và xem tình trạng đường trước khi đi.

Đây là di tích gắn với một dòng họ người Mông còn hậu duệ đang sống, và khu mộ ngay trước cổng. Giữ yên lặng ở khu mộ, không trèo lên tường đá, bậc thềm, và hỏi người thuyết minh trước khi chụp ảnh bên trong các phòng. Khi nhắc đến "vua Mèo", nên hiểu đây là cách gọi dân gian, không phải tước hiệu.

Dinh hợp với người quan tâm lịch sử vùng cao nguyên đá và kiến trúc đá, gỗ của người Mông. Nếu muốn một không gian phố thị cùng tuyến, phố cổ Đồng Văn ở trung tâm xã Đồng Văn là điểm dừng tiếp theo.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan dinh thự, nghe thuyết minh
  • Xem hiện vật, phòng trưng bày ảnh dòng họ Vương
  • Kết hợp tuyến Cao nguyên đá Đồng Văn

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • kiến trúc
  • người Mông
  • Vương Chính Đức
  • Sà Phìn
  • Cao nguyên đá Đồng Văn

Không gian di sản

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì

Danh thắng quốc gia trải trên 11 xã cũ của Hoàng Su Phì, do người La Chí, Dao, Nùng, Tày, Mông tạo dựng; mùa nước đổ tháng 4–6, lúa chín tháng 9–10.

Tuyên Quang

Câu chuyện

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nằm ở vùng núi Hoàng Su Phì của tỉnh Tuyên Quang (trước đây là huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang), cách Hà Nội khoảng 300 km, đi xe 6 - 7 giờ. Ruộng trải trên sườn núi của nhiều xã, do người La Chí, Dao, Nùng, Tày, Mông khai phá qua nhiều thế hệ; tài liệu của ngành văn hóa ghi lịch sử ruộng "trên dưới 300 năm".

Đây là danh lam thắng cảnh quốc gia, xếp hạng qua hai đợt: đợt đầu ruộng của 6 xã cũ Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Bản Phùng, Hồ Thầu, Nậm Ty, Thông Nguyên; đợt sau bổ sung 5 xã Thàng Tín, Tả Sử Choóng, Bản Nhùng, Pố Lồ, Nậm Khòa. Bằng xếp hạng được trao năm 2012 và 2017. Vùng di sản được bảo vệ rộng 2.196,4 ha; tổng ruộng bậc thang cả vùng hơn 3.700 ha.

Mỗi cộng đồng làm ruộng theo cách riêng. Người Dao Đỏ ở Hồ Thầu để lại một khoảnh rừng nhỏ cho mỗi khoảnh ruộng để giữ đất, chống sạt lở; người La Chí ở Bản Phùng bóc lớp đất mặt để riêng rồi rải lại.

Có hai mùa để đến. Mùa nước đổ từ khoảng giữa tháng 4 đến tháng 6, khi ruộng được đổ nước để cấy. Mùa lúa chín vào tháng 9 - 10: lúa bắt đầu ngả vàng đầu tháng 9, mùa vàng thường chỉ kéo dài 2 - 3 tuần và mỗi xã chín một lúc khác nhau, nên hỏi tình hình lúa tại chỗ trước khi đi. Năm 2025 lúa chín sớm, dự kiến hết vào cuối tháng 9.

Các điểm ngắm thường được nhắc là Bản Phùng (độ cao khoảng 1.200 m, chủ yếu người La Chí, cách trung tâm Vinh Quang cũ gần 30 km đường đèo), Hồ Thầu, "mâm xôi" Nậm Khòa, Thông Nguyên, Bản Luốc. Bạn đi xe máy hoặc ô tô giữa các xã, dừng ngắm, đi bộ qua bản và nghỉ homestay. Mùa lúa chín hằng năm có tuần văn hóa du lịch; năm 2026 xã Nậm Dịch tổ chức từ 15/8 đến 30/9.

Hạn chế: địa hình núi cao, suối chia cắt, đường có đoạn xấu; các điểm ngắm cách nhau xa nên cần ít nhất vài ngày. Mùa mưa có sạt lở: rạng sáng 5/7/2023, sạt lở đất ở xã Ngàm Đăng Vài cũ làm 2 người chết. Không đứng sát mép taluy, bờ ruộng cao khi chụp ảnh, và xem tin thời tiết trước khi đi tháng 6 - 9.

Ruộng là nơi làm ăn của từng gia đình. Đi trên lối có sẵn, không giẫm lên bờ ruộng hay lúa, xin phép trước khi chụp ảnh người đang làm ruộng. Các lễ như Tết Khu cù tê của người La Chí, lễ cầu mùa của người Dao là nghi lễ của cộng đồng; chỉ dự khi được mời hoặc trong chương trình lễ hội công khai.

Hoàng Su Phì hợp với người muốn ở lại nhiều ngày, đi chậm qua các bản. Nếu muốn so sánh với một vùng ruộng bậc thang khác cùng mùa lúa chín tháng 9 - 10, ruộng bậc thang Mù Cang Chải (Lào Cai) là lựa chọn nên tìm hiểu.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm ruộng bậc thang mùa nước đổ, mùa lúa chín
  • Trekking qua bản làng
  • Nghỉ homestay trong bản
  • Tham dự tuần văn hóa du lịch mùa vàng

Từ khóa

  • danh thắng quốc gia
  • ruộng bậc thang
  • mùa lúa chín
  • La Chí
  • Bản Phùng
  • Hoàng Su Phì

Chợ địa phương

Chợ Trung tâm Quản Bạ

Chợ của thị trấn Tam Sơn cũ, nơi bà con vùng Quản Bạ họp phiên mỗi tuần, nhiều rau và giống cây

Quản Bạ, Tuyên Quang

Câu chuyện

Ở khu trung tâm xã Quản Bạ, nơi trước đây là thị trấn Tam Sơn, huyện lỵ của huyện Quản Bạ cũ, có một khu chợ mà mỗi tuần một lần trở thành điểm hẹn của bà con các thôn bản quanh vùng. Từ sáng sớm ngày phiên, khi đường núi còn hơi sương, người gùi rau, củ, quả, người mang mật ong, gà, thịt và những thứ nhà mình làm ra đã xuống chợ. Chợ Trung tâm Quản Bạ hình thành từ năm 1994, rộng hơn 7.000 m², có các dãy ki-ốt tạp hóa, quần áo, giày dép, đồ gia dụng của hơn 100 hộ kinh doanh.

Điều làm chợ phiên này khác các chợ lớn trên cao nguyên đá là nó gắn với ruộng vườn hơn là với đàn gia súc. Chợ không có khu mua bán trâu bò; thứ bán nhiều nhất là rau, vì quanh đây là vùng trồng rau, khoảng tháng 10 có cải Mèo, củ cải, đậu Hà Lan. Gian giống cây trồng là nơi bà con tìm mua nhiều. Bên cạnh là cày, cuốc, dao cho việc nương rẫy, cả chợ có một lò rèn của người Mông, và những bó sợi gai để đan dây buộc.

Dạo một vòng, bạn sẽ gặp đủ thứ của đời sống vùng cao: nông sản tự trồng, rau rừng, ngô, khoai, gia vị, gà đồi, cá suối, hoa chuối, các loại dược liệu, rồi quần áo, váy, khăn thổ cẩm nhiều màu. Hàng thắng cố thường rất đông, nay có cả hàng chè; cuối chợ là dãy rượu ngô đựng trong can 20 lít. Người đi chợ mặc những bộ quần áo đẹp nhất, nên các sắc áo truyền thống nổi bật giữa dòng người.

Cần biết trước khi đi: ngày phiên hiện chưa thống nhất giữa các nguồn. Nhiều năm nay chợ phiên được ghi là họp sáng Chủ nhật, từ sáng sớm đến trưa, nhưng một bài báo tháng 9/2026 lại ghi phiên chợ họp vào thứ Sáu hằng tuần. Hãy hỏi lại nơi bạn lưu trú hoặc người dân địa phương trước khi xếp lịch. Từ tháng 4/2026, xã Quản Bạ còn có chợ đêm vào tối thứ Sáu ở thôn Tam Sơn 2, với các gian ẩm thực, sản phẩm OCOP, đồ lưu niệm và văn nghệ. Đây là chợ dân sinh, hàng hóa phục vụ đời sống hằng ngày của bà con, không phải khu bán quà lưu niệm.

Với người Quản Bạ, đi chợ là để mua đủ đồ dùng cho cả tuần, nhưng cũng là dịp gặp người thân, hỏi thăm chuyện mùa màng; người lớn thường dắt con cháu theo để chỉ cho chúng sản vật, món ăn, trang phục của quê mình. Hãy hỏi trước khi chụp ảnh ai đó, nhường lối cho người đang gùi hàng, và mua rau, mật ong, thổ cẩm trực tiếp từ người làm ra.

Chợ Trung tâm Quản Bạ hợp với người muốn thấy một phiên chợ dân sinh của vùng cao nguyên đá, thích nông sản và nhịp mua bán đời thường. Nếu bạn muốn xem một chợ phiên lớn có khu mua bán trâu bò, chợ phiên Mèo Vạc hoặc Đồng Văn sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi chợ phiên buổi sáng
  • Mua rau, nông sản do bà con tự trồng
  • Xem gian giống cây trồng, nông cụ và lò rèn
  • Mua váy, khăn thổ cẩm
  • Ăn thắng cố ở hàng ăn trong chợ
  • Mua mật ong, dược liệu từ người bán

Từ khóa

  • Chợ địa phương
  • Tuyên Quang
  • xã Quản Bạ
  • Tam Sơn
  • chợ phiên vùng cao
  • giống cây trồng
  • rau cải Mèo
  • thổ cẩm

Không gian di sản

Khu di tích lịch sử Bộ Tư pháp

Nơi Bộ Tư pháp đóng trụ sở 1949–1950 trên đồi thôn Mới, cạnh đình Thanh La ở vùng ATK Sơn Dương

Minh Thanh, Tuyên Quang

Câu chuyện

Trên một gò đồi ở thôn Mới, xã Minh Thanh, phía sau là đình Thanh La và trước mặt là cánh đồng, Khu di tích lịch sử Bộ Tư pháp đánh dấu nơi cơ quan Bộ Tư pháp ở và làm việc từ cuối năm 1949 đến tháng 9 năm 1950, trong những năm kháng chiến chống Pháp. Khi về đây, cả cơ quan Bộ chỉ có khoảng 30 người, do Bộ trưởng Vũ Đình Hòe và Thứ trưởng Trần Công Tường đứng đầu.

Thôn Mới là điểm dừng sau một chặng đường dài: rời Hà Nội cuối năm 1946, qua Tân Trào năm 1947, rồi chia làm hai bộ phận đóng ở Thái Nguyên và Vĩnh Phúc; đến tháng 10 năm 1949, theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ, hai bộ phận hợp lại tại đây. Trong chưa đầy một năm ấy, Bộ trình Chủ tịch Hồ Chí Minh ký các sắc lệnh cải cách bộ máy tư pháp, trong đó Sắc lệnh 85-SL ngày 22/5/1950 hình thành chế độ hội thẩm nhân dân và hội đồng hòa giải. Cũng năm 1950, Hội nghị học tập của cán bộ tư pháp họp tại thôn Mới được đón Bác Hồ tới dự. Câu Bác nói hôm ấy, "Vấn đề tư pháp là vấn đề ở đời và làm người", được khắc lại trên văn bia, và đó là lý do người trong ngành gọi nơi này là địa chỉ về nguồn.

Lán trại năm xưa không còn; khu di tích hôm nay là công trình tưởng niệm do Bộ Tư pháp xây dựng, khánh thành ngày 27/8/2010. Bạn theo lối bậc thang lên đồi, qua hai cây đa cạnh cổng và vườn cây lưu niệm do các đoàn về nguồn trồng, tới nhà bia, văn bia và Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong khuôn viên còn có phòng truyền thống lưu giữ hình ảnh, tư liệu của ngành Tư pháp.

Hãy hình dung đúng trước khi đi: đây là một khu tưởng niệm nhỏ trên đồi, nhiều bậc dốc, không có hiện vật gốc hay khu trưng bày lớn. Giờ mở cửa, giá vé và số điện thoại liên hệ chưa được công bố trên kênh chính thức. Quanh ngày 28/8, Ngày truyền thống ngành Tư pháp, và dịp đầu năm, các đoàn của ngành thường về dâng hương.

Đây là nơi tưởng niệm, nên bạn giữ không gian yên tĩnh khi vào nhà bia và nhà tưởng niệm. Thôn Mới phần lớn là người Tày đang sinh sống quanh khu di tích, vì vậy hãy hỏi ý trước khi chụp ảnh người dân hay nhà riêng.

Khu di tích hợp với người học và làm nghề luật, các đoàn về nguồn, và người muốn hiểu bộ máy nhà nước thời kháng chiến vận hành ra sao ở một làng nhỏ. Bạn có thể ghé luôn đình Thanh La ngay bên cạnh, nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa Thanh La tháng 3 năm 1945. Còn nếu muốn xem một quần thể lán, hầm còn gìn giữ dưới rừng, Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào hoặc ATK Kim Quan ở xã Tân Trào lân cận sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Dâng hương tại nhà bia và Nhà tưởng niệm Bác Hồ
  • Đọc văn bia về Trụ sở Bộ Tư pháp thời kháng chiến
  • Đi bậc thang lên đồi qua vườn cây lưu niệm
  • Ghép thăm đình Thanh La ngay cạnh khu di tích

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • Minh Thanh
  • Sơn Dương
  • di tích kháng chiến
  • Bộ Tư pháp
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh
  • du lịch về nguồn

Không gian di sản

Đền Ỷ La

Đền thờ Mẫu dựng nơi tượng Phương Dung công chúa từng được đưa về lánh nạn, điểm khởi kiệu lễ rước Mẫu

Minh Xuân, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cách Đền Hạ bên bờ sông Lô khoảng 3,3 km, đền Mẫu Ỷ La ở phường Minh Xuân (phường Ỷ La cũ) nằm dưới những tán cây cổ thụ. Đây là một trong ba ngôi đền thờ Mẫu cổ của thành Tuyên, cùng Đền Hạ và đền Thượng, và năm 2015 được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.

Câu chuyện của ngôi đền bắt đầu từ một cuộc di dời. Theo truyền thuyết, khi Đền Hạ, nơi thờ công chúa Phương Dung, gặp nạn binh đao, dân trong vùng rước tượng thần về làng Ỷ La để giữ gìn. Đến khi Đền Hạ được dựng lại, dân làng Ỷ La cũng lập đền ngay tại chỗ tượng từng lánh nạn để thờ Phương Dung công chúa, người được coi là hóa thân của Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên. Vì thế đền Ỷ La được coi là nơi 'tỵ Thần', nơi lánh nạn che chở cho Thánh Mẫu. Các nguồn của tỉnh ghi đền khởi dựng năm 1743, niên hiệu Cảnh Hưng thứ tư, trùng tu vào đầu thế kỷ XIX; bên cạnh Mẫu, đền còn phối thờ Đức Thánh Trần.

Câu chuyện ấy sống lại mỗi năm trong Lễ hội rước Mẫu đền Hạ, đền Thượng, đền Ỷ La. Đền Ỷ La là một trong hai nơi khởi kiệu: sáng sớm ngày 11 tháng Hai âm lịch, kiệu rước Phương Dung công chúa, người chị, rời đền về Đền Hạ, mở đầu cho cuộc đoàn tụ của hai chị em công chúa. Ngày 16 tháng Hai, lễ hoàn cung đưa Mẫu trở về. Lễ hội được khôi phục từ năm 2007 và năm 2017 được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Ngày thường, bạn có thể vào sân đền, viếng gian thờ và dừng lại ở các hoành phi, câu đối, sắc phong chữ Hán Nôm. Đền còn giữ nhiều di vật có niên đại từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, mang dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn. Ngoài lễ hội tháng Hai, đền có các ngày lễ tiệc riêng như tiệc Mẫu Thượng Ngàn mồng 2 tháng Giêng hay giỗ Đức Thánh Trần ngày 20 tháng Tám âm lịch.

Đừng chờ đợi một công trình cổ nguyên vẹn: qua nhiều lần trùng tu, kiến trúc khởi nguyên của đền đã thay đổi nhiều, giá trị nằm ở di vật và vai trò của đền trong tục thờ Mẫu. Mùa lễ đầu xuân và những ngày lễ hội, khách hành hương đến đông. Đây là nơi thờ tự đang hoạt động, nên hãy ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong gian thờ và hỏi người trông đền trước khi chụp ảnh bên trong; vào ngày rước, đứng ngoài lối đi của đoàn kiệu.

Đền Ỷ La hợp với người muốn đi trọn hành trình ba đền thờ Mẫu của Tuyên Quang, hoặc muốn xem phút khởi kiệu sáng sớm của lễ hội. Nếu chỉ có thời gian cho một đền, Đền Hạ bên sông Lô, nơi hợp tế, sẽ cho bạn thấy trọn phần chính của lễ rước.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng đền, dâng hương
  • Xem hoành phi, câu đối, sắc phong Hán Nôm
  • Xem lễ khởi kiệu rước Mẫu (sáng 11 tháng Hai âm lịch)
  • Đi lễ theo hành trình ba đền Hạ – Thượng – Ỷ La

Từ khóa

  • không gian di sản
  • Tuyên Quang
  • phường Minh Xuân
  • đền thờ Mẫu
  • di tích quốc gia
  • lễ hội rước Mẫu
  • Phương Dung công chúa
  • hành hương đầu xuân

Thiên nhiên & Mùa

Khu suối khoáng Mỹ Lâm

Nguồn nước khoáng nóng sulfua lấy từ mạch ngầm sâu hơn 150 m ở phường Mỹ Lâm, dùng cho tắm khoáng, tắm bùn, tắm lá thuốc Dao đỏ.

Mỹ Lâm, Tuyên Quang

Câu chuyện

Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm nằm ở phường Mỹ Lâm, tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm tỉnh lỵ (khu vực thành phố Tuyên Quang cũ) khoảng 10 đến 13 km theo quốc lộ 37, tùy nguồn. Khu nằm giữa vùng quê có người Tày, Cao Lan sinh sống, phía xa là núi Nghiêm (Báo Tuyên Quang 9/2025).

Nguồn nước khoáng nóng ở đây được nhà địa chất người Pháp phát hiện năm 1923. Nước lấy từ mạch ngầm sâu hơn 150 m; nhiệt độ tại nguồn được các nguồn ghi từ 67 °C đến gần 70 °C. Hàm lượng hydro sunfua khoảng 5 mg/lít, nên nước khoáng Mỹ Lâm còn được gọi là "nước khoáng sulfua"; trong nước có axit silicic.

Cần hiểu đúng: ở Mỹ Lâm bạn không tắm trong một dòng suối lộ thiên. Nước được đưa từ mạch ngầm vào bể, bồn của các cơ sở tắm khoáng. Theo Cổng thông tin tỉnh (4/2024), các dịch vụ gồm tắm khoáng nóng bồn đơn, bồn tập thể, bồn sục, tắm bùn khoáng, tắm nước khoáng với lá thuốc của người Dao đỏ, ngâm chân lá thuốc, xông hơi, mát xa. Nhiều khách sạn trong khu có bể bơi nước khoáng.

Khu có nhiều đơn vị khai thác: Ban Quản lý các khu du lịch tỉnh có cơ sở tắm khoáng riêng (ra mắt sản phẩm tháng 4/2024), bên cạnh các khách sạn, cơ sở tư nhân. Giá và giờ mở cửa khác nhau giữa các cơ sở và chưa có bảng giá hiện hành được công bố; hãy hỏi trực tiếp cơ sở bạn chọn. Trong khu còn có Bệnh viện Suối khoáng Mỹ Lâm, khánh thành ngày 19/4/2025, quy mô 200 giường, làm khám chữa bệnh, tắm khoáng và phục hồi chức năng.

Mặt hạn chế: khu vực đang có nhiều công trình lớn. Tháng 5/2026 tỉnh đang làm các khu tái định cư của khu đô thị nghỉ dưỡng Mỹ Lâm và tuyến đường gần 8,8 km nối khu du lịch với quốc lộ 2D, cao tốc Tuyên Quang - Phú Thọ; một tuyến khoảng 7,6 km từ trung tâm tỉnh cũng đã được duyệt. Quanh khu có thể gặp đường đang thi công.

Báo chí và các cơ sở thường quảng bá công dụng chữa bệnh của nước khoáng; Localis không dẫn lại vì chưa có nguồn y tế độc lập. Nếu bạn có bệnh mạn tính hoặc đang mang thai, hãy hỏi bác sĩ trước khi ngâm nước nóng, và hỏi nhân viên nhiệt độ bể trước khi xuống.

Lá thuốc tắm là tri thức của người Dao đỏ; nếu muốn biết thành phần, hãy hỏi người phục vụ thay vì tự hái cây trong vùng.

Mỹ Lâm hợp với gia đình, người lớn tuổi, nhóm bạn muốn nghỉ nửa ngày đến một ngày, tắm khoáng rồi ngủ lại. Nếu bạn muốn cảnh hồ, thác và rừng hơn là khu dịch vụ, khu du lịch sinh thái Na Hang - Lâm Bình sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm khoáng nóng bồn đơn, bồn tập thể, bồn sục
  • Tắm bùn khoáng
  • Tắm, ngâm chân lá thuốc Dao đỏ
  • Xông hơi, mát xa
  • Lưu trú nghỉ dưỡng

Từ khóa

  • suối khoáng nóng
  • tắm khoáng
  • tắm bùn
  • lá thuốc Dao đỏ
  • nghỉ dưỡng
  • Mỹ Lâm

Thiên nhiên & Mùa

Thác Nặm Tạu

Thác ba tầng dưới chân núi Khau Đeng, danh lam thắng cảnh quốc gia của vùng Đức Xuân – Bắc Quang cũ

Liên Hiệp, Tuyên Quang

Câu chuyện

Cách trung tâm huyện Bắc Quang cũ khoảng 50 km về phía đông, giữa vùng rừng của xã Đức Xuân cũ, nay thuộc xã Liên Hiệp, suối Nặm Tạu đổ qua thôn cùng tên thành một dòng thác nhiều tầng. Ngày 29/12/2017, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng nơi này là danh lam thắng cảnh quốc gia, một trong 23 di tích được công nhận trong đợt đó.

Nước của thác bắt nguồn từ dãy núi Khau Đeng, còn gọi là "núi đỏ", cao trên 1.000 m và phủ rừng nguyên sinh. Khi chảy qua thôn Nặm Tạu, khối đá bề mặt nghiêng dốc mạnh, dòng nước bào mòn cùng những chỗ đứt gãy, sụt lún của địa chất đã tạo nên thác: nhiều bậc nhỏ nối liền thành ba tầng chính, mỗi tầng cao khoảng 15–20 m. Trên đỉnh thác là hồ Tiên, còn gọi là Thôôm Căm, rộng hơn 400 m², nơi có cá chép đỏ, cá bỗng, cá dầm xanh và loài cá đắng nhỏ mà người dân ở đây coi là thứ riêng có của vùng mình.

Từ trung tâm xã Đức Xuân cũ, bạn có thể đi bộ theo đường liên thôn qua những thửa ruộng bậc thang ven sườn núi, hoặc đi xe máy đến chân thác. Quanh thác có nhiều bãi bằng và mái đá để dừng chân nghe nước đổ vang vào vách đá; vào mùa lúa chín, sắc vàng phủ kín sườn đồi dọc đường vào. Cùng vùng xã Đức Xuân cũ còn có hang Khau Đôn và hang Nặm Tan, hai danh thắng quốc gia khác với nhũ đá vẫn đang tiếp tục hình thành, và những món vùng cao như rau cải nương, cà đắng, ếch suối, thịt lợn đen.

Thác Nặm Tạu chưa được tổ chức như một khu du lịch: năm 2024, lãnh đạo xã vẫn nói nơi này cần được đầu tư thêm hạ tầng và dịch vụ, và đến nay chưa thấy công bố về vé, giờ mở cửa hay đơn vị quản lý. Vực nước dưới chân các tầng thác sâu từ 1 đến 5 m, hồ trên đỉnh có chỗ sâu tới 10 m, và chưa có thông tin về lực lượng cứu hộ tại chỗ; nếu định xuống nước, hãy hỏi chính quyền xã hoặc người dân về điều kiện và quy định lúc bạn đến.

Đây là danh thắng được xếp hạng và bảo vệ, quanh đó là thôn bản của người Dao, Tày và Mông. Hãy giữ nguyên cảnh quan, mang rác ra khỏi khu thác và hỏi trước khi chụp ảnh người dân.

Thác Nặm Tạu hợp với người thích đi xe máy khám phá, muốn ghép một ngày thác suối với hang động trong cùng một xã. Nếu bạn cần khu thác có vé, lối đi dựng sẵn và dịch vụ quanh chân thác, nơi này chưa đáp ứng; còn nếu muốn một dòng thác giữa rừng, ruộng bậc thang và nhịp sống của bản, đây là lựa chọn đáng cân nhắc ở vùng Bắc Quang cũ.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm thác ba tầng và hồ Tiên trên đỉnh thác
  • Đi bộ đường liên thôn qua ruộng bậc thang vào thác
  • Kết hợp tham quan hang Khau Đôn, hang Nặm Tan
  • Thưởng thức đặc sản vùng cao của xã

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • xã Liên Hiệp
  • thác nước
  • danh lam thắng cảnh quốc gia
  • hồ Tiên
  • Bắc Quang cũ

Thiên nhiên & Mùa

Thác số 6

Thác nhỏ chảy êm cuối thôn Tày Hạ Thành, cách trung tâm Hà Giang cũ khoảng 6 km

Hà Giang 1, Tuyên Quang

Câu chuyện

Chỉ khoảng 6 km, chừng 15 phút đường từ trung tâm thành phố Hà Giang cũ, thác số 6 nằm ở cuối thôn Hạ Thành, nay thuộc phường Hà Giang 1. Hạ Thành là làng của người Tày với những nếp nhà sàn lợp lá cọ, được Cục Du lịch Quốc gia giới thiệu như một làng văn hóa du lịch cộng đồng. Thác còn được gọi là thác 06.

Đây không phải một ngọn thác cao. Dòng nước chảy êm, len qua những tảng đá lớn nhỏ phủ rêu rồi đổ xuống một hồ nước nhỏ trong và xanh, quanh là tán cây rừng và ruộng bậc thang. Đi thác ở đây cũng là đi qua một làng đang sống: suối từ thôn vùng cao Lùng Vài chảy qua rừng xuống đất Hạ Thành, men giữa ruộng bậc thang, ao cá và những thửa ruộng điểm đá cuội của người Tày.

Từ cuối làng, bạn đi bộ một đoạn ngắn qua con suối nhỏ và lối mòn bằng đất là tới thác; mùa khô, lối đi men theo những tảng đá dưới lòng suối cạn rồi qua triền đồi cỏ. Cuối tuần, nhiều du khách lên đây cắm trại trên các bãi cỏ dưới bóng cây, chụp ảnh, ngâm chân bên hồ. Phía ngoài có vài quán ăn, quán cà phê do người dân mở; trong làng Hạ Thành, bạn có thể nghe hát then, hát lượn và ăn cá bỗng nướng, thịt lợn đen hun khói, cơm lam do chính người dân nấu.

Thác chưa được tổ chức như một khu du lịch: theo báo Sài Gòn Tiếp Thị năm 2025, khu vực này chưa có đơn vị quản lý, và chưa thấy công bố nào về vé hay giờ mở cửa. Từ tháng 6 đến tháng 8 nước nhiều, dòng chảy mạnh hơn; mùa mưa lũ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Giang từng yêu cầu cảnh báo và không cho khách tắm thác, suối. Hãy chọn ngày nắng ráo, theo dõi dự báo thời tiết, và hỏi người dân trong thôn trước khi xuống nước.

Khu thác chưa có đơn vị quản lý, nên mọi thứ bạn mang vào, kể cả rác sau buổi cắm trại, nên mang ra. Lối vào thác đi qua một thôn đang có người sống, nên hãy hỏi trước khi chụp ảnh người dân.

Thác số 6 hợp với nửa buổi dạo gần thành phố trước hoặc sau cung đường Cao nguyên đá, với gia đình và người thích đi bộ nhẹ, cắm trại ngày cuối tuần. Nếu bạn tìm một ngọn thác cao, nhiều tầng, nơi này sẽ nhỏ hơn mong đợi; còn nếu muốn ghép thêm ruộng bậc thang, các thôn Nà Thác, Khuổi My, Lùng Vài ở phía trên là chặng đi tiếp hợp lý.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ ngắn từ cuối thôn Hạ Thành vào thác
  • Cắm trại, dã ngoại trên bãi cỏ quanh thác
  • Chụp ảnh, ngâm chân bên hồ dưới chân thác
  • Ghé làng Tày Hạ Thành nghe hát then, ăn món địa phương

Từ khóa

  • Thiên nhiên & Mùa
  • Tuyên Quang
  • phường Hà Giang 1
  • thác nước
  • thôn Hạ Thành
  • cắm trại
  • Hà Giang cũ

Chợ địa phương

Chợ Bắc Mê

Chợ trung tâm thị trấn Yên Phú cũ trên Quốc lộ 34, đầu mối hàng hóa của vùng Bắc Mê

Bắc Mê, Tuyên Quang

Câu chuyện

Từ thành phố Hà Giang theo Quốc lộ 34 khoảng 53 km về hướng Cao Bằng là tới phố huyện Bắc Mê cũ, tức thị trấn Yên Phú trước đây, nay là khu trung tâm xã Bắc Mê. Chợ Bắc Mê là chợ trung tâm của thị trấn ấy, nơi bà con các xã quanh vùng và tiểu thương đổ về mua bán. Khác với những chợ phiên họp theo ngày ở các xã, chợ trung tâm còn là đầu mối cung cấp hàng hóa cho các chợ trong vùng.

Ngày chợ phiên Bắc Mê khai trương cuối tháng 4 năm 2012, huyện đặt cho nó hai việc: buôn bán và giữ gìn văn hóa của đồng bào các dân tộc trên địa bàn, đông nhất là Dao, Mông và Tày. Báo địa phương khi ấy tả phiên chợ sáng Chủ nhật có múa khèn Mông, hát phướn, hát cọi, hát đối đáp giao duyên của người Dao, người Tày và một xới chọi dê ở góc chợ. Với không ít chị em đi chợ khi ấy, lý do xuống chợ không chỉ là mấy bắp ngô mang bán mà là để được hát đối đáp cùng nhau.

Theo báo địa phương từ năm 2015 đến năm 2019, chợ có thêm 40 gian hàng bán thường xuyên, chia khu riêng cho tạp hóa, quần áo, vải, đồ uống và thực phẩm tươi sống. Gian thổ cẩm truyền thống của người Dao là chỗ nhiều người ghé xem; những ngày giáp Tết Nguyên đán, chợ đông người mua, người bán từ các nơi đổ về.

Đây là chợ dân sinh của một thị trấn vùng cao: phần lớn hàng hóa phục vụ đời sống thường ngày, một bút ký năm 2024 viết chợ huyện nay có đủ mặt hàng như chợ ở thành phố. Những mô tả về phiên Chủ nhật và các hoạt động văn hóa ở trên là của năm 2012; lịch họp phiên hiện nay chưa được công bố chính thức, nên hãy hỏi lại người địa phương hoặc nơi lưu trú trước khi đi riêng tới vì chợ phiên.

Ở gian thổ cẩm hay khi bà con đang hát, hãy hỏi trước khi chụp ảnh người; mua vải, nông sản trực tiếp từ người bán là cách để tiền về thẳng gia đình họ.

Chợ Bắc Mê hợp với người đi Quốc lộ 34 hay Quốc lộ 280 từ Na Hang, muốn dừng chân ở phố huyện, mua đồ ăn, xem gian thổ cẩm. Nếu bạn tìm một phiên chợ vùng cao đông đúc theo lịch cố định, các chợ phiên xã trong vùng như Đường Hồng, hoặc chợ phiên sáng Chủ nhật ở Mèo Vạc, Đồng Văn sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua thực phẩm tươi sống, nông sản địa phương
  • Xem gian thổ cẩm truyền thống của người Dao
  • Mua quần áo, vải, đồ tạp hóa

Từ khóa

  • Chợ địa phương
  • Tuyên Quang
  • xã Bắc Mê
  • Yên Phú
  • chợ trung tâm
  • Quốc lộ 34
  • người Dao
  • thổ cẩm

Không gian di sản

Thành nhà Mạc

Dấu tích thành Tuyên Quang giữa trung tâm tỉnh lỵ: cổng vòm gạch và đoạn tường thành, di tích quốc gia từ năm 1991.

Minh Xuân, Tuyên Quang

Câu chuyện

Thành nhà Mạc là cách gọi quen của di tích thành Tuyên Quang, nằm giữa trung tâm tỉnh lỵ, nay thuộc phường Minh Xuân, trên trục đường Bình Thuận, giữa hai khu phố Xuân Hòa và Tam Cờ. Thành phố Tuyên Quang cũ cách Hà Nội khoảng 125 km. Di tích được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991, theo Quyết định số 1548 ngày 30/8/1991.

Theo mô tả của báo tỉnh, thành xưa hình vuông, mỗi cạnh 275 m, tường cao 3,5 m, bốn cửa hình bán nguyệt có tháp mái ngói vảy, phía trong tường có đường tiếp đạn, bên ngoài có hào nước. Gạch xây là đá ong; thời Nguyễn thành được gia cố bằng gạch nhỏ. Trong thành có núi Thổ Sơn cao gần 50 m.

Niên đại của thành chưa thống nhất. Báo tỉnh ghi thành xây khoảng 1533 - 1548; một số bài khác ghi năm 1592 thời Mạc, kèm lời tương truyền thành và núi Thổ Sơn được đắp trong một đêm; một bài nghiên cứu lập luận nhà Mạc không chiếm được vùng này và thành được xây thời Nguyễn. Cái tên "nhà Mạc" vì vậy nên hiểu là tên gọi dân gian.

Thành gắn với nhiều sự kiện: từ tháng 8/1884 đến tháng 4/1885 nghĩa quân cùng quân Lưu Vĩnh Phúc vây quân Pháp trong thành; ngày 20 - 21/8/1945 Giải phóng quân đánh chiếm, quân Nhật trong thành đầu hàng ngày 21/8/1945; ngày 20/3/1961 nhân dân mít tinh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại sân vận động chân núi Thổ Sơn.

Điều bạn thấy hôm nay khá ít: một cổng vòm gạch với đoạn tường ngắn đã được gia cố, đứng giữa phố. Các nguồn còn ghi khác nhau về cổng còn lại (cổng Tây và cổng Nam, hay cổng Bắc và cổng Tây). Một lần dừng chân thường chỉ 30 phút đến 1 giờ, nên hợp để ghép với lịch trình trong trung tâm tỉnh. Giờ mở cửa và vé chưa có thông tin chính thức.

Cổng thành nằm giữa đường phố có xe qua lại; khi dừng xem và chụp ảnh, đứng ở vỉa hè, không băng ngang đường bất ngờ và không trèo lên tường gạch.

Thành hợp với người quan tâm lịch sử địa phương và đang ở trung tâm tỉnh. Nếu muốn một di tích lịch sử có không gian tham quan, thuyết minh đầy đủ hơn trong tỉnh, Khu di tích Tân Trào là lựa chọn nên đi.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan cổng thành và đoạn tường thành
  • Tìm hiểu lịch sử thành Tuyên Quang
  • Kết hợp dạo trung tâm tỉnh lỵ

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • thành cổ
  • núi Thổ Sơn
  • lịch sử
  • phường Minh Xuân
  • Tuyên Quang

An toàn & Hỗ trợ

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang

Bệnh viện đa khoa hạng I của tỉnh ở số 44 Lê Duẩn, cấp cứu và nội trú 24/24 giờ

Minh Xuân, Tuyên Quang

Câu chuyện

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang nằm ở số 44 đường Lê Duẩn, phường Minh Xuân, khu trung tâm thành phố Tuyên Quang cũ. Đây là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế, tiền thân là Nhà thương Cách mạng tỉnh Tuyên Quang thành lập ngày 22/8/1945, hiện có 850 giường kế hoạch.

Khoa cấp cứu và khu điều trị nội trú hoạt động 24/24 giờ. Khi gặp tình huống cần cấp cứu, bạn đến thẳng bệnh viện hoặc gọi 115, số cấp cứu y tế toàn quốc, gọi miễn phí. Khám bệnh theo giờ hành chính từ thứ Hai đến thứ Bảy, sáng 7:00–11:30, chiều 13:30–17:00; nghỉ Chủ nhật và các ngày Lễ, Tết (thông báo của bệnh viện áp dụng từ 04/6/2026).

Để bớt thời gian chờ, bạn có thể đặt lịch khám trước ít nhất một ngày, tối đa một tuần, qua trang khambenh.benhvientuyenquang.org.vn hoặc ứng dụng "BV Đa Khoa Tuyên Quang" (CH Play) và "DK Tuyên Quang" (App Store); hệ thống nhận đặt lịch từ 7h đến 21h mọi ngày. Khi đến khám, mang căn cước công dân hoặc hộ chiếu cùng thẻ bảo hiểm y tế, hoặc ứng dụng VNeID đã tích hợp thẻ. Người không thuộc diện bảo hiểm chi trả nộp tạm thu ở quầy số 10, thanh toán được bằng quét mã QR.

Cần biết trước: khám ngoại trú theo bảo hiểm y tế mà nơi đăng ký ban đầu ở tuyến xã, phường thì cần giấy chuyển tuyến, nếu không sẽ tự chi trả toàn bộ chi phí khám ngoại trú; nhập viện điều trị nội trú thì không cần giấy chuyển tuyến. Người bệnh cấp cứu, trẻ dưới 6 tuổi, người từ 75 tuổi, phụ nữ có thai được ưu tiên khám.

Điện thoại bệnh viện 0207.3822.693, tổng đài chăm sóc khách hàng 0207.3822.696. Đừng nhầm với Bệnh viện đa khoa Hà Giang tỉnh Tuyên Quang, một bệnh viện khác của tỉnh.

Có gì để trải nghiệm

  • Cấp cứu 24/24 giờ
  • Điều trị nội trú
  • Khám bệnh thứ Hai – thứ Bảy, giờ hành chính
  • Đặt lịch khám qua web và ứng dụng
  • Khám chữa bệnh theo bảo hiểm y tế
  • Thanh toán quét mã QR

Từ khóa

  • an toàn & hỗ trợ
  • bệnh viện
  • cấp cứu 24/24
  • Tuyên Quang
  • Minh Xuân
  • bảo hiểm y tế
  • đặt lịch khám online

An toàn & Hỗ trợ

Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn

Bệnh viện công lập của Sở Y tế ở trung tâm xã Đồng Văn, có khoa khám bệnh và cấp cứu 24h

Đồng Văn, Tuyên Quang

Câu chuyện

Bệnh viện đa khoa khu vực Đồng Văn, trước đây có tên là Bệnh viện Đa khoa huyện Đồng Văn, là bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế tỉnh Tuyên Quang, ở thôn Thành Tâm, xã Đồng Văn, khu trung tâm của huyện Đồng Văn cũ trên cao nguyên đá. Theo danh sách đăng ký hành nghề do Sở Y tế công bố (tháng 10/2026), bệnh viện làm việc 24/24 giờ.

Nếu bạn đang ở Đồng Văn hoặc đi tiếp lên Lũng Cú, sang Mèo Vạc và cần khám bệnh, xử trí y tế, đây là bệnh viện đa khoa của khu vực. Bệnh viện có khoa khám bệnh và cấp cứu 24h, khoa cấp cứu – hồi sức tích cực – gây mê – phẫu thuật, cùng các khoa Nội tổng hợp, Ngoại tổng hợp, Phụ sản, Nhi. Trang Sở Y tế (8/2024) nêu bệnh viện triển khai phẫu thuật nội soi một số bệnh lý cấp cứu ổ bụng, sản phụ khoa, phẫu thuật kết hợp xương, chụp cắt lớp vi tính, siêu âm, và hội chẩn trực tuyến với chuyên gia các bệnh viện tuyến Trung ương.

Khi khẩn cấp, bạn gọi 115, tức số gọi cấp cứu y tế trên toàn quốc, hoặc đến thẳng bệnh viện theo ghim bản đồ. Số điện thoại riêng của bệnh viện và giờ khám ngoại trú chưa có trên các nguồn chính thức mà Localis đối chiếu. Hãy mang theo giấy tờ tùy thân và thẻ bảo hiểm y tế nếu có.

Trên Google Maps, bệnh viện vẫn hiện tên cũ "Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn"; văn bản mới dùng tên bệnh viện đa khoa khu vực. Đừng nhầm với Bệnh viện Đa khoa Hà Nội – Đồng Văn, một bệnh viện tư ở vùng Hà Nam cũ. Đây là cơ sở y tế chứ không phải điểm tham quan, vì vậy chỉ ghé khi bạn cần.

Có gì để trải nghiệm

  • Khám bệnh, chữa bệnh đa khoa
  • Khám bệnh và cấp cứu 24h
  • Khám Nội, Ngoại, Nhi, Phụ sản
  • Siêu âm, chụp cắt lớp vi tính
  • Phẫu thuật nội soi, phẫu thuật kết hợp xương

Từ khóa

  • an toàn & hỗ trợ
  • bệnh viện
  • y tế công lập
  • cấp cứu 24h
  • Đồng Văn
  • cao nguyên đá
  • Tuyên Quang

Không gian di sản

Đèo Mã Pí Lèng – sông Nho Quế

Đoạn quốc lộ 4C dài khoảng 20 km trên Con đường Hạnh Phúc, nhìn xuống hẻm Tu Sản và sông Nho Quế; danh thắng quốc gia.

Tuyên Quang

Câu chuyện

Đèo Mã Pí Lèng, còn được viết là Mã Pì Lèng, nằm trên Quốc lộ 4C, nối Đồng Văn với Mèo Vạc, thuộc tỉnh Tuyên Quang. Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Cao nguyên đá Đồng Văn, nơi đây nổi bật bởi địa hình hiểm trở, những vách núi dựng đứng và tầm nhìn ngoạn mục xuống dòng sông Nho Quế cùng hẻm Tu Sản sâu hun hút.

Giá trị nổi bật của Mã Pí Lèng không chỉ nằm ở cảnh quan thiên nhiên mà còn gắn liền với lịch sử khai phá vùng cao nguyên đá. Đèo là một phần của Con đường Hạnh Phúc, tuyến đường được khởi công năm 1959 và hoàn thành năm 1965, với sự góp sức của hàng nghìn thanh niên xung phong, dân công và đồng bào thuộc nhiều dân tộc. Riêng đoạn vượt Mã Pí Lèng là thử thách đặc biệt gian nan, khi những người mở đường phải treo mình trên vách đá, dùng công cụ thủ công để phá đá giữa địa hình hiểm trở. Con đường trở thành biểu tượng của ý chí, sự hy sinh và khát vọng kết nối cộng đồng vùng cao với miền xuôi.

Năm 2009, Mã Pí Lèng được xếp hạng di tích danh lam thắng cảnh quốc gia. Khu vực này còn là không gian sinh sống của đồng bào Mông và các cộng đồng dân tộc vùng cao, nơi những tập quán, nếp sống và bản sắc văn hóa địa phương vẫn hiện diện giữa núi rừng. Đến Mã Pí Lèng, du khách có thể cảm nhận sự hòa quyện giữa giá trị địa chất, vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên và câu chuyện lịch sử đầy tự hào của con người nơi địa đầu Tổ quốc.

Có gì để trải nghiệm

  • Dừng ngắm cảnh trên đèo
  • Đi thuyền vào hẻm Tu Sản
  • Chèo kayak, SUP trên sông Nho Quế

Từ khóa

  • danh thắng quốc gia
  • đèo
  • hẻm Tu Sản
  • sông Nho Quế
  • Con đường Hạnh Phúc
  • Cao nguyên đá Đồng Văn

An toàn & Hỗ trợ

Bệnh viện Đa khoa huyện Mèo Vạc

Bệnh viện công lập của Sở Y tế ở trung tâm xã Mèo Vạc, làm việc 24/24 giờ, 7 ngày trong tuần

Mèo Vạc, Tuyên Quang

Câu chuyện

Bệnh viện đa khoa khu vực Mèo Vạc, trước đây có tên là Bệnh viện Đa khoa huyện Mèo Vạc, là bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế tỉnh Tuyên Quang, nằm ở tổ 5, xã Mèo Vạc, khu trung tâm của huyện Mèo Vạc cũ trên cao nguyên đá. Theo danh sách đăng ký hành nghề do Sở Y tế công bố (tháng 5/2026), bệnh viện làm việc 24/24 giờ, 7 ngày trong tuần.

Nếu bạn đang đi quanh Mèo Vạc, chẳng hạn ở chợ trung tâm, làng văn hóa Pả Vi hay chợ tình Khâu Vai, và cần khám bệnh hoặc xử trí y tế thì đây là bệnh viện đa khoa của khu vực. Người hành nghề tại đây thuộc các khoa Khám bệnh, Nội, Nhi, Phụ sản, Răng Hàm Mặt, Y học cổ truyền – Phục hồi chức năng; phạm vi hành nghề đã đăng ký có chuyên khoa Ngoại, gây mê hồi sức, hồi sức cấp cứu, siêu âm tổng quát, phẫu thuật nội soi và phẫu thuật cấp cứu sản khoa.

Khi khẩn cấp, bạn gọi 115, tức số gọi cấp cứu y tế trên toàn quốc, hoặc đến thẳng bệnh viện theo ghim bản đồ. Số điện thoại riêng của bệnh viện và giờ khám ngoại trú chưa có trên các nguồn chính thức mà Localis đối chiếu. Hãy mang theo giấy tờ tùy thân và thẻ bảo hiểm y tế nếu có.

Trên Google Maps, bệnh viện vẫn hiện tên cũ "Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Mèo Vạc"; văn bản mới dùng tên bệnh viện đa khoa khu vực. Đây là cơ sở y tế chứ không phải điểm tham quan, vì vậy chỉ ghé khi bạn cần.

Có gì để trải nghiệm

  • Khám bệnh, chữa bệnh đa khoa
  • Làm việc 24/24 giờ, 7 ngày trong tuần
  • Khám Nhi, Phụ sản, Răng Hàm Mặt
  • Siêu âm tổng quát
  • Phẫu thuật nội soi, phẫu thuật cấp cứu sản khoa
  • Y học cổ truyền – phục hồi chức năng

Từ khóa

  • an toàn & hỗ trợ
  • bệnh viện
  • y tế công lập
  • làm việc 24/24
  • Mèo Vạc
  • cao nguyên đá
  • Tuyên Quang

An toàn & Hỗ trợ

Bệnh viện Đa khoa huyện Hoàng Su Phì

Bệnh viện đa khoa khu vực công lập ở trung tâm xã Hoàng Su Phì, hoạt động 24/24 giờ hằng ngày

Hoàng Su Phì, Tuyên Quang

Câu chuyện

Bệnh viện đa khoa khu vực Hoàng Su Phì nằm ở thôn 3, xã Hoàng Su Phì, nơi trước đây là thị trấn Vinh Quang, huyện lỵ của huyện Hoàng Su Phì thuộc tỉnh Hà Giang cũ. Đây là bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y tế Tuyên Quang, được tách ra từ Trung tâm y tế huyện Hoàng Su Phì từ ngày 18/12/2006.

Bệnh viện đăng ký với Sở Y tế thời gian hoạt động 24/24 giờ hằng ngày, nên là nơi tìm đến khi cần cấp cứu ở khu vực Hoàng Su Phì; trong tình huống khẩn cấp, bạn gọi 115, số cấp cứu y tế toàn quốc, gọi miễn phí. Bác sĩ khám theo giờ hành chính từ thứ Hai đến thứ Sáu, ngoài giờ có lịch trực mà bệnh viện công bố hằng tuần trên trang thông tin của mình.

Danh mục kỹ thuật của bệnh viện gồm siêu âm, điện tim, chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, xét nghiệm, nội soi, thủ thuật và phẫu thuật, đủ cho phần lớn nhu cầu khám và xử trí ban đầu khi bạn đang ở vùng cao xa trung tâm tỉnh.

Bạn sẽ gặp nhiều cách gọi: Bệnh viện Đa khoa Hoàng Su Phì, Bệnh viện ĐKKV Hoàng Su Phì, hay tên cũ thị trấn Vinh Quang trên các trang web. Trên bản đồ còn có "Khu tập thể Bệnh viện Hoàng Su Phì" cách khoảng 400 m, đó là khu nhà ở chứ không phải nơi khám bệnh. Số điện thoại bệnh viện công bố vẫn dùng mã vùng 0219 của Hà Giang cũ, nên khi cần hỗ trợ gấp hãy ưu tiên số 115.

Có gì để trải nghiệm

  • Cấp cứu, hoạt động 24/24 giờ
  • Khám bệnh, chữa bệnh
  • Siêu âm, X-quang, chụp cắt lớp vi tính
  • Xét nghiệm, nội soi
  • Phẫu thuật, thủ thuật

Từ khóa

  • an toàn & hỗ trợ
  • bệnh viện
  • cấp cứu
  • Tuyên Quang
  • Hoàng Su Phì
  • Vinh Quang

An toàn & Hỗ trợ

Bệnh viện Đa khoa huyện Na Hang

Cơ sở khám chữa bệnh công lập ở xã Nà Hang, làm việc 24/24 giờ, nay mang tên Bệnh viện Đa khoa khu vực Na Hang

Nà Hang, Tuyên Quang

Câu chuyện

Bệnh viện Đa khoa khu vực Na Hang nằm ở số 340 đường Nguyễn Tất Thành, xã Nà Hang. Đây là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập trực thuộc Sở Y tế Tuyên Quang; từ ngày 01/10/2026, Trung tâm Y tế khu vực Na Hang được tổ chức lại và đổi sang tên này để chuyên khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng.

Cơ sở đăng ký với Sở Y tế thời gian làm việc 24/24 giờ, nên đây là nơi tìm đến khi cần cấp cứu ở khu vực Na Hang; trong tình huống khẩn cấp, bạn gọi 115, số cấp cứu y tế toàn quốc, gọi miễn phí. Lịch khám ngoại trú chưa được công bố trên kênh chính thức; các bác sĩ đăng ký làm việc giờ hành chính từ thứ Hai đến thứ Sáu và theo lịch trực.

Vì tên mới mới có hiệu lực, biển hiệu, bản đồ và nhiều trang web có thể vẫn ghi Trung tâm Y tế khu vực Na Hang hoặc Bệnh viện Đa khoa huyện Na Hang, đều chỉ cùng cơ sở này. Đừng nhầm với Bệnh viện Đa khoa khu vực Yên Hoa ở xã Yên Hoa, một bệnh viện khác của tỉnh. Bệnh viện chưa công bố số điện thoại liên hệ trên các kênh chính thức, nên khi cần hỗ trợ khẩn cấp hãy ưu tiên số 115.

Có gì để trải nghiệm

  • Cấp cứu, làm việc 24/24 giờ
  • Khám bệnh, chữa bệnh
  • Phục hồi chức năng

Từ khóa

  • an toàn & hỗ trợ
  • bệnh viện
  • cấp cứu
  • Tuyên Quang
  • Nà Hang
  • Na Hang

Thiên nhiên & Mùa

Hang Bó Mỳ

Hang nước dài khoảng 2 km ở bản Khun, nhiều nhũ đá, là nơi sống của cá Mỳ (cá dầm xanh) và nguồn nước của bản

Bằng Lang, Tuyên Quang

Câu chuyện

Hang Bó Mỳ là hang nước trong bản Khun (thôn Khun), xã Bằng Lang, tỉnh Tuyên Quang, thuộc vùng Quang Bình của Hà Giang cũ. Theo Báo Người Lao Động (5/2023), hang cách trung tâm xã Bằng Lang cũ khoảng 4 km, cách trung tâm huyện Quang Bình cũ khoảng 8 km. Trên bản đồ "Cảnh sắc thiên nhiên" trong ấn phẩm giới thiệu bản Khun, hang là chặng cuối, sau Cổng làng, thác Vàng Lìn và thảo nguyên.

Theo tiếng Tày, "Bó Mỳ" nghĩa là hang có nhiều cá dầm xanh (Báo Hà Giang 10/2021). Ấn phẩm của bản gọi loài này là cá Mỳ. Báo tỉnh ghi có con nặng khoảng 2 kg, nhưng phải may mắn mới thấy. Hang còn là nguồn nước: ấn phẩm gọi đây là mạch nguồn của bản Khun, và năm 2021 hang là nguồn dự trữ nước sinh hoạt mùa khô cho 5 trên 8 thôn của xã Bằng Lang cũ.

Về kích thước, ấn phẩm ghi hang dài hơn 2 km; Báo Hà Giang (2021) và Người Lao Động (2023) ghi sâu gần 2 km, chỗ rộng nhất khoảng 20 m, chỗ cao nhất khoảng 50 m. Hang có hai phần: hang nước là phần tham quan chính, hang khô là một lối ra khác, thường ẩm và có sương mù. Nhũ đá có màu vàng, xám, xanh rêu, xen cột đá và chuông đá.

Một dòng suối ngầm chảy suốt hang, nên vào hang là lội nước. Phóng viên Báo Hà Giang năm 2021 phải lội qua chỗ nước sâu ngang ngực. Người Lao Động năm 2023 ghi có đoạn sâu hơn 2 m, người dân dựng bè để khách qua; có đoạn vách hẹp, khách phải bám vách đi theo chỉ dẫn của người dẫn đường. Điểm dừng cuối là một hồ nước nhỏ dưới dòng thác trong hang. Các đoàn khách mới đi được một phần hang.

Cần biết trước: ấn phẩm ghi chặng này cần hướng dẫn viên, và tùy thời tiết có thể đổi sang hang Xung Khuất. Chưa có công bố chính thức về vé, giờ vào hang hay trang bị bắt buộc. Mực nước trong hang thay đổi theo mùa, nên hỏi người dẫn đường về tình trạng nước trước khi đi, nhất là sau những ngày mưa. Mang đèn pin và đồ có thể ướt hết.

Hang là nguồn nước sinh hoạt của người dân quanh đó. Bạn đừng xả rác, đừng bắt cá, đừng bẻ hay chạm vào nhũ đá.

Bó Mỳ hợp với người khỏe, không ngại lội nước và ở trong không gian tối. Trẻ nhỏ, người không biết bơi, người sợ nước sâu hoặc sợ tối nên cân nhắc. Nếu không muốn vào hang, bạn vẫn có thể đi thác Vàng Lìn hay thảo nguyên Khuổi Dầu - Xung Khuất trong cùng bản Khun.

Có gì để trải nghiệm

  • Khám phá hang cùng hướng dẫn viên
  • Ngắm nhũ đá
  • Lội suối trong hang

Từ khóa

  • hang động
  • nhũ đá
  • cá dầm xanh
  • nguồn nước
  • bản Khun

Làng cộng đồng

Nhà bảo tồn văn hóa bản Khun

Bốn nhà bảo tồn văn hóa của người Tày, Nùng, La Chí và Dao ở bản Khun, do các hộ gia đình trong bản đứng tên

Bằng Lang, Tuyên Quang

Câu chuyện

Nhà bảo tồn văn hóa bản Khun không phải một bảo tàng mà là bốn nhóm nhà của các gia đình trong bản Khun, xã Bằng Lang, tỉnh Tuyên Quang (vùng Quang Bình của Hà Giang cũ). Mỗi nhóm ứng với một dân tộc đang sống trong thôn: Tày, Nùng, La Chí và Dao.

Theo trang "Văn hóa bản địa" trong tập giới thiệu song ngữ của bản, nhà bảo tồn người Tày gồm 2 hộ, người Nùng 3 hộ, người La Chí 1 hộ, người Dao 2 hộ, tổng cộng 8 hộ đứng tên. Ấn phẩm chỉ ghi tên nhà và tên chủ hộ, không mô tả bên trong trưng bày gì.

Các nguồn khác cho biết bối cảnh. Thôn có 178 hộ theo cổng thông tin tỉnh (có bài báo năm 2026 ghi hơn 200 hộ), người Tày chiếm khoảng 70%. Trong mô hình du lịch cộng đồng do dự án ST4SD hỗ trợ, có 5 hộ chuyên bảo tồn văn hóa truyền thống, được hỗ trợ trang phục truyền thống và công cụ làm nghề thủ công. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, người dân không biểu diễn cho khách mà vẫn nhuộm chàm, đan lát, nấu món truyền thống như ngày thường.

Vì thế, khi đến một nhà bảo tồn, bạn đang vào nhà của một gia đình. Thứ bạn có thể xem là nếp nhà sàn, nghề dệt, đan quẩy tấu, nhuộm chàm, món ăn của từng dân tộc, tùy hộ và tùy ngày. Nên đi cùng hướng dẫn viên hoặc chủ homestay để được giới thiệu với chủ nhà.

Hạn chế cần biết: chưa có công bố chính thức về giờ đón khách, phí tham quan hay việc các hộ có nhận khách ngủ lại không. Vị trí từng nhà chưa có trên bản đồ số, nên nhờ người trong bản dẫn đường.

Trong nhà có thể có bàn thờ và các vật dùng trong nghi lễ, như nghi lễ cấp sắc của người Dao hay lễ mừng cơm mới của người La Chí mà Báo Văn hóa nhắc đến. Không chạm vào đồ thờ, hỏi chủ nhà trước khi chụp ảnh người và không gian trong nhà. Nếu muốn mua đồ dệt, đan, hãy mua trực tiếp tại nhà.

Điểm này hợp với người muốn so sánh đời sống bốn dân tộc trong cùng một thôn và có thời gian ngồi nói chuyện với chủ nhà. Nếu bạn cần một nơi trưng bày có thuyết minh, giờ mở cửa rõ ràng, hãy chọn một bảo tàng hoặc khu di tích có ban quản lý thay vì điểm này.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan nhà bảo tồn văn hóa từng dân tộc
  • Tìm hiểu đời sống gia đình người Tày, Nùng, La Chí, Dao

Từ khóa

  • nhà bảo tồn
  • người Tày
  • người Nùng
  • người La Chí
  • người Dao
  • bản Khun

Thiên nhiên & Mùa

Thảo nguyên Khuổi Dầu – Xung Khuất

Thảo nguyên và rừng cọ của bản Khun, nơi cắm trại, hái lá cọ làm nón cùng người dân và lên đỉnh núi Khau Buôn

Bằng Lang, Tuyên Quang

Câu chuyện

Thảo nguyên Khuổi Dầu - Xung Khuất là vùng đồi cỏ và rừng cọ của bản Khun (thôn Khun), xã Bằng Lang, tỉnh Tuyên Quang, vùng Quang Bình thuộc Hà Giang cũ. Tên này ghép từ hai địa danh mà ấn phẩm giới thiệu bản Khun nhắc tới: rừng cọ Khuổi Dầu và đồi cọ Xung Khuất. Trên bản đồ "Cảnh sắc thiên nhiên" của bản, đây là chặng thứ ba, sau thác Vàng Lìn, trước hang Bó Mỳ.

Điểm khác của nơi này, theo chính ấn phẩm, là cảnh rừng cọ trải dài, khác với những dãy núi đá tai mèo ở vùng Hà Giang cũ. Người dân hái lá cọ làm nón, và mái cổng làng bản Khun cũng lợp lá cọ.

Ấn phẩm gợi ý bạn cắm trại trên thảo nguyên, cùng người dân hái lá cọ làm nón, và hướng về đỉnh núi Khau Buôn, được ấn phẩm gọi là núi thiêng. Bản tiếng Việt viết "chinh phục" đỉnh núi, còn bản tiếng Anh của cùng ấn phẩm viết là ngắm đỉnh núi từ thảo nguyên; chưa có công bố về đường lên đỉnh. Báo Hà Giang (10/2021) ghi trên đỉnh núi, được báo viết là Khau Buân, có hàng cây chò chỉ được mô tả là hàng nghìn năm tuổi.

Cần biết trước: bản đồ của ấn phẩm ghi chặng này cần hướng dẫn viên và tùy thời tiết để chọn rừng cọ Khuổi Dầu hay đồi cọ Xung Khuất. Chưa có công bố chính thức về phí, nơi được phép cắm trại hay quy định đốt lửa. Hãy hỏi homestay hoặc người dẫn đường của bản trước khi đi.

Ấn phẩm của bản gọi Khau Buôn là núi thiêng. Trước khi lên núi hay dựng trại, hỏi người dẫn về những điều cần kiêng, và không tự ý đốt lửa trong rừng cọ.

Thảo nguyên hợp với người thích cắm trại, đi bộ đồi và muốn làm việc tay chân cùng người dân. Nếu chỉ muốn một chặng nhẹ gần bản, thác Vàng Lìn phù hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Cắm trại trên thảo nguyên
  • Hái lá cọ làm nón cùng người dân
  • Leo núi Khau Buôn

Từ khóa

  • thảo nguyên
  • rừng cọ
  • cắm trại
  • núi Khau Buôn
  • bản Khun

Dữ liệu từ hệ thống Localis. Các địa điểm đang được biên tập dần thành bài viết và hồ sơ điểm đến.