Bỏ qua, đến nội dung chính
Localis

Miền Trung · Thành phố trực thuộc trung ương

Huế

Cố đô bên sông Hương, nơi dấu ấn cung đình, ẩm thực tinh tế và nhịp sống chậm rãi vẫn hiện hữu giữa đời sống.

45địa điểm đã kiểm chứng
21không gian di sản
2bài viết
Chùa Từ Hiếu
Chùa Từ Hiếu
Đàn Nam Giao
Đàn Nam Giao
Thuyền rồng bên bờ sông Hương
Thuyền rồng bên bờ sông Hương

16,45°B · 107,58°Đ

vị trí trên bản đồ Việt Nam

Ảnh nền: Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

Khám phá Huế

  • Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

    Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

    Quần thể lăng của vua Gia Long và hoàng tộc giữa 42 đồi núi Thiên Thọ Sơn, xây 1814–1820, không xây La thành, mộ vua và hoàng hậu nằm cạnh nhau.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Chùa Từ Hiếu

    Chùa Từ Hiếu

    Ngôi chùa triều Nguyễn giữa rừng thông ở Thủy Xuân, có khu mộ các thái giám và là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất gia, viên tịch.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Đàn Nam Giao

    Đàn Nam Giao

    Đàn tế Trời Đất ba tầng của triều Nguyễn, khởi dựng năm 1806 phía nam Kinh thành, nơi diễn ra 98 kỳ lễ tế Giao từ 1807 đến 1945.

    Không gian di sản · Thuận Hóa

  • Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế

    Đại Nội Huế (Hoàng thành)

    Hoàng thành và Tử Cấm thành của triều Nguyễn giữa Kinh thành Huế, lõi của Quần thể di tích Cố đô Huế vốn là di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam (1993).

    Không gian di sản · Phú Xuân

  • Mặt tiền chợ Đông Ba, Huế

    Chợ Đông Ba

    Chợ bên bờ bắc sông Hương, dời về chỗ hiện nay từ năm 1899, nơi người Huế đi chợ hằng ngày và khách tìm mắm, mè xửng, nón lá.

    Chợ địa phương · Phú Xuân

  • Cầu ngói Thanh Toàn

    Cầu ngói Thanh Toàn

    Cầu gỗ mái ngói kiểu "thượng gia, hạ kiều" dựng năm 1776 bên sông Như Ý, gian giữa thờ bà Trần Thị Đạo, người bỏ tiền làm cầu.

    Không gian di sản · Thanh Thủy

  • Một bức tranh dân gian làng Sình

    Làng tranh làng Sình

    Làng Lại Ân ở ngã ba sông Hương, sông Bồ giữ dòng tranh khắc gỗ dân gian dùng để thờ và hóa trong lễ cầu an, cúng Tết.

    Làng nghề · Dương Nỗ

  • Bảo tàng Hồ Chí Minh thành phố Huế

    Bảo tàng ở 7 Lê Lợi kể về những năm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống ở Huế (1895–1901, 1906–1909), có không gian dựng lại đời sống gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc.

    Bảo tàng · Thuận Hóa

  • Lễ hội Điện Hòn Chén

    Lễ rước Thánh Mẫu Thiên Y A Na bằng thuyền ngược sông Hương lên điện Huệ Nam vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2024.

    Lễ hội · Kim Long

  • Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam

    Nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế trên đồi Phước Quả, giáo xứ có từ năm 1682; công trình hiện nay do Ngô Viết Thụ thiết kế, xây từ 1963 đến 2000.

    Không gian di sản · Thuận Hóa

  • Lăng Thiệu Trị

    Xương Lăng giữa đồng lúa làng Cư Chánh, xây năm 1848, kết hợp mô thức lăng Gia Long và lăng Minh Mạng, lăng duy nhất quay hướng tây bắc.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Trường Quốc Học Huế

    Trường Pháp - Việt lập năm 1896 bên sông Hương, nơi Nguyễn Tất Thành học năm 1908–1909; nay vừa là trường THPT chuyên vừa là di tích quốc gia đặc biệt.

    Không gian di sản · Thuận Hóa

  • Lăng Đồng Khánh

    Tư Lăng ở Thủy Xuân, dựng và sửa qua bốn đời vua từ 1888 đến 1923: khu điện thờ theo lối cung đình, khu mộ mang nhiều nét kiến trúc châu Âu.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Lễ hội Cầu ngư Thai Dương Hạ

    Lễ cầu ngư ba năm một lần vào tháng Giêng của hai làng biển cùng gốc Thai Dương Hạ và Thai Dương ở Thuận An, có trò trẻ em đóng vai cá giữa sân đình và đua ghe trên phá Tam Giang.

    Lễ hội · Thuận An

  • Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế

    Bảo tàng lập năm 1923 dưới tên Musée Khải Định, trưng bày cổ vật cung đình Nguyễn trong điện Long An xây năm 1845, giữ hơn 11.000 hiện vật.

    Bảo tàng · Phú Xuân

  • Làng cổ Phước Tích

    Làng bên sông Ô Lâu lập năm 1470, di tích quốc gia từ 2009, với hàng chục nhà rường trong vườn chè tàu và nghề gốm hơn 500 năm.

    Làng cộng đồng · Phong Dinh

  • Đồi Vọng Cảnh

    Đồi thông cao 43 m bên khúc quanh sông Hương ở phía tây nam Huế, giữa vùng lăng tẩm triều Nguyễn, nhìn sang điện Hòn Chén, được chỉnh trang thành nơi ngắm cảnh từ năm 2021.

    Thiên nhiên & Mùa · Thủy Xuân

  • Lăng Minh Mạng

    Hiếu Lăng trên núi Cẩm Kê gần ngã ba Bằng Lãng, xây 1840–1843, các công trình xếp đăng đối trên trục Thần đạo dài 700 m giữa hồ Trừng Minh.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Chùa Từ Đàm

    Chùa trên dốc Nam Giao, nơi nhà sư Liễu Quán học đạo và nơi đại biểu Phật giáo ba miền họp thống nhất năm 1951.

    Không gian di sản · Thuận Hóa

  • Biển Thuận An

    Bãi biển cách trung tâm Huế 12–15 km về phía đông, cạnh cửa biển nơi sông Hương qua phá Tam Giang ra biển; bờ đang được kè, xây đê ngầm chống sạt lở đến cuối năm 2027.

    Thiên nhiên & Mùa · Thuận An

  • Nhà vườn An Hiên

    Nhà vườn quý tộc ở Kim Long quay mặt ra sông Hương, qua nhiều đời chủ từ công chúa con vua Dục Đức đến bà Tuần Chi, nay do doanh nghiệp mở cửa đón khách.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Chùa Thiên Mụ

    Ngôi chùa trên đồi Hà Khê bên sông Hương do chúa Nguyễn Hoàng lập năm 1601, có tháp Phước Duyên 7 tầng và hai bảo vật quốc gia.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Vườn quốc gia Bạch Mã

    Vườn quốc gia hơn 37.400 ha thành lập năm 1991, có khu nghỉ mát thời Pháp trên đỉnh, thác Đỗ Quyên cao trên 300 m và các đường mòn Hải Vọng Đài, Ngũ Hồ.

    Thiên nhiên & Mùa · Phú Lộc

  • Điện Hòn Chén

    Điện thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na trên núi Ngọc Trản bên sông Hương, được vua Đồng Khánh đổi tên điện Huệ Nam, di tích quốc gia từ năm 1998.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Trung tâm Nghệ thuật Điềm Phùng Thị

    Cơ sở trưng bày của Bảo tàng Mỹ thuật Huế ở 17 Lê Lợi, giữ 367 tác phẩm nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị tặng Huế, với ngôn ngữ 7 mô-đun lắp ghép.

    Phòng tranh · Thuận Hóa

  • Lăng Tự Đức

    Khiêm Lăng của vua Tự Đức, xây 1864–1867 trong thung lũng hẹp ở Thủy Xuân, gần 50 công trình mang chữ "Khiêm" quanh hồ Lưu Khiêm.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Phá Tam Giang

    Phần phía bắc của hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng hơn 22.000 ha ven biển Huế, nơi có làng chài, chợ trên phá, rừng ngập mặn Rú Chá.

    Thiên nhiên & Mùa

  • Đầm Lập An

    Đầm nước lợ phía sau bãi biển Lăng Cô, dưới chân đèo Phú Gia, nơi người dân nuôi hàu trên mặt nước và khách đến ngắm hoàng hôn sau dãy Bạch Mã.

    Thiên nhiên & Mùa · Chân Mây - Lăng Cô

  • Sông Hương – cầu Trường Tiền

    Dòng sông chảy qua trung tâm Huế và cây cầu thép 6 nhịp xây 1897–1899 nối hai bờ; buổi tối có thuyền rồng nghe ca Huế.

    Thiên nhiên & Mùa

  • Cung An Định

    Cung điện riêng của vua Khải Định bên sông An Cựu, cải tạo 1917–1919 theo lối tân cổ điển; lầu Khải Tường còn 6 bức tranh tường vẽ các lăng vua Nguyễn.

    Không gian di sản · Thuận Hóa

  • Hổ Quyền

    Đấu trường lộ thiên hình vành khăn vua Minh Mạng cho xây năm 1830 ở Trường Đá để tổ chức các trận voi đấu với hổ; trận cuối cùng diễn ra năm 1904.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Chùa Thánh Duyên (núi Túy Vân)

    Quốc tự triều Nguyễn trên núi Túy Vân bên đầm Cầu Hai, có tháp Điều Ngự ba tầng trên đỉnh, di tích quốc gia từ năm 1996.

    Không gian di sản · Vinh Lộc

  • Làng hương Thủy Xuân

    Các cơ sở làm hương trầm dọc đường Huyền Trân Công Chúa, nổi tiếng với những bó chân hương nhuộm màu xếp thành hình hoa cho khách chụp ảnh.

    Làng nghề · Thủy Xuân

  • Lăng Khải Định

    Ứng Lăng trên triền núi Châu Chữ, xây 1920–1931 bằng bê tông cốt thép, trang trí ghép sành sứ, kết hợp kiến trúc Đông – Tây.

    Không gian di sản · Thủy Xuân

  • Tháp Chăm Phú Diên

    Tháp gạch Champa khoảng đầu thế kỷ VIII, phát hiện năm 2001 dưới cồn cát ven biển, nằm thấp hơn mực nước biển và được che trong nhà kính.

    Không gian di sản · Phú Vinh

  • Chùa Huyền Không Sơn Thượng

    Chùa Nam tông lập năm 1989 trong thung lũng rừng thông ở phía tây Huế, có thư pháp chữ Việt khắc đá, treo dọc lối đi.

    Không gian di sản · Kim Long

  • Vịnh Lăng Cô

    Vịnh biển dưới chân núi Hải Vân, bãi cát trắng dài 8–10 km, phía sau là đầm Lập An; thành viên Câu lạc bộ Những vịnh đẹp nhất thế giới từ tháng 5/2009.

    Thiên nhiên & Mùa · Chân Mây - Lăng Cô

  • Làng nón Tây Hồ

    Làng bên sông Như Ý ở xã Phú Hồ, nơi tương truyền ra đời chiếc nón bài thơ xứ Huế; nay chỉ còn vài nhà giữ nghề chằm nón.

    Làng nghề · Phú Hồ

  • Bội Trân Garden

    Khu vườn nghệ thuật tư nhân rộng hơn 5.000m² trên đồi Thiên An do nghệ nhân ẩm thực Bội Trân xây dựng từ năm 1995, từng được đầu bếp Anthony Bourdain giới thiệu trong chương trình Parts Unknown (CNN, 2014).

    Phòng tranh

  • Sông Như Art Gallery

    Phòng tranh riêng của họa sĩ Đặng Mậu Tựu bên dòng Như Ý, nơi ông đều đặn bày tranh sơn dầu chủ đề con giáp mỗi dịp Tết đến.

    Phòng tranh · Thuận Hóa

  • Không gian Lưu niệm Lê Bá Đảng /Lebadang Memory Space

    Bảo tàng nghệ thuật đương đại tư nhân đầu tiên của Huế, khánh thành ngày 21/4/2019 tại thôn Kim Sơn (xã Thủy Bằng), trưng bày tranh, điêu khắc và không gian nghệ thuật của họa sĩ gốc Quảng Trị Lê Bá Đảng (1921–2015).

    Bảo tàng · Thủy Xuân

  • New Space Arts Foundation

    Không gian nghệ thuật phi lợi nhuận do bộ đôi nghệ sĩ Lê Brothers (Lê Đức Hải, Lê Ngọc Thanh) sáng lập, chuyển về ngôi làng cổ Lại Thế (Phú Vang, Huế) từ năm 2017, tổ chức lưu trú nghệ sĩ và khoảng 12 sự kiện nghệ thuật mỗi năm.

    Nghệ thuật & Sáng tạo · Mỹ Thượng

  • Làng hoa giấy Thanh Tiên

    Làng ven hạ lưu sông Hương giữ nghề làm hoa giấy thờ cúng hơn 300 năm, mỗi cành 8 bông mang ý nghĩa Tam cương, Ngũ thường.

    Làng nghề · Dương Nỗ

  • Làng nghề dệt Zèng A Lưới

    Nghề dệt Zèng của người Tà Ôi ở vùng A Lưới, đưa hạt cườm thẳng vào sợi khi dệt, được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

    Làng nghề

Không gian di sản

Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)

Quần thể lăng của vua Gia Long và hoàng tộc giữa 42 đồi núi Thiên Thọ Sơn, xây 1814–1820, không xây La thành, mộ vua và hoàng hậu nằm cạnh nhau.

Kim Long, Huế

Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng)
Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng).

Câu chuyện

Lăng Gia Long, tên chữ Thiên Thọ Lăng, là nơi an táng vua Gia Long (1762–1820), người lập ra triều Nguyễn, cùng chính phi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu. Lăng nằm giữa vùng đồi thông ở thượng nguồn sông Hương, gần bờ sông Tả Trạch, nay thuộc phường Kim Long, thành phố Huế. VnExpress ghi lăng cách Kinh thành khoảng 20 km; báo Nhân Dân gọi đây là lăng nằm xa Kinh thành nhất.

Tên lăng Gia Long thực ra chỉ cả một quần thể lăng mộ trong hoàng tộc. Lăng xây 6 năm, từ 1814 đến 1820, bắt đầu khi bà Thừa Thiên Cao Hoàng hậu mất ngày 21/2/1814; theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, chính vua đi khảo sát và theo dõi thi công. Cả vùng là một quần sơn 42 đồi núi, ngọn lớn nhất là Đại Thiên Thọ, vừa làm tiền án vừa cho tên chung Thiên Thọ Sơn, nằm trong khu quan phòng rộng hơn 28 km². Trong quần thể còn lăng của mẹ vua, chị ruột vua, vài đời chúa Nguyễn và lăng Thiên Thọ Hữu của Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, mẹ vua Minh Mạng.

Lăng không xây La thành: rừng thông và núi đồi làm ranh giới. Trên đỉnh đồi, trong Bửu Thành là hai ngôi mộ đá của vua và hoàng hậu đặt cạnh nhau theo quan niệm "Càn Khôn hiệp đức". Gia Long là vị vua Nguyễn duy nhất có mộ hoàng hậu nằm bên cạnh.

Từ ngoài vào, bạn gặp hai trụ biểu; theo Trung tâm, xưa có 85 trụ như vậy, nay còn 2. Đường vào xuyên rừng thông. Khu giữa là sân chầu với tượng quan văn võ, voi ngựa bằng đá, rồi 7 cấp sân tế lên Bửu Thành. Bên phải là điện Minh Thành thờ vua và hoàng hậu thứ nhất; bên trái là Bi Đình với bia "Thánh đức thần công" do vua Minh Mạng soạn. Theo lối rừng thông, bạn sang lăng Thiên Thọ Hữu và điện Gia Thành, trước lăng có hồ sen. Từ tháng 2/2024 có tuyến du lịch xanh với xe đạp, xe điện; cung đạp xe quanh lăng dài khoảng 1,5 km.

Hạn chế lớn nhất là đường xa. Năm 2020, báo Nhân Dân ghi hai lối vào: cầu phao do người dân tự bắc qua sông Tả Trạch, hoặc đường qua cầu Tuần, ngang lăng Minh Mạng rồi qua cầu Hữu Trạch; sau mùa lũ nên hỏi lại tình trạng đường. Kiến trúc giản dị: điện Minh Thành chưa sơn son thếp vàng, chạm khắc đơn giản.

Vé người lớn 150.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi miễn phí (từ 02/06/2026); vé tuyến lăng Minh Mạng và lăng Gia Long 240.000 đồng. Giờ bán vé chung của Trung tâm: mùa hè 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00. Tháng 10, 11 các điểm có thể tạm đóng vì lũ như năm 2025.

Điện Minh Thành và điện Gia Thành vẫn là nơi thờ: bỏ mũ nón khi vào điện, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng; không ngồi, sờ hay viết lên bia, tượng đá; không bay flycam khi chưa được phép.

Lăng hợp với người muốn hiểu vị vua lập triều Nguyễn và cách chọn đất đặt lăng, người thích đi bộ, đạp xe dưới rừng thông, nhất là buổi chiều. Nếu chỉ có nửa buổi, lăng Minh Mạng là lựa chọn khác, có chung vé tuyến; lăng Thiệu Trị ở phường Thủy Xuân gần Kinh thành hơn, chừng 8 km, và học nhiều nét từ chính lăng Gia Long.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan Bửu Thành, điện Minh Thành, Bi Đình
  • Sang lăng Thiên Thọ Hữu và điện Gia Thành
  • Đạp xe, đi xe điện theo tuyến du lịch xanh
  • Mua vé tuyến ghép với lăng Minh Mạng

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Thiên Thọ Lăng
  • Gia Long
  • rừng thông
  • du lịch xanh
  • Huế

Không gian di sản

Chùa Từ Hiếu

Ngôi chùa triều Nguyễn giữa rừng thông ở Thủy Xuân, có khu mộ các thái giám và là nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất gia, viên tịch.

Thủy Xuân, Huế

Chùa Từ Hiếu
Chùa Từ Hiếu.

Câu chuyện

Trên đường Lê Ngô Cát, đoạn dẫn lên lăng Tự Đức ở phường Thủy Xuân, chùa Từ Hiếu nằm giữa một đồi thông, phía trước có khe nước chảy quanh. Ngôi chùa triều Nguyễn này gắn với ba câu chuyện: tấm lòng hiếu của vị sư khai sơn, khu mộ của các thái giám triều Nguyễn, và thiền sư Thích Nhất Hạnh, người xuất gia ở đây năm 1942 và viên tịch tại đây năm 2022.

Chùa khởi đầu là am An Dưỡng do Hòa thượng Nhất Định lập; cổng du lịch Huế và Báo Dân trí ghi năm 1843. Tương truyền, khi mẹ già đau yếu, Hòa thượng không ngại lời đàm tiếu, hằng ngày vẫn ra chợ mua cá về nấu cho mẹ; vua Tự Đức cảm phục nên ban biển "Sắc tứ Từ Hiếu Tự". Năm 1848, sau khi Hòa thượng viên tịch, am được xây thành chùa với sự đóng góp của triều đình, các quan thái giám và Phật tử.

Chùa được đại trùng tu năm 1894–1895, thành lối kiến trúc chữ khẩu khép kín. Năm 1931, chùa xây thêm cổng tam quan hai tầng mái và đào hồ bán nguyệt trước cổng. Chánh điện được trùng tu gần đây nhất trong các năm 2019–2020. Trên đồi thông có tháp Bồ Đề xây năm 1896 và mộ tháp của Tổ Nhất Định.

Bạn đi qua cổng tam quan, gặp hồ bán nguyệt rồi mới vào sân và chánh điện. Khu mộ thái giám nằm cách chánh điện khoảng 50 m về bên trái, hơn 20 ngôi mộ xếp thành ba dãy, bia khắc tên, quê quán, pháp danh, chức vụ và ngày mất của từng người. Mỗi năm vào tháng 11 âm lịch, nhà chùa làm giỗ chung cho các vị này. Bên phải chánh điện là thiền đường Trăng Rằm và thất Lắng Nghe, nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh sống những năm cuối đời; một phần xá lợi của ngài được đặt tại thất Lắng Nghe để Phật tử chiêm bái.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất gia tại chùa năm 1942 với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật. Ngày 28/10/2018, ngài từ Thái Lan trở về chùa tĩnh dưỡng và viên tịch tại đây ngày 22/1/2022. Theo di nguyện, không xây tháp mộ; tro cốt được chia cho các trung tâm Làng Mai trên thế giới và Tổ đình Từ Hiếu.

Chùa chưa công bố giờ mở cửa hay quy định vé; hỏi trực tiếp tại chùa. Dịp lễ lớn như ngày tưởng niệm thiền sư, chùa đón hàng nghìn Phật tử, nên muốn yên tĩnh thì tránh các ngày này.

Đây là ngôi tổ đình đang có chư tăng tu tập. Tang lễ thiền sư năm 2022 được tổ chức theo hình thức một khóa tu im lặng, và sự tĩnh lặng vẫn là điều khách nên giữ khi đến. Ăn mặc kín đáo, nói khẽ, nhất là ở thiền đường Trăng Rằm và thất Lắng Nghe; xin phép trước khi chụp ảnh chư tăng. Khu mộ thái giám là nơi thờ cúng, không ngồi hay đứng lên mộ.

Từ Hiếu hợp với người tìm một ngôi chùa trong rừng thông để đi chậm, người đọc sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh, người muốn biết về các thái giám triều Nguyễn; không hợp nếu bạn cần thuyết minh và bảng giá rõ ràng. Lăng Tự Đức nằm cùng tuyến đường. Nếu bạn muốn xem tháp cổ và hai bảo vật quốc gia bên sông Hương, chùa Thiên Mụ ở phường Kim Long là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chánh điện và dạo khuôn viên rừng thông
  • Viếng thiền đường Trăng Rằm, thất Lắng Nghe
  • Thăm khu mộ các thái giám triều Nguyễn
  • Kết hợp tham quan lăng Tự Đức cùng tuyến đường

Từ khóa

  • chùa cổ
  • rừng thông
  • thái giám triều Nguyễn
  • Thích Nhất Hạnh
  • Thủy Xuân
  • Huế

Không gian di sản

Đàn Nam Giao

Đàn tế Trời Đất ba tầng của triều Nguyễn, khởi dựng năm 1806 phía nam Kinh thành, nơi diễn ra 98 kỳ lễ tế Giao từ 1807 đến 1945.

Thuận Hóa, Huế

Đàn Nam Giao
Đàn Nam Giao.

Câu chuyện

Cách Kinh thành Huế khoảng 4 km về phía nam, ở phường Thuận Hóa, đàn Nam Giao là nơi các vua Nguyễn làm lễ tế Trời Đất, nghi lễ quan trọng bậc nhất của triều đình. Theo cổng thông tin thành phố Huế, đàn tế trời của các triều đại trước đều đã mất; đàn ở Huế là di tích duy nhất loại này còn lại tương đối nguyên vẹn.

Đàn được khởi dựng năm 1806 thời vua Gia Long. Lễ tế đầu tiên cử hành năm 1807, lễ cuối cùng vào tháng 3 năm 1945; theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, tổng cộng đã có 98 kỳ đại lễ ở đây. Ban đầu lễ tế mỗi năm một lần, kéo dài ba ngày; từ sau đời vua Thành Thái chỉ còn ba năm một lần. Trước ngày tế, vua lưu lại Trai cung ở góc tây nam đàn để chay tịnh.

Thứ bạn đến để xem là khối đàn ba tầng quay mặt về hướng nam, cao gần 5 m, trong khuôn viên hình chữ nhật 390 m x 265 m. Tầng dưới cùng hình vuông, màu đỏ, tượng trưng cho người. Tầng giữa là Phương đàn, hình vuông, màu vàng, tượng trưng cho đất. Tầng trên cùng là Viên đàn, hình tròn, màu xanh, tượng trưng cho trời. Cách bố trí này theo thuyết Tam tài (Thiên, Địa, Nhân) và quan niệm trời tròn đất vuông. Quanh đàn trồng nhiều thông; ngoài đàn chính còn Trai cung, Thần trù (nhà bếp) và Thần khố (nhà kho).

Lễ tế Giao được phục dựng trong một số kỳ Festival Huế. Lần tái hiện năm 2004 có đoàn ngự đạo khoảng 500 người nhưng không có vua; năm 2012 lễ diễn ra buổi tối, năm 2018 lễ bắt đầu lúc 3 giờ sáng. Đây không phải sự kiện hằng năm: danh mục chương trình chính của Festival Huế 2026 không có lễ tế Giao, nên muốn xem thì bạn theo dõi lịch Festival từng năm.

Đàn Nam Giao do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý. Vé người lớn 50.000 đồng, trẻ em 7–12 tuổi miễn phí (áp dụng từ 02/6/2026); đàn cũng nằm trong vé tuyến gộp tất cả các điểm của Trung tâm. Giờ mở cửa theo lịch chung của Trung tâm: mùa hè bán vé 6h30–17h30, mùa đông 7h00–17h00. Giá và giờ có thể đổi, nên xem lại trước khi đi.

Khu Trai cung đang trong dự án tu bổ phần còn lại của đàn, khởi công tháng 11/2024 và dự kiến bàn giao trong quý IV năm 2026, nên đến lúc đó một phần khuôn viên có thể còn là công trường. Không gian chính là ba tầng đàn lộ thiên và hàng thông quanh đàn.

Đây là không gian nghi lễ của triều đình xưa. Nội quy của Trung tâm yêu cầu không ngồi, nằm, viết vẽ lên công trình, không giẫm lên thảm cỏ, không bay flycam và ăn mặc lịch sự. Trong các lần tái hiện lễ tế, người dân và du khách đứng phía dưới hướng về đàn; nghi thức trên đàn do đoàn chủ lễ thực hiện.

Nam Giao hợp với người quan tâm nghi lễ cung đình và cách triều Nguyễn thể hiện quan niệm về trời đất bằng kiến trúc. Nếu chỉ có nửa ngày và muốn xem cung điện, Đại Nội hợp hơn; đi cả hai thì nhớ rằng đoàn rước tế Giao xưa xuất phát từ điện Cần Chánh trong Đại Nội.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan ba tầng đàn và khuôn viên thông
  • Xem khu Trai cung (đang tu bổ đến quý IV/2026)
  • Mua vé tuyến gộp các điểm di tích của Trung tâm
  • Xem lễ tế Giao tái hiện vào năm Festival có tổ chức

Từ khóa

  • đàn tế
  • lễ tế Giao
  • triều Nguyễn
  • Quần thể di tích Cố đô Huế
  • Festival Huế
  • Huế

Nhà hát & Sân khấu

Nhà hát Duyệt Thị Đường, Nhã nhạc cung đình

Nhà hát cung đình xây năm 1826 trong Tử Cấm Thành, sân khấu chính của Nhã nhạc, Múa và Tuồng cung đình; tạm nghỉ biểu diễn từ 05/9/2026.

Phú Xuân, Huế

Sân khấu chính của nhà hát Duyệt Thị Đường
Sân khấu chính của nhà hát Duyệt Thị Đường.

Câu chuyện

Duyệt Thị Đường nằm ở góc đông nam Tử Cấm Thành, bên trong Đại Nội Huế. Nhà hát được xây năm 1826 thời vua Minh Mạng, trên nền cũ của nhà hát Thanh Phong Đường; Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế, đơn vị đang dùng nơi này làm sân khấu chính, gọi đây là nhà hát cổ nhất Việt Nam. Người xem xưa là vua, hoàng tộc, các quan đại thần và sứ thần nước ngoài.

Điều cần biết trước tiên: từ ngày 05/9/2026, Nhà hát Nghệ thuật Truyền thống Cung đình Huế tạm nghỉ biểu diễn Nhã nhạc, Tuồng và Ca múa cung đình tại Duyệt Thị Đường. Thông báo không nêu lý do và chưa có ngày diễn lại, nên hãy gọi Nhà hát (0234 3514989) trước khi xếp lịch.

Khi hoạt động bình thường, mỗi ngày có hai suất chương trình Nhã nhạc, Múa cung đình và Tuồng cung đình, lúc 10h00–10h35 và 15h00–15h35. Trang của Nhà hát ghi giá 300.000 đồng mỗi khách, tối thiểu 10 khách mỗi suất; năm 2024 TTXVN ghi giá 200.000 đồng, và Nhà hát đã có thông báo tăng giá. Nhà hát nằm trong khu Đại Nội bán vé của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (vé Đại Nội người lớn 200.000 đồng từ 02/6/2026).

Nhã nhạc là nhạc lễ của triều Nguyễn. Ngày 7/11/2003, UNESCO ghi danh Nhã nhạc là Kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại, di sản phi vật thể đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Theo Nhà hát, Nhã nhạc nay còn hai dàn là Đại nhạc, dàn trống kèn dùng trong tế Nam Giao, tế miếu, Đại triều, và Tiểu nhạc. Phần múa có những điệu như Bát tiên hiến thọ, Lục cúng hoa đăng; VnExpress ghi triều Nguyễn còn 11 điệu múa cung đình tồn tại đến nay.

Tòa nhà hát đã qua nhiều lần hư hỏng và trùng tu; đợt lớn nhất kéo dài từ 1995 đến 2002, và từ tháng 3/2003 nhà hát biểu diễn thường xuyên. Ngày 31/3/2015, Trung tâm mở lại nhà hát sau đợt nâng cấp, kèm không gian trưng bày trang phục và nhạc cụ biểu diễn. Cuối tháng 4/2026, Trung tâm tổ chức "Dạ yến Hoàng cung" tại đây, 1,7 triệu đồng mỗi khách, tối đa 130 khách mỗi đêm.

Một suất diễn chỉ khoảng 35 phút, hợp để chen vào buổi tham quan Đại Nội. Khi Duyệt Thị Đường còn nghỉ, lịch trên trang Nhà hát vẫn ghi các chương trình miễn phí trong Đại Nội: Lễ đổi gác 8h00 trước Ngọ Môn, Tiểu nhạc 8h15 ở sân điện Thái Hòa, Ca Huế ở Nhật Thành Lâu lúc 9h00 và 15h00, Đại nhạc ở Thế Miếu lúc 15h30. Chưa có công bố các suất này có bị ảnh hưởng hay không, nên hỏi lại tại cổng.

Nhã nhạc vốn dùng trong nghi lễ triều đình, nên giữ trật tự trong suất diễn. Nội quy của Trung tâm không cho tự quay phim, ghi hình, trình diễn khi chưa được cấp phép; hỏi nhân viên trước khi quay.

Nơi này hợp với người muốn nghe nhạc cung đình trong chính không gian nó từng được diễn. Nếu bạn tìm một chương trình dài và nhiều hiệu ứng, các đêm lễ hội trong Festival Huế ở Đại Nội sẽ hợp hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem Nhã nhạc, Múa và Tuồng cung đình (khi nhà hát diễn lại)
  • Xem trưng bày trang phục và nhạc cụ biểu diễn
  • Dự Dạ yến Hoàng cung vào dịp Trung tâm tổ chức
  • Liên hệ Nhà hát đặt suất diễn cho đoàn

Từ khóa

  • nhà hát
  • Nhã nhạc
  • múa cung đình
  • tuồng cung đình
  • Đại Nội
  • Huế

Không gian di sản

Đại Nội Huế (Hoàng thành)

Hoàng thành và Tử Cấm thành của triều Nguyễn giữa Kinh thành Huế, lõi của Quần thể di tích Cố đô Huế vốn là di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam (1993).

Phú Xuân, Huế

Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế
Ngọ Môn, cổng chính vào Hoàng thành Huế.

Câu chuyện

Đại Nội nằm giữa Kinh thành Huế, bờ bắc sông Hương, phường Phú Xuân. Người Huế gọi chung Hoàng thành và Tử Cấm thành là Đại Nội hay Hoàng cung: đây là nơi làm việc, thờ tự và ăn ở của vua triều Nguyễn, và là phần lõi của Quần thể Di tích Cố đô Huế mà UNESCO ghi danh Di sản thế giới năm 1993.

Hoàng thành khởi công từ mùa hè năm 1804, là vòng tường gạch gần vuông, mặt trước dài 622 m, hai bên 604 m, bao ngoài là hào nước và 10 cây cầu. Bốn cửa là Ngọ Môn ở phía nam, Hòa Bình phía bắc, Hiển Nhơn phía đông, Chương Đức phía tây. Ngọ Môn xây năm 1833, lầu Ngũ Phụng bên trên có 100 cột gỗ lim và 9 bộ mái, một bộ lợp ngói vàng, tám bộ ngói xanh. Tại đây, ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại làm lễ thoái vị.

Từ Ngọ Môn bạn đi thẳng theo trục chính qua sân chầu tới điện Thái Hòa, nơi cử hành đại lễ, có 80 cột sơn rồng thếp vàng; điện vừa tu bổ xong năm 2024. Phía sau là Tử Cấm thành, khu dành riêng cho vua và hoàng gia, cuối trục là điện Kiến Trung xây thời Khải Định, bị phá trong chiến tranh chỉ còn nền, được phục dựng và mở cửa từ Tết 2024. Hai bên là cung Diên Thọ, cung Trường Sanh của Hoàng thái hậu, và khu miếu thờ. Trước sân Thế Miếu có Cửu Đỉnh, chín đỉnh đồng đúc năm 1835 đến 1837, là bảo vật quốc gia.

Thời cực thịnh, Hoàng cung có khoảng 100 công trình; nhiều công trình đã mất trong chiến tranh, nên có chỗ bạn chỉ thấy nền cũ, như nền điện Cần Chánh. Khuôn viên rộng, mùa hè nắng gắt: nên đến sớm, mang mũ nón, dành ít nhất 3 giờ. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế có xe điện, thuyết minh viên, thuyết minh tự động (audio guide) và chụp ảnh cổ trang. Năm 2025 các điểm di tích do Trung tâm quản lý đón khoảng 3,1 đến 3,2 triệu lượt khách, nên dịp lễ rất đông.

Vé người lớn 200.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi 40.000 đồng (áp dụng từ 02/06/2026); có vé tuyến ghép Đại Nội với các lăng vua. Mùa hè bán vé 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00, đóng cửa sau giờ ngừng bán vé 60 phút. Đại Nội về đêm chỉ mở theo từng đợt, như 25 đến 28/4/2026 mùa Festival, nên hỏi lịch trước.

Tháng 10, 11 là mùa mưa bão. Cuối tháng 10/2025, lũ làm một số khu trong Đại Nội ngập 0,3 đến 0,5 m, các điểm di tích phải đóng cửa từ 27 đến 30/10, và ngày 2/11/2025 một đoạn tường Hoàng thành dài khoảng 15 m gần cửa Hòa Bình bị sập.

Trong khu miếu thờ và nội điện, nội quy yêu cầu trang phục kín đáo (không quần cộc, váy ngắn, áo hở vai), bỏ mũ nón, giữ yên lặng; không sờ, ngồi hay viết vẽ lên hiện vật, không bay flycam khi chưa được phép.

Đại Nội hợp với lần đầu đến Huế, người muốn hiểu cách một kinh đô phong kiến được quy hoạch. Nếu bạn thích kiến trúc gắn với thiên nhiên hơn cung điện, lăng Minh Mạng hay lăng Tự Đức sẽ hợp hơn; vé tuyến cho phép ghép cả hai kiểu trong một ngày.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Tử Cấm thành
  • Đi xe điện quanh Đại Nội
  • Nghe thuyết minh, audio guide
  • Chụp ảnh cổ trang
  • Mua vé tuyến ghép Đại Nội – lăng vua

Từ khóa

  • di sản thế giới
  • triều Nguyễn
  • Hoàng thành
  • Tử Cấm thành
  • Ngọ Môn
  • Huế

Chợ địa phương

Chợ Đông Ba

Chợ bên bờ bắc sông Hương, dời về chỗ hiện nay từ năm 1899, nơi người Huế đi chợ hằng ngày và khách tìm mắm, mè xửng, nón lá.

Phú Xuân, Huế

Mặt tiền chợ Đông Ba, Huế
Mặt tiền chợ Đông Ba, Huế.

Câu chuyện

Chợ Đông Ba nằm trên đường Trần Hưng Đạo, bờ bắc sông Hương, trải dài từ cầu Trường Tiền đến cầu Gia Hội, nay thuộc phường Phú Xuân, thành phố Huế. Cổng thông tin thành phố gọi đây là trung tâm thương mại lớn nhất ở Huế: vừa là chợ dân sinh của người Huế vừa là nơi du khách tìm đặc sản.

Chợ có lịch sử dài hơn tuổi tòa nhà. Đầu thế kỷ 19, thời Gia Long, chợ họp ở ngoài cửa Chánh Đông (cửa Đông Ba) với tên Quy Giả thị. Năm 1885 kinh đô thất thủ, chợ bị quân Pháp đốt; năm 1887 vua Đồng Khánh cho xây lại và đặt tên Đông Ba; năm 1899 vua Thành Thái dời chợ về sát bờ sông, chỗ hiện nay. Chợ thời ấy có bốn dãy lầu mái bằng xếp hình vuông, giữa là tháp đặt đồng hồ bốn mặt nên gọi là lầu chuông. Chợ bị đốt phá năm 1968 và 1972, được sửa sang lại vào khoảng năm 1986 đến 1987. Tháng 8/2024, Huế tổ chức lễ kỷ niệm 125 năm chợ.

Theo TTXVN năm 2022, chợ rộng hơn 47.600 m², có hơn 2.700 lô hàng và hơn 1.800 hộ kinh doanh, chia 6 khu vực với khoảng 60 ngành hàng. Tầng 1 có nhiều hàng mắm và đồ khô như mắm ruốc, mắm cà, tôm chua; các sạp khác bán nón lá, mè xửng, hạt sen, trà, nhang trầm. Phía sau là khu thực phẩm tươi, sáng sớm có hoa và trái cây. Khu ăn uống với bánh bèo, bánh lọc, bún bò, chè đông vui từ khoảng 3 giờ chiều; buổi tối có chợ đêm ở phía mặt tiền.

Chợ từng mang tiếng nói thách, chèo kéo, có cò mồi và kẻ móc túi; người Huế còn nhắc câu "chợ Đông Ba chia 3 mà trả". Từ năm 2022, Ban quản lý chợ vận động tiểu thương niêm yết giá và bán đúng giá, với chủ trương không nói thách, không chèo kéo. Dù vậy, bạn vẫn nên hỏi giá trước, so vài sạp, để ý túi xách và điện thoại vì chợ đông, lối đi nhiều chỗ chật do hàng bày tràn.

Ban quản lý chợ chưa công bố giờ họp chợ trên trang chính thức; số điện thoại Ban quản lý là 02343 512 653. Bãi giữ xe của chợ chỉ hoạt động ban ngày. Chợ nằm sát sông: ngày 27/10/2025, nước lũ sông Hương tràn vào đường Chương Dương trong khuôn viên chợ, ngập 0,5 đến 0,7 m, tiểu thương phải dời hàng và tạm đóng quầy. Mùa mưa lũ, nên xem tin thời tiết trước khi đi.

Vào cuối tuần và dịp lễ hội, nhiều tiểu thương mặc áo dài khi bán hàng. Hỏi trước khi chụp cận người bán, mặc cả nhẹ nhàng. Nem, chả ở chợ thường rất cay, nhiều tiêu, nên hỏi trước nếu bạn ăn cay kém.

Chợ hợp với người thích chợ truyền thống, muốn mua đặc sản Huế và ăn món bình dân ngay tại chỗ. Người ngại đông, ngại chen lấn nên cân nhắc. Nếu bạn chỉ rảnh buổi tối cuối tuần, phố đi bộ Hai Bà Trưng là một không gian đêm khác đang hoạt động ở Huế.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua đặc sản khô: mắm, tôm chua, mè xửng, hạt sen, trà
  • Mua nón lá, hàng lưu niệm
  • Ăn món Huế bình dân tại khu ăn uống
  • Dạo chợ đêm phía mặt tiền buổi tối

Từ khóa

  • chợ truyền thống
  • đặc sản Huế
  • chợ đêm
  • ẩm thực bình dân
  • Phú Xuân
  • Huế

Không gian di sản

Cầu ngói Thanh Toàn

Cầu gỗ mái ngói kiểu "thượng gia, hạ kiều" dựng năm 1776 bên sông Như Ý, gian giữa thờ bà Trần Thị Đạo, người bỏ tiền làm cầu.

Thanh Thủy, Huế

Cầu ngói Thanh Toàn
Cầu ngói Thanh Toàn.

Câu chuyện

Cầu ngói Thanh Toàn bắc qua một nhánh sông Như Ý ở làng Thanh Thủy Chánh, cách trung tâm Huế khoảng 8 km về phía đông, nay thuộc phường Thanh Thủy. Đây là cây cầu gỗ có mái ngói, dựng năm 1776, được công nhận di tích cấp quốc gia năm 1990, và vẫn là lối đi, chỗ ngồi nghỉ của người trong làng.

Người bỏ tiền làm cầu là bà Trần Thị Đạo, vợ một vị quan dưới triều vua Lê Hiển Tông. Tương truyền bà không có con nên làm cầu để cầu tự và giúp dân làng qua sông. Vua Lê Hiển Tông ban sắc khen bà và miễn cho làng nhiều loại sưu dịch; năm 1925 vua Khải Định sắc phong bà và cho lập bàn thờ ngay trên cầu. Gian giữa cầu hiện là nơi thờ bà.

Cầu làm theo lối "thượng gia, hạ kiều", tức trên là nhà, dưới là cầu. Thân cầu chia 7 gian, gian giữa rộng nhất; hai bên có bục gỗ và lan can để ngồi tựa lưng, lối giữa để đi. Mái lợp ngói ống tráng men lưu ly, bờ nóc và tường hồi khảm sành sứ hình rồng, phượng. Kích thước ban đầu khoảng 18,75 m × 5,82 m; qua nhiều lần sửa, nay còn 16,85 m × 4,63 m.

Cầu đã được trùng tu nhiều lần từ năm 1847. Lần gần nhất, cầu được hạ giải từ tháng 4/2020, giữ tối đa cấu kiện gốc, thay phần gỗ mục, lợp lại ngói, và bàn giao lại cho dân năm 2021. Hệ khung chính và ván sàn bằng gỗ lim; ban đêm cầu có đèn chiếu sáng.

Bạn có thể đi bộ qua cầu, ngồi trên bục gỗ nhìn ra đồng và sông, rồi sang nhà trưng bày nông cụ ngay cạnh để xem xe đạp nước, gàu, cối giã gạo, thử đạp nước, xay lúa. Các tour cộng đồng có thêm chèo thuyền trên sông Như Ý. Dịp Festival Huế có "Chợ quê ngày hội", năm 2026 diễn ra từ 26 đến 28/6, mở đầu bằng lễ cung nghinh hương linh bà Trần Thị Đạo.

Điểm yếu là dịch vụ còn rời rạc: tháng 4/2026 chính quyền thành phố ghi nhận hạ tầng giao thông, bãi đỗ xe, chiếu sáng và công trình phụ trợ quanh cầu chưa đáp ứng. Giá vé, giờ mở cửa chưa có công bố chính thức.

Bàn thờ bà Trần Thị Đạo đặt ngay trên lối đi: không ngồi, đặt đồ hay tựa vào ban thờ, ăn mặc kín đáo khi đi qua gian giữa. Hằng năm làng giỗ bà vào ngày 15 tháng 8 âm lịch; phần tế là việc của làng, khách xem từ bên ngoài.

Cầu hợp với người thích kiến trúc gỗ dân gian, gia đình muốn một buổi về quê gần trung tâm Huế. Nếu bạn muốn một làng cổ lớn, nhiều nhà rường để đi cả buổi, làng cổ Phước Tích ở phường Phong Dinh là lựa chọn khác, nhưng xa hơn, khoảng 40 km.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ qua cầu, ngồi nghỉ trên bục gỗ
  • Xem nhà trưng bày nông cụ, thử đạp nước, xay lúa
  • Chèo thuyền trên sông Như Ý theo tour cộng đồng
  • Dự Chợ quê ngày hội dịp Festival Huế

Từ khóa

  • cầu ngói
  • thượng gia hạ kiều
  • Trần Thị Đạo
  • sông Như Ý
  • Thanh Thủy
  • Huế

Làng nghề

Làng tranh làng Sình

Làng Lại Ân ở ngã ba sông Hương, sông Bồ giữ dòng tranh khắc gỗ dân gian dùng để thờ và hóa trong lễ cầu an, cúng Tết.

Dương Nỗ, Huế

Một bức tranh dân gian làng Sình
Một bức tranh dân gian làng Sình.

Câu chuyện

Làng Sình, tên chữ là Lại Ân, nằm nơi sông Hương và sông Bồ gặp nhau, cách trung tâm Huế khoảng 9 km về phía đông. Làng thuộc xã Phú Mậu cũ, nay nằm trong phường Dương Nỗ, thành phố Huế. Tên làng gắn với một dòng tranh khắc gỗ dân gian mà báo chí ghi đã có khoảng 400 năm.

Khác tranh Đông Hồ vốn để treo chơi ngày Tết, tranh làng Sình làm ra để phục vụ tín ngưỡng: có loại dán trên bàn thờ quanh năm, có loại được đốt (người Huế gọi là hóa) sau lễ cầu an, giải hạn, cúng Tết. Theo lời một nghệ nhân là truyền nhân đời thứ 9 của dòng họ giữ nghề, ông tổ nghề từ vùng Bắc Ninh vào, nên kỹ thuật in mộc bản, giấy dó quét điệp gần với Đông Hồ.

Giấy in được quét hai lớp bột điệp, loại sò vỏ mỏng người làng xưa chèo thuyền xuôi phá Tam Giang về vùng cầu Hai, Lăng Cô để cào. Mộc bản khắc bằng gỗ mít, gỗ thị. Người làm tranh in một bản khắc nét đen, phơi khô rồi tô màu tay từng chi tiết, không in chồng nhiều màu. Màu xưa lấy từ lá đung, hạt hòe, hạt mồng tơi, lá bàng, bột gạch, tro rơm nếp; nay nhiều nhà đã dùng giấy và phẩm màu công nghiệp.

Tranh có khoảng 50 đề tài, chia ba nhóm: nhân vật, đồ vật và con vật. Tranh tượng Bà, tượng Đế dán trên bàn thờ; tranh áo quần, tiền, dụng cụ, bộ 12 con giáp dùng để hóa; bộ Bát Âm vẽ các cô gái mặc áo mã tiên chơi nhạc cụ. Gần đây có thêm tranh trang trí về sinh hoạt, mùa màng, trò chơi, và lịch in hình con giáp.

Nghề từng có thời gian bị cấm vì bị cho là mê tín, mộc bản bị thu và hủy; một nghệ nhân đã đào hầm chôn giữ mộc bản của thế hệ trước. Năm 1986 gia đình ông làm tranh trở lại, và từ khi Huế chuẩn bị Festival nghề truyền thống, nghề được khôi phục. Đầu năm 2025, làng có hơn 20 hộ làm tranh.

Khi đến, bạn có thể xem in mộc bản, phơi tranh và tự tay in, tô màu một bức ở nhà nghệ nhân hoặc các cơ sở làm tranh. Tranh làm nhiều nhất từ khoảng tháng 10 âm lịch đến đầu tháng Giêng. Chưa có trang chính thức công bố giờ đón khách hay giá trải nghiệm; làng nhỏ, nên hỏi trước khi đi.

Nhiều bức tranh là đồ thờ và đồ hóa trong nghi lễ của gia đình, cộng đồng. Đừng gỡ hay chụp cận tranh đang dán trên bàn thờ nhà dân; khi mua làm quà, hỏi người bán tranh nào để thờ, để hóa, tranh nào để trang trí. Lễ cúng trong nhà là việc của gia đình, chỉ dự khi được mời.

Điểm này hợp với người quan tâm tranh dân gian, tín ngưỡng Huế, gia đình có trẻ thích tô màu. Làng hoa giấy Thanh Tiên cùng phường đi chung được trong một buổi. Nếu chỉ có vài giờ ở trung tâm, bạn có thể tìm tranh Sình tại các kỳ Festival nghề truyền thống Huế, nơi nghệ nhân làng thường được mời trưng bày.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem in mộc bản và tô màu tranh tại nhà làm tranh
  • Tự in, tô màu một bức tranh
  • Mua tranh trang trí, lịch in con giáp
  • Tìm hiểu tranh thờ và tranh hóa của người Huế

Từ khóa

  • tranh dân gian
  • tranh làng Sình
  • mộc bản
  • tín ngưỡng dân gian
  • Dương Nỗ
  • Huế

Bảo tàng

Bảo tàng Hồ Chí Minh thành phố Huế

Bảo tàng ở 7 Lê Lợi kể về những năm Chủ tịch Hồ Chí Minh sống ở Huế (1895–1901, 1906–1909), có không gian dựng lại đời sống gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Bảo tàng Hồ Chí Minh thành phố Huế, trước ngày 01/01/2025 mang tên Bảo tàng Hồ Chí Minh Thừa Thiên Huế, ở số 7 Lê Lợi, phường Thuận Hóa, trên trục đường chính bờ nam sông Hương. Cùng đường Lê Lợi có trường Quốc Học ở số 12 và Bảo tàng Mỹ thuật Huế ở số 15, 17. Bảo tàng giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt những năm Người sống ở Huế: 1895–1901 và 1906–1909.

Bảo tàng ra đời ngày 16/9/1980 theo quyết định của Tỉnh ủy Bình Trị Thiên, trên cơ sở một nhà trưng bày về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh; năm 1989 đổi tên theo tỉnh Thừa Thiên Huế. Tòa nhà hiện nay khởi công ngày 19/5/1998 và khánh thành ngày 19/5/2000, dịp 110 năm ngày sinh của Người. Năm 2007 bảo tàng được xếp hạng II.

Trưng bày cố định gồm 8 chủ đề, đi từ thời niên thiếu năm 1890 đến nay, với khoảng 1.300 hình ảnh, tài liệu, hiện vật trên 600 m² sàn trưng bày, theo giới thiệu của bảo tàng. Phần nên dành thời gian nhất là chủ đề I: bảo tàng dựng các tổ hợp không gian về gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc ở Huế, gồm trường thi nơi ông ba lần thi Hội, sinh hoạt của gia đình giai đoạn 1895–1901, sự kiện bà Hoàng Thị Loan mất ở Huế năm 1901, việc học của hai anh em Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành ở trường Pháp - Việt Đông Ba và Quốc Học, ngôi nhà Dãy trại ở 47 Mai Thúc Loan và phong trào chống thuế năm 1908. Bảo tàng tự giới thiệu đây là nội dung khác biệt so với các bảo tàng Hồ Chí Minh khác trong cả nước.

Bên cạnh trưng bày cố định là các triển lãm chuyên đề theo dịp. Từ 28/8 đến 31/12/2026, bảo tàng trưng bày "Chủ tịch Hồ Chí Minh với những mốc lịch sử năm 1946" với hơn 250 tư liệu, hình ảnh, hiện vật.

Cổng thông tin thành phố Huế ghi bảo tàng không bán vé. Website bảo tàng ghi giờ mở cửa thứ Ba đến Chủ nhật, sáng 7h30–11h30, chiều 13h00–17h00; các trang chính thức khác ghi giờ khác nhau, có trang ghi nghỉ Chủ nhật, nên gọi 0234 3845217 trước khi đi. Bảo tàng nghỉ trưa, đừng đến vào khoảng 11h30–13h00. Trưng bày chủ yếu là hình ảnh, tài liệu; chưa có công bố về thuyết minh tiếng nước ngoài, nên nếu không đọc được tiếng Việt, bạn hỏi trước về người hướng dẫn.

Theo nội quy, bạn gửi ba lô, túi xách, nón, áo mưa ở phòng thường trực trước khi vào; không hút thuốc, không nói to, không sờ hiện vật, không tỳ tay lên tủ kính; muốn quay phim, chụp ảnh thì hỏi nhân viên hướng dẫn để biết phạm vi được phép. Đây là nơi các đoàn đến dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên ăn mặc gọn gàng, lịch sự.

Bảo tàng hợp với học sinh, đoàn thể và người muốn hiểu vì sao Huế được gọi là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ của Người; bảo tàng còn tổ chức tour tham quan các di tích lưu niệm theo yêu cầu. Nếu bạn muốn đứng trong không gian thật nơi gia đình Người từng sống thay vì xem trưng bày, di tích Nhà lưu niệm 158 Mai Thúc Loan, nơi gia đình ở từ 1895 đến 1901, là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan trưng bày cố định 8 chủ đề
  • Xem triển lãm chuyên đề theo dịp
  • Đăng ký tour các di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Huế
  • Đăng ký dâng hoa cho đoàn

Từ khóa

  • bảo tàng
  • Hồ Chí Minh
  • di tích lưu niệm
  • Lê Lợi
  • Thuận Hóa
  • Huế

Lễ hội

Lễ hội Điện Hòn Chén

Lễ rước Thánh Mẫu Thiên Y A Na bằng thuyền ngược sông Hương lên điện Huệ Nam vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch, di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2024.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Hai lần mỗi năm, đầu tháng 3 âm lịch (mùng 2–3) và tháng 7 âm lịch (mùng 8–10), hàng chục chiếc thuyền rồng kết cờ hoa rời bến Chi Lăng ở trung tâm Huế, ngược sông Hương hơn 12 km lên núi Ngọc Trản. Đó là lễ hội điện Huệ Nam, người Huế quen gọi lễ hội điện Hòn Chén, lễ dâng Thánh Mẫu Thiên Y A Na của những người theo tín ngưỡng thờ Mẫu. Tháng 12/2024, lễ hội được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Thiên Y A Na vốn là nữ thần Po Nagar, Mẹ xứ sở của người Chăm, được người Việt tiếp nhận và thờ dưới danh xưng mới; ngôi điện trên núi được vua Đồng Khánh đổi tên thành điện Huệ Nam. Tín đồ nhớ hai mùa lễ qua câu "tháng Bảy vía cha, tháng Ba vía mẹ".

Mỗi kỳ bắt đầu bằng lễ cáo tại Thánh đường Thiên Tiên Thánh giáo, số 352 Chi Lăng (phường Phú Xuân). Kỳ tháng 3 có thêm đoạn rước bộ hơn 2 km qua cầu Gia Hội tới công viên Thương Bạc; năm 2026 là lần thứ tư nghi thức này được tái hiện. Sau lễ cáo yết, đoàn xuống các bằng, án (thuyền rồng) ngược dòng qua cầu Trường Tiền lên điện. Ở điện có lễ khai hội, cung nghinh Thánh Mẫu và Hội đồng Tứ Phủ sang đình làng Hải Cát bên kia sông, lễ chánh tế cầu quốc thái dân an, rồi lễ hoàn tạ và hồi loan về Chi Lăng.

Năm 2026, kỳ tháng 3 có khoảng 5.000 người và hơn 35 bằng, án; kỳ tháng 7 (20–22/8) Ban tổ chức dự kiến 20.000–30.000 người. Ngày dương lịch đổi theo từng năm, nên xem thông báo của thành phố trước khi đi. Kỳ tháng 7 năm 2026, khách được miễn vé tham quan điện trong những ngày lễ; ngày thường vé điện Hòn Chén là 50.000 đồng một người lớn.

Cần biết trước: lên điện phải leo bậc cấp từ bến nước, khuôn viên chật kín người trong ngày khai hội. Trong những ngày lễ, Sở Xây dựng hạn chế giao thông thủy trên đoạn sông từ 352 Chi Lăng lên điện, nên thuyền du lịch phải theo hiệu lệnh. Hội thảo khoa học tháng 8/2026 nêu thẳng: nghi lễ bị sân khấu hóa, phát trực tiếp để câu khách, xả rác và đốt vàng mã trên sông, chèo kéo, bán giá cao.

Đây là nghi lễ của một cộng đồng đang thực hành tín ngưỡng, không phải buổi biểu diễn. Hầu đồng, hát văn, chánh tế thuộc về thanh đồng và Ban tổ chức: bạn đứng ngoài khu hầu, không chen vào chỗ hành lễ, không đứng chắn đường rước, xin phép trước khi chụp người đang hành lễ và không phát trực tiếp nghi lễ. Ăn mặc kín đáo, không chạm vào kiệu, đồ lễ, không thả rác hay vàng mã xuống sông. Đi thuyền theo đoàn thì chọn thuyền có áo phao, không chở quá số người.

Lễ hội hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế, người thích xem đoàn thuyền rước trên sông Hương. Không hợp với người ngại đám đông hay chỉ muốn xem hầu đồng như một màn trình diễn. Nếu ngại chen chúc trên núi, bạn có thể xem đoàn rước bộ và lễ cáo yết ở công viên Thương Bạc (kỳ tháng 3), hoặc đến điện Hòn Chén vào ngày thường khi di tích yên tĩnh.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem lễ rước Thánh Mẫu bằng thuyền rồng trên sông Hương
  • Xem đoàn rước, lễ cáo yết ở công viên Thương Bạc (tháng 3)
  • Dâng hương tại điện Huệ Nam theo hướng dẫn
  • Xem lễ cung nghinh sang đình làng Hải Cát, giữ khoảng cách

Từ khóa

  • lễ hội
  • thờ Mẫu
  • Thiên Y A Na
  • điện Huệ Nam
  • sông Hương
  • di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Không gian di sản

Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam

Nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế trên đồi Phước Quả, giáo xứ có từ năm 1682; công trình hiện nay do Ngô Viết Thụ thiết kế, xây từ 1963 đến 2000.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Nhà thờ chánh tòa Phủ Cam (Giáo xứ Chính tòa Phủ Cam) nằm trên đồi Phước Quả ở bờ nam sông Hương, số 1 Đoàn Hữu Trưng, phường Thuận Hóa. Đây là nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Huế và là nhà thờ của một giáo xứ có thánh lễ hằng ngày.

Giáo xứ tính tuổi từ năm 1682, khi linh mục Pierre Langlois, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris, lập một nhà nguyện nhỏ; hai năm sau ông mua đất trên đồi Phước Quả để dựng nhà thờ. Năm 1698, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, nhà thờ bị triệt giải. Tròn hai thế kỷ sau, năm 1898, Giám mục Eugène Marie Allys cho xây lại một nhà thờ gạch lợp ngói trên nền cũ, xong năm 1902.

Ngôi nhà thờ bạn thấy hôm nay do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, khởi công đầu năm 1963 sau khi nhà thờ cũ được triệt giải, một phần vì đã chật so với số giáo dân ngày càng tăng. Công trình dang dở qua nhiều biến động thời cuộc và chiến tranh: năm 1995 phần thân mới cơ bản xong, tháng 5/2000 mới hoàn thiện, gần 40 năm sau ngày khởi công.

Mặt bằng nhà thờ hình cây thánh giá, mặt chính quay về hướng bắc với hai tháp chuông vươn cao hai bên khối sảnh. Kết cấu bê tông cốt thép đi cùng đá, gỗ và ngói đất nung. Bên trong, các trụ đỡ đúc sát tường, uốn cong lên thành vòm mái, được ví như đôi bàn tay chắp lại khi cầu nguyện. Lòng nhà thờ đủ chỗ cho khoảng 2.500 người dự lễ. Cung thánh hình tròn có bậc cấp, trên đặt bàn thờ bằng đá cẩm thạch nguyên khối; hai bên tường treo tranh khung gỗ về cuộc đời Chúa Giêsu, phía trên là dãy cửa vòm lồng hình thánh giá viền kính màu xanh.

Trước tiền đường có tượng hai thánh Phêrô và Phaolô, bổn mạng của giáo xứ. Vào trong, ở hai phía bàn thờ chính có mộ Tổng Giám mục Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921–1988) và bàn thờ thánh tử đạo Phaolô Tống Viết Bường, người gốc Phủ Cam bị giết năm 1833. Từ nhà thờ nhìn thẳng xuống dốc Phủ Cam là đường Nguyễn Trường Tộ, hai hàng xà cừ, long não chạy giữa trường Quốc Học và trường Hai Bà Trưng tới đường Lê Lợi.

Theo Tổng Giáo phận Huế, giờ lễ ở đây là Chúa nhật 5h30, 8h15, 15h00, 18h30 và ngày thường 5h00, 18h30. Giờ mở cửa cho khách ngoài giờ lễ, phí và quy định chụp ảnh chưa được công bố, nên hỏi văn phòng giáo xứ. Các dịp phụng vụ lớn như Chúa nhật Lễ Lá, Tam Nhật Thánh và lễ bổn mạng 29/6 đều được cử hành tại đây.

Đây là nơi thờ phượng. Hãy ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng, không đi lại hay chụp ảnh trong lòng nhà thờ khi đang có thánh lễ, không bước lên cung thánh và không chạm vào bàn thờ, tượng, mộ phần.

Phủ Cam hợp với người quan tâm kiến trúc hiện đại ở Huế hoặc lịch sử hơn 340 năm của một giáo xứ Công giáo. Bạn có thể đi bộ theo đường Nguyễn Trường Tộ sang trường Quốc Học và các điểm trên đường Lê Lợi. Nếu bạn muốn một công trình tôn giáo cổ gắn với các chúa Nguyễn, chùa Thiên Mụ trên đồi Hà Khê bờ bắc sông Hương là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan kiến trúc nhà thờ ngoài giờ lễ
  • Dự thánh lễ theo giờ lễ của giáo xứ
  • Đi bộ dốc Phủ Cam, Nguyễn Trường Tộ sang trường Quốc Học

Từ khóa

  • nhà thờ Công giáo
  • Phủ Cam
  • Ngô Viết Thụ
  • kiến trúc hiện đại
  • Thuận Hóa
  • Huế

Không gian di sản

Lăng Thiệu Trị

Xương Lăng giữa đồng lúa làng Cư Chánh, xây năm 1848, kết hợp mô thức lăng Gia Long và lăng Minh Mạng, lăng duy nhất quay hướng tây bắc.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Lăng Thiệu Trị, tên chữ Xương Lăng, nằm ở làng Cư Chánh, bờ nam sông Hương, nay thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế; Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế ghi lăng cách Kinh thành chừng 8 km. Đây là nơi an táng vua Thiệu Trị (Nguyễn Phúc Miên Tông), vị vua thứ ba triều Nguyễn, con trưởng vua Minh Mạng, lên ngôi năm 34 tuổi, trị vì 7 năm (1841–1847) và mất năm 41 tuổi.

Lúc sống, vua chưa cho xây lăng; trước khi mất dặn người kế vị xây kiệm ước, "không nên làm nhiều đền đài, hao phí đến tài lực của binh dân". Vua Tự Đức cho chọn đất ở chân một núi thấp làng Cư Chánh, đặt tên núi Thuận Đạo. Lăng khởi công ngày 11/2/1848, khoảng 3 tháng sau các công trình chính đã xong; cuối tháng 6/1848 vua Thiệu Trị được an táng, sau 8 tháng quàn tại điện Long An. Bia "Thánh đức thần công" hơn 2.500 chữ của vua Tự Đức dựng ngày 19/11/1848; tính cả bia, lăng làm chưa đầy 10 tháng.

Điểm riêng là cách dung hòa hai lăng đi trước. Giống lăng Gia Long, lăng không có La thành, ruộng lúa và vườn cây xung quanh được coi là vòng thành tự nhiên, khu mộ và khu điện thờ tách thành hai trục song song cách nhau khoảng 100 m. Giống lăng Minh Mạng, lăng có toại đạo đưa quan tài vào huyệt và Bửu Thành hình tròn với hồ bán nguyệt phía trước. Đây cũng là lăng duy nhất quay mặt về hướng tây bắc.

Bạn đi hai trục. Trục lăng bên phải: hồ Nhuận Trạch, nghi môn đồng, Bái Đình với hai hàng tượng đá, Bi Đình, lầu Đức Hinh trên một đồi thấp hình mai rùa. Từ lầu nhìn ra sau là hồ Ngưng Thúy hình bán nguyệt với ba cầu Đông Hòa, Chánh Trung, Tây Định dẫn tới Bửu Thành. Trục tẩm bên trái: qua hồ Điện và nghi môn đá cẩm thạch có hoành phi "Minh đức viễn hỷ", lên Hồng Trạch Môn vào điện Biểu Đức, nơi thờ vua và Hoàng hậu Từ Dũ; trong điện có hơn 450 ô chữ khắc thơ. Gần đó có lăng Hiếu Đông của mẹ vua, Xương Thọ Lăng của bà Từ Dũ và khu mộ các con nhỏ của vua.

Lăng đang ở giai đoạn 3 của dự án tu bổ (khởi công 12/2024, hơn 65 tỷ đồng) cho lầu Đức Hinh, Bi Đình và sân vườn; theo Dân trí tháng 3/2026, dự án dự kiến xong cuối năm, nên một số hạng mục có thể đang thi công.

Vé người lớn 50.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi miễn phí (từ 02/06/2026); lăng chỉ có trong vé tuyến gộp tất cả điểm di tích. Giờ bán vé chung: mùa hè 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00; nên hỏi lại, nhất là mùa mưa lũ tháng 10, 11.

Điện Biểu Đức vẫn là nơi thờ: bỏ mũ nón khi vào điện, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng; không ngồi, sờ hay viết lên tượng đá, bia; không bay flycam khi chưa được phép.

Lăng hợp với người đã xem lăng Gia Long hoặc Minh Mạng muốn thấy hai mô thức được ghép lại, hay người muốn một lăng giữa đồng quê. Muốn một lăng có hồ, thủy tạ và nhà hát, bạn chọn lăng Tự Đức cùng phường Thủy Xuân; Trung tâm xem lăng Thiệu Trị là bước thể nghiệm để 16 năm sau Khiêm Lăng ra đời.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem trục lăng: Bái Đình, Bi Đình, lầu Đức Hinh, Bửu Thành
  • Tham quan điện Biểu Đức, đọc thơ khắc trên cổ diêm
  • Viếng Xương Thọ Lăng (lăng bà Từ Dũ)
  • Thuê thuyết minh viên của Trung tâm

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Xương Lăng
  • Thiệu Trị
  • thơ khắc trên kiến trúc
  • di sản thế giới
  • Huế

Không gian di sản

Trường Quốc Học Huế

Trường Pháp - Việt lập năm 1896 bên sông Hương, nơi Nguyễn Tất Thành học năm 1908–1909; nay vừa là trường THPT chuyên vừa là di tích quốc gia đặc biệt.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Trường Quốc Học ở số 12 Lê Lợi, phường Thuận Hóa, bờ nam sông Hương, nay là trường THPT chuyên Quốc Học Huế đang dạy học và là di tích quốc gia đặc biệt. Khuôn viên rộng hơn 10.000 m², có cổng hai tầng và các dãy nhà sơn màu hồng giữa hàng cây cổ thụ.

Trường lập theo dụ của vua Thành Thái ngày 17 tháng 9 năm Thành Thái thứ 8 (23/10/1896) và nghị định ngày 18/11/1896 của Toàn quyền Đông Dương, là trường Pháp - Việt chính yếu của toàn xứ Đông Dương thời ấy. Trường dựng trên đất trại lính thủy quân triều Nguyễn; lúc đầu chỉ là những dãy nhà tranh cải tạo lại. Năm 1915 trường được xây lại thành hai dãy nhà lầu gạch, lợp ngói theo kiểu Tây Âu, và kiến trúc ấy về cơ bản còn đến nay. Từ năm 1936 trường mang tên Khải Định, đến năm 1956 trở lại tên Quốc Học.

Nguyễn Tất Thành, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh, thi vượt cấp vào lớp đệ nhị niên của trường năm học 1908–1909; tại đây anh tham gia làm liên lạc cho các tổ chức yêu nước, rồi rời trường, đi dần vào phía Nam và ra nước ngoài. Tổng Bí thư Trần Phú và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng từng học ở đây. Trường được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 26/3/1990 và nằm trong Hệ thống di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Huế, được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 2280/QĐ-TTg ngày 31/12/2020.

Điểm đầu tiên bạn gặp là cổng trường hai tầng: tầng trên bằng gỗ, mái lợp ngói hoàng lưu ly, có chuông lớn điểm giờ học. Sách Đại Nam nhất thống chí chép tầng trên cổng từng có tấm bảng sáu chữ "Pháp tự Quốc Học trường môn" dựng năm 1897; tấm bảng nay lưu ở nhà lưu niệm của trường. Bên phải cổng là bình phong long mã. Giữa sân là tượng anh Nguyễn Tất Thành do Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng nhà trường dựng năm 1990, đúc lại bằng đồng năm 2006, cao 3 m. Phía sau là các dãy nhà lầu kiểu Pháp và hàng cây muối trăm năm.

Đây là trường đang dạy khoảng 1.200 học sinh mỗi năm. Nhà trường chưa công bố giờ đón khách, phí hay nội quy tham quan riêng; VnExpress ghi mùa hè là lúc nhiều du khách trong và ngoài nước tìm đến. Trong năm học, bạn nên hỏi bảo vệ ở cổng trước khi vào, chỉ đi ở sân và lối đi chung, không vào lớp học, không làm ồn gần phòng học và xin phép trước khi chụp ảnh học sinh. Lịch trình gợi ý của Bảo tàng Hồ Chí Minh thành phố Huế dành khoảng 15 phút cho điểm này.

Tượng anh Nguyễn Tất Thành được nhà trường và Bảo tàng Hồ Chí Minh dựng năm 1990 để tưởng nhớ người học trò xuất sắc của trường; hãy giữ thái độ trang nghiêm, không leo lên bệ tượng.

Trường Quốc Học hợp với người quan tâm lịch sử giáo dục, kiến trúc Pháp đầu thế kỷ 20 ở Huế, hoặc đi theo các di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu bạn muốn xem hiện vật, có giờ mở cửa rõ ràng về thời niên thiếu của Người ở Huế, Bảo tàng Hồ Chí Minh thành phố Huế ở số 7 cùng đường Lê Lợi là điểm nên ghé trước.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem cổng trường hai tầng và bình phong long mã
  • Viếng tượng anh Nguyễn Tất Thành giữa sân trường
  • Đi bộ sang Bảo tàng Hồ Chí Minh cùng đường Lê Lợi

Từ khóa

  • di tích quốc gia đặc biệt
  • trường học cổ
  • kiến trúc Pháp
  • Hồ Chí Minh
  • Lê Lợi
  • Huế

Không gian di sản

Lăng Đồng Khánh

Tư Lăng ở Thủy Xuân, dựng và sửa qua bốn đời vua từ 1888 đến 1923: khu điện thờ theo lối cung đình, khu mộ mang nhiều nét kiến trúc châu Âu.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Lăng Đồng Khánh, tên chữ là Tư Lăng, nằm ở thôn Thượng Hai, phường Thủy Xuân, đất làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân ngày trước. Lăng ở gần lăng Tự Đức, và quanh đó là lăng mộ của cha, vợ, con dâu, ông nội nhà vua, nên vị vua mất sớm này nằm giữa họ hàng của mình.

Vua Đồng Khánh là vua thứ chín triều Nguyễn, lên ngôi năm 1885 sau khi kinh thành thất thủ và vua Hàm Nghi, em ruột ông, rời Huế ra Tân Sở. Ông mất khi mới 25 tuổi, chưa kịp lo lăng cho mình. Công trình có trước là điện Truy Tư, do chính ông cho khởi công tháng 2/1888 để thờ cha là Kiên Thái Vương. Vua Thành Thái đổi điện thành điện Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh và an táng vua trên đồi Hộ Thuận Sơn gần đó. Từ tháng 8/1916, vua Khải Định, con vua Đồng Khánh, cho xây khu lăng mộ, xong tháng 7/1917; điện Ngưng Hy còn được sửa đến năm 1923. Việc xây, sửa kéo dài khoảng 35 năm, qua bốn đời vua: Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định.

Vì vậy lăng mang hai phong cách tách bạch. Khu tẩm điện giữ lối cung đình cũ: nhà kiểu trùng thiềm điệp ốc (nhà kép, các lớp mái nối nhau), cột sơn son thếp vàng. Điện Ngưng Hy có 24 bức sơn mài vẽ điển tích Nhị thập tứ hiếu (24 tấm gương hiếu thảo), phù điêu đất nung đề tài dân dã như ngư ông, gà chọi trên mái, và cửa gắn kính nhiều màu theo lối phương Tây. Khu lăng mộ gần như Âu hóa: nhà bia pha kiến trúc Roman, tượng quan viên đắp bằng xi măng và gạch thay tượng đá, sân lát gạch hoa thay gạch Bát Tràng. Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xem lăng là bước chuyển giữa lăng Tự Đức theo lối cổ truyền và lăng Khải Định theo lối hiện đại.

Hai khu nối nhau bằng con đường lát gạch khoảng 200 m. Gian giữa điện Ngưng Hy đặt án thờ vua và hai bà Tiên Cung, Thánh Cung. Sang khu mộ, qua Nghi Môn là sân chầu với hai hàng tượng quan văn, quan võ, voi, ngựa, rồi nhà bia đặt tấm bia đá Thanh cao 3 m khắc bài "Thánh Đức Thần Công" do vua Khải Định soạn.

Vé lăng do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế bán: 100.000 đồng người lớn, trẻ 7–12 tuổi miễn phí (từ 02/06/2026); vé tuyến lăng Tự Đức và lăng Đồng Khánh 200.000 đồng. Mùa hè (16/3–15/10) bán vé 6h30–17h30, mùa đông 7h00–17h00. Lăng được tu bổ tổng thể từ cuối năm 2018 đến năm 2022. Năm 2022 VOV ghi biển chỉ đường vào lăng, rẽ trái sau lăng Tự Đức hơn 100 m, đã mờ, nên dùng bản đồ.

Điện Ngưng Hy vẫn là nơi thờ vua. Nội quy của Trung tâm yêu cầu ăn mặc lịch sự, bỏ mũ nón khi vào nội điện, giữ yên lặng; không sờ, ngồi hay viết vẽ lên hiện vật, không bay flycam khi chưa được phép.

Lăng hợp với người đã xem lăng Tự Đức và muốn thấy bước chuyển sang kiến trúc thời Khải Định, hoặc người thích tranh sơn mài, đồ án trang trí. Nếu chỉ có thời gian cho một lăng mang rõ lối phương Tây, lăng Khải Định, xây 1920–1931 bằng bê tông cốt thép và ghép sành sứ, sẽ cho bạn thấy điều đó rõ hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan điện Ngưng Hy và khu tẩm điện
  • Xem 24 bức sơn mài Nhị thập tứ hiếu, cửa kính màu
  • Đi bộ theo lối lát gạch sang khu lăng mộ
  • Mua vé tuyến ghép với lăng Tự Đức

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Tư Lăng
  • Đồng Khánh
  • điện Ngưng Hy
  • kiến trúc Đông Tây
  • Huế

Lễ hội

Lễ hội Cầu ngư Thai Dương Hạ

Lễ cầu ngư ba năm một lần vào tháng Giêng của hai làng biển cùng gốc Thai Dương Hạ và Thai Dương ở Thuận An, có trò trẻ em đóng vai cá giữa sân đình và đua ghe trên phá Tam Giang.

Thuận An, Huế

Câu chuyện

Bên cửa biển Thuận An, cách trung tâm Huế khoảng 12–15 km về phía đông, có hai làng biển cùng gốc: Thai Dương Hạ, thuộc xã Hải Dương cũ, và Thai Dương, thuộc phường Thuận An cũ. Theo VOV, trước kia hai làng là một làng Thai Dương Thượng Hạ; cửa biển mới mở ra sau một trận lũ lớn (VOV ghi năm 1897, Báo Phụ nữ TP.HCM ghi năm 1904) đã chia làng làm đôi. Nay cả hai đều thuộc phường Thuận An, cùng thờ Thành hoàng Trương Quý Công và cùng giữ lễ cầu ngư đầu năm.

Lễ theo tục "tam niên đáo lệ": ba năm một lần tổ chức lớn, vào tháng Giêng các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu; hai kỳ gần nhất là năm 2023 và 2026. Dân làng tưởng nhớ vị khai canh Trương Quý Công (Trương Thiều), người được kể gốc Thanh Hóa, đã dạy dân nghề đánh cá; theo Nhân Dân, ngày chính 12 tháng Giêng là ngày mất của ông. Ngày lễ mỗi làng có thể lệch nhau: năm 2023 làng Thai Dương Hạ làm lễ sáng 11 tháng Giêng, đình làng Thai Dương làm lễ chính 12 tháng Giêng, nên hỏi ban tổ chức mỗi kỳ.

Phần lễ kéo từ chiều hôm trước tới rạng sáng: rước bài vị các vị khai canh từ miếu về đình, tối lễ túc yết có hát bội, ca Huế, khoảng 0 giờ 30 lễ cầu an, rồi lễ chánh tế do các bô lão và chủ thuyền mặc áo dài đen, quần trắng, chít khăn đỏ thực hiện. Nhiều nhà đặt bàn hương án trước cửa.

Sau lễ là phần ai cũng chờ: trò "bủa lưới" ngay giữa sân đình. Một bô lão tung tiền, bánh làm mồi; trẻ em trong làng hóa trang thành cá, tôm, mực chạy tranh mồi; trai làng khiêng chiếc ghe tre phết giấy đỏ, tung lưới vây "đàn cá" rồi bắt con "cá" to nhất đem vào đình cúng Thành hoàng. Tiếp đó các bà gánh "cá" ra chợ, mặc cả như phiên chợ thật: người Huế gọi là trò "ruỗi bộ", ruỗi là tiếng địa phương chỉ việc buôn bán cá. Cuối cùng là đua ghe trên phá Tam Giang, rồi các đội thuyền làm lễ xuất quân đánh bắt vụ Nam.

Theo lệ làng, mọi vai diễn đều do người trong làng đảm nhận, không thuê diễn viên; ngày xưa vai nữ do đàn ông đóng, và khi thuyền xuất hành phụ nữ phải tránh đường.

Cần biết trước: lễ chính diễn ra từ nửa đêm tới rạng sáng, sân đình chật người; tháng Giêng ở Huế thường mưa lạnh, kỳ năm 2011 diễn ra dưới mưa. Chưa có công bố về vé, chỗ ngồi hay dịch vụ cho khách.

Phần tế là nghi lễ của làng. Bạn đứng ngoài khu tế, không đứng chắn giữa sân khi trò diễn đang chạy, không tranh tiền, bánh tung cho trẻ, và xin phép phụ huynh trước khi chụp cận trẻ em hóa trang. Khi xem đua ghe bên bờ phá, đứng lùi khỏi mép nước.

Lễ hội hợp với người muốn xem tín ngưỡng nghề biển của làng chài Huế và chịu được thức khuya. Theo lệ các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, sau kỳ Bính Ngọ 2026 là năm Kỷ Dậu 2029. Nếu đến Huế vào năm không có lễ, bạn vẫn có thể ghé biển Thuận An và miếu Thai Dương Phu Nhân gần cửa biển, hoặc chờ lễ hội điện Huệ Nam trên sông Hương vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem trò bủa lưới, trẻ em hóa trang cá giữa sân đình
  • Xem đua ghe trên phá Tam Giang
  • Quan sát lễ cung nghinh và chánh tế từ ngoài khu tế
  • Ghé biển Thuận An, miếu Thai Dương Phu Nhân gần cửa biển

Từ khóa

  • lễ hội
  • cầu ngư
  • làng chài
  • Thai Dương
  • Thuận An
  • phá Tam Giang

Bảo tàng

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế

Bảo tàng lập năm 1923 dưới tên Musée Khải Định, trưng bày cổ vật cung đình Nguyễn trong điện Long An xây năm 1845, giữ hơn 11.000 hiện vật.

Phú Xuân, Huế

Câu chuyện

Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế nằm ở số 3 Lê Trực, trong Kinh thành, ngay phía đông Hoàng thành. Đây là bảo tàng lập sớm nhất ở Huế: ngày 17/8/1923, vua Khải Định ra chỉ dụ lập Musée Khải Định. Sau nhiều lần đổi tên, bảo tàng nay do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý.

Nhà trưng bày chính là điện Long An. Năm 1845, vua Thiệu Trị dựng cung Bảo Định bên bờ bắc sông Ngự Hà làm nơi nghỉ ngơi ngoài Hoàng cung, điện Long An là điện chính. Năm 1908, triều Duy Tân quyết định dời trường Quốc Tử Giám vào Kinh thành, tháo dỡ phần lớn cung Bảo Định và đưa điện Long An về làm thư viện của trường. Đầu năm 1913, Hội Đô Thành Hiếu Cổ thành lập tại đây; năm 1923 tòa điện trở thành nơi trưng bày của bảo tàng.

Điện làm theo lối "trùng thiềm điệp ốc", tức hai tòa nối mái: tiền điện 7 gian nối với chính điện 5 gian qua trần "vỏ cua", đặt trên 128 cột. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Huế, điện có 1.155 ô hộc trang trí khảm xương, ngà, xà cừ và 578 ô thơ, đại tự; hai bài thơ hồi văn của vua Thiệu Trị, mỗi bài 56 chữ, đọc được thành 64 bài. Ngẩng lên ở tiền điện để xem 8 bộ vì nóc chạm "lưỡng long tranh châu".

Bảo tàng giữ hơn 11.000 hiện vật, trong đó 8 hiện vật và bộ hiện vật (33 hiện vật đơn lẻ) là bảo vật quốc gia. Sưu tập chính gồm đồ sứ men lam "Bleu de Huế", pháp lam, trang phục cung đình, ấn triện, nhạc khí lễ tế, tranh gương, đồ gỗ sơn son thếp vàng, súng thần công. Hiện vật Champa, phần lấy từ đợt khai quật Trà Kiệu năm 1927, đặt ở khu riêng; không gian về vua Hàm Nghi nằm ở nhà Tế Tửu.

Nói thẳng về hạn chế: điện Long An không được thiết kế làm bảo tàng. Năm 2024, Trung tâm cho biết điện chỉ trưng bày được khoảng 500 hiện vật, khó bố trí ánh sáng, nhiệt độ, tuyến tham quan, và khu Champa, khu Hàm Nghi nằm tách rời. Khu trưng bày mới đã có chủ trương từ 2023 nhưng chưa có mốc hoàn thành. Bảo tàng có triển lãm chuyên đề theo đợt, như triển lãm khai mạc tháng 7/2026 với hơn 100 hiện vật của 23 nhà sưu tập.

Vé người lớn 50.000 đồng, trẻ em 7–12 tuổi miễn phí (từ 02/6/2026); vé tuyến hai điểm cùng cung An Định là 80.000 đồng. Giờ theo lịch chung của Trung tâm: mùa hè bán vé 6h30–17h30, mùa đông 7h00–17h00. Nên xem lại giá, giờ trước khi đi.

Nhiều hiện vật là đồ tế tự và nhạc khí nghi lễ. Nội quy của Trung tâm yêu cầu không sờ, ngồi, viết vẽ lên hiện vật, ăn mặc lịch sự, không tự quay phim khi chưa được phép. Chụp ảnh trong điện: hỏi tại quầy vé.

Bảo tàng hợp với người thích đồ sứ, mỹ thuật cung đình và kiến trúc gỗ, nhất là sau khi đã xem Đại Nội; ai cần bảo tàng hiện đại có tương tác sẽ thấy nơi này chật. Muốn xem thêm hiện vật trong một công trình khác, hãy đi cung An Định (bảo tàng trưng bày cả ở lầu Khải Tường) bằng vé tuyến. Đừng nhầm với Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem trưng bày cổ vật cung đình trong điện Long An
  • Xem kiến trúc gỗ khảm và thơ trên liên ba của điện
  • Xem khu cổ vật Champa và trưng bày ngoài trời
  • Mua vé tuyến chung với cung An Định
  • Xem triển lãm chuyên đề theo đợt

Từ khóa

  • bảo tàng
  • cổ vật cung đình
  • điện Long An
  • triều Nguyễn
  • bảo vật quốc gia
  • Huế

Làng cộng đồng

Làng cổ Phước Tích

Làng bên sông Ô Lâu lập năm 1470, di tích quốc gia từ 2009, với hàng chục nhà rường trong vườn chè tàu và nghề gốm hơn 500 năm.

Phong Dinh, Huế

Câu chuyện

Làng Phước Tích nằm trong một khúc uốn của sông Ô Lâu, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 40 km về phía bắc, sát ranh giới tỉnh Quảng Trị; nay là tổ dân phố Phước Phú, phường Phong Dinh. Năm 2009 làng được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, là làng cổ thứ hai ở Việt Nam được xếp hạng như vậy, sau Đường Lâm ở Hà Nội. Các gia đình vẫn sống, làm vườn và đón khách ngay trong nhà mình.

Làng lập năm 1470 thời vua Lê Thánh Tông, rộng khoảng 49 ha, tên đầu là Phúc Giang, thời Tây Sơn đổi thành Hoàng Giang, thời Gia Long gọi là Phước Tích. Trước đó vùng này là đất của người Chăm; trong làng còn miếu Quảng Tế thờ yoni.

Thứ làm nên Phước Tích là nhà rường giữa vườn. Các nguồn đếm khác nhau, từ khoảng 30 đến gần 40 ngôi; Ban quản lý di tích nêu 38 ngôi đều trên 100 năm tuổi, gồm 12 nhà thờ họ, phái và 26 nhà ở. Phần lớn là nhà ba gian hai chái, khung gỗ mít hoặc kiền kiền chạm tứ linh, bát bửu, hoa lá. Các vườn ngăn nhau bằng hàng chè tàu cắt thẳng thay cho tường gạch, kiểu cấu trúc mở mà kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính coi là điển hình của làng quê Bắc Trung Bộ.

Làng từng sống bằng nghề gốm hơn 500 năm: lu, ghè, om nung thành sành, không tráng men vẫn không thấm nước, theo ghe đi qua 12 bến nước trên sông Ô Lâu; om đất từng được đưa vào cung nấu cơm cho vua Nguyễn. Nay gốm chủ yếu làm đồ lưu niệm, vài lò đỏ lửa lại để khách xem, nặn thử.

Cách đi hợp lý là đi bộ hoặc đạp xe theo đường làng lát gạch: ghé những nhà rường có mở cửa đón khách (11 hộ theo số liệu 2023–2025), xưởng gốm cạnh lò cũ đối diện bến Lò, cây thị trên 500 tuổi được công nhận cây di sản năm 2015 và miếu Cây Thị ngay bên cạnh. Thuyền trên sông Ô Lâu, làm bánh, thả đèn hoa đăng nên đặt trước. Phường Phong Dinh có tổ chức phiên chợ quê "Hương xưa Làng cổ" trong làng, gần nhất ngày 25/4/2026.

Hạn chế: làng xa trung tâm Huế, dịch vụ nhỏ. Năm 2022 VnExpress ghi làng hầu như không có quán, muốn ăn phải đặt trước; năm 2025 cổng thông tin phường ghi có 4 điểm ăn uống và 4 hộ nhận khách lưu trú. Nhiều người trẻ đi học, đi làm xa nên ban ngày làng khá vắng. Giá vé, giờ mở cửa chưa có công bố chính thức.

Nhà rường là nhà ở và nơi thờ tự của từng gia đình, dòng họ: chỉ vào những nhà mở cửa đón khách, hỏi chủ nhà trước khi chụp bàn thờ hay chụp người trong nhà. Miếu Cây Thị, miếu Quảng Tế, đình làng là nơi thờ tự đang dùng; ngày 16 tháng Giêng âm lịch hằng năm làng làm lễ ở cây thị, nếu gặp dịp này bạn nên đứng ngoài quan sát.

Phước Tích hợp với người thích kiến trúc gỗ, nghề gốm, muốn nửa ngày đi chậm trong một làng có người đang sống; không hợp nếu bạn cần nhiều hàng quán. Muốn một làng quê gần trung tâm hơn, cầu ngói Thanh Toàn ở phường Thanh Thủy, cách Huế khoảng 8 km, có chợ quê và nhà trưng bày nông cụ.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ, đạp xe đường làng, ghé nhà rường mở cửa đón khách
  • Xem và thử làm gốm tại xưởng trong làng
  • Đi thuyền trên sông Ô Lâu, thả đèn hoa đăng (đặt trước)
  • Học làm bánh, dùng bữa quê (đặt trước)
  • Lưu trú tại hộ gia đình trong làng
  • Dự phiên chợ quê "Hương xưa Làng cổ" theo lịch của phường

Từ khóa

  • làng cổ
  • nhà rường
  • gốm Phước Tích
  • sông Ô Lâu
  • Phong Dinh
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Đồi Vọng Cảnh

Đồi thông cao 43 m bên khúc quanh sông Hương ở phía tây nam Huế, giữa vùng lăng tẩm triều Nguyễn, nhìn sang điện Hòn Chén, được chỉnh trang thành nơi ngắm cảnh từ năm 2021.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Cách trung tâm Huế khoảng 7 km về phía tây nam, đồi Vọng Cảnh là ngọn đồi thông cao 43 m, chân đồi chạm bờ sông Hương, đường Huyền Trân Công Chúa chạy ngang qua. Đồi nằm giữa vùng lăng tẩm triều Nguyễn: trong khoảng 500–700 m có lăng Đồng Khánh, lăng Tự Đức, lăng Thiệu Trị cùng lăng các bà hoàng; bên kia sông là núi Ngọc Trản với điện Hòn Chén.

Báo Văn hóa gọi đây là danh thắng nổi tiếng từ thời Nguyễn, điểm ngắm cảnh quen thuộc của người Huế; Dân trí gọi là "mắt Huế", vì từ đỉnh đồi nhìn được sông Hương cả phía hạ lưu lẫn thượng nguồn. Đồi đứng ngay khúc quanh của sông: dưới chân là làng Cư Chánh, bên kia sông là làng Hải Cát, phía nam là đồi thông Thiên An với ngọn tháp Đan Viện, xa về thượng nguồn là núi Kim Phụng, Kim Kê.

Đồi từng suýt thành khu nghỉ dưỡng. Năm 2005, tỉnh cấp phép xây một khu nghỉ dưỡng cao cấp trên sườn đồi; dư luận phản đối, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho rằng công trình phá vỡ cảnh quan đôi bờ sông Hương, và dự án phải dừng. Sau đó đồi bị bỏ bê nhiều năm. Năm 2015 tỉnh duyệt quy hoạch chi tiết khu vực đồi Vọng Cảnh theo hướng công viên sinh thái. Từ năm 2021, Trung tâm Công viên cây xanh Huế chỉnh trang: lát đá lối dạo, trồng thêm thông, làm vườn hoa trên đỉnh, xây nhà vệ sinh; giai đoạn 2 (2023–2024, 12 tỷ đồng) làm lối đá xuống bến thuyền, lan can bảo vệ và dựng lại chòi canh thành vọng gác khung sắt sơn tím cao hơn 15 m.

Trình tự đi thường là: gửi xe dọc đường Huyền Trân Công Chúa, theo lối lát đá bậc thang lên đỉnh, qua vườn hoa sim, tường vi, ngũ sắc tới vọng gác màu tím; từ vọng gác nhìn xuống khúc quanh sông. Sau đó theo tuyến đá dài hơn một km vòng xuống mép sông và bến thuyền. VnExpress và cổng du lịch Huế đều khuyên đến lúc hoàng hôn; mùa hè, lâm phượng vĩ nở đỏ giữa rừng thông. Dưới chân đồi có dịch vụ chèo SUP trên sông. Năm 2019, đồi là một bối cảnh của phim Mắt biếc.

Cần biết trước: chưa có công bố về vé hay giờ mở cửa; hàng quán giải khát, trông giữ xe do người dân mở dọc đường. Cuối tuần đồi đông học sinh, sinh viên đi dã ngoại. Lối lên là bậc đá, có đoạn dốc; mùa mưa ở Huế (khoảng tháng 9 đến tháng 1) bậc đá dễ trơn. Ven đường còn các công sự cũ từ thời Pháp.

Đồi là rừng thông có chòi canh phòng cháy chữa cháy của kiểm lâm, nên đừng đốt lửa, nướng đồ hay vứt tàn thuốc, và mang rác về. Nếu chèo SUP hay xuống sông, mặc áo phao. Khi ghép thăm các lăng quanh đồi, mặc lịch sự vì đó là nơi thờ tự.

Vọng Cảnh hợp với người thích đi bộ nhẹ, chụp ảnh và ngắm hoàng hôn trên sông, dễ ghép với lăng Tự Đức và làng hương Thủy Xuân trên cùng cung đường. Không hợp với người đi xe lăn hay cần nhiều tiện nghi. Nếu muốn ngắm sông Hương mà không leo dốc, bạn có thể đi thuyền rồng từ bến thuyền du lịch Tòa Khâm ở trung tâm thành phố.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ lối lát đá lên đỉnh đồi
  • Ngắm hoàng hôn trên sông Hương từ chòi canh
  • Dã ngoại dưới rừng thông
  • Xuống bến thuyền ven sông, chèo SUP (thỏa thuận tại chỗ)

Từ khóa

  • đồi thông
  • sông Hương
  • ngắm hoàng hôn
  • lăng tẩm
  • Thủy Xuân
  • Huế

Không gian di sản

Lăng Minh Mạng

Hiếu Lăng trên núi Cẩm Kê gần ngã ba Bằng Lãng, xây 1840–1843, các công trình xếp đăng đối trên trục Thần đạo dài 700 m giữa hồ Trừng Minh.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) nằm trên núi Cẩm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hai nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch hợp lại thành sông Hương; Cổng thông tin thành phố Huế ghi lăng cách trung tâm khoảng 14 km, nay thuộc phường Kim Long. Đây là lăng của vị vua thứ hai triều Nguyễn, nằm trong Quần thể Di tích Cố đô Huế mà UNESCO ghi danh năm 1993.

Vua Minh Mạng cho tìm đất từ năm thứ 7 trị vì, cân nhắc 14 năm mới chọn nơi này. Lăng khởi công tháng 4/1840, có lúc bị đình lại vì vua không vừa ý việc đào hồ. Tháng 1/1841 vua mất, vua Thiệu Trị cho gần 10.000 lính và thợ làm tiếp theo đúng họa đồ của vua cha; tháng 8/1841 an táng vua, đến đầu năm 1843 lăng mới xong.

Điều làm lăng khác các lăng khác là bố cục: trong vòng La thành dài 1.750 m, các công trình xếp đăng đối trên trục Thần đạo dài 700 m, từ cổng Đại Hồng Môn tới chân La thành sau mộ vua. Theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, cả khu lăng được ví như dáng người nằm nghỉ, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông, hai nửa hồ Trừng Minh như hai cánh tay.

Đại Hồng Môn chỉ mở một lần để đưa quan tài vua vào lăng, nên bạn đi vào bằng cổng phụ Tả Hồng Môn hoặc Hữu Hồng Môn. Rồi lần lượt qua sân Bái Đình với hai hàng tượng quan văn võ, voi ngựa bằng đá; Bi Đình có bia "Thánh đức thần công" do vua Thiệu Trị soạn; điện Sùng Ân thờ vua và hoàng hậu; qua ba cây cầu trên hồ Trừng Minh tới Minh Lâu hai tầng tám mái; cuối cùng là hồ Tân Nguyệt hình trăng non ôm lấy Bửu Thành tròn, nơi an táng vua. Trên Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân và Minh Lâu có gần 600 ô chữ khắc thơ.

Nhiều công trình phụ hai bên trục chính như Linh Phượng Các, Truy Tư Trai, Hư Hoài Tạ nay không còn. Trục Thần đạo dài 700 m, thêm 33 bậc lên Bửu Thành, nên tính sức đi bộ, nhất là trưa hè. UNESCO từng lưu ý tác động tiếng ồn và cảnh quan của tuyến đường cao tốc mới lên lăng Minh Mạng và lăng Khải Định.

Vé người lớn 150.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi 30.000 đồng (áp dụng từ 02/06/2026); vé tuyến Minh Mạng và Gia Long 240.000 đồng. Giờ bán vé theo lịch chung của Trung tâm: mùa hè 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00; nên hỏi lại trước khi đi. Lăng gần sông nên chịu lũ: đợt lũ cuối tháng 10/2025, sân chầu ngập khoảng 1,4 m, các điểm di tích phải tạm dừng đón khách.

Điện Sùng Ân vẫn là nơi thờ bài vị vua và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu. Vào điện nên bỏ mũ nón, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng; không sờ, ngồi hay viết lên bia, tượng đá.

Lăng Minh Mạng hợp với người muốn thấy rõ lối quy hoạch lăng tẩm triều Nguyễn và thích đọc thơ khắc trên kiến trúc. Mùa hè hồ có sen. Nếu bạn muốn một lăng giống khu vườn, nhiều thủy tạ và gần trung tâm hơn, lăng Tự Đức ở phường Thủy Xuân là lựa chọn khác; lăng Khải Định lại cho thấy phong cách Đông Tây đầu thế kỷ 20.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan theo trục Thần đạo
  • Ngắm hồ Trừng Minh, hồ Tân Nguyệt
  • Đọc thơ khắc trên các công trình
  • Mua vé tuyến ghép với lăng Gia Long

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Hiếu Lăng
  • Minh Mạng
  • bố cục đăng đối
  • di sản thế giới
  • Huế

Không gian di sản

Chùa Từ Đàm

Chùa trên dốc Nam Giao, nơi nhà sư Liễu Quán học đạo và nơi đại biểu Phật giáo ba miền họp thống nhất năm 1951.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Chùa Từ Đàm nằm trên dốc Nam Giao, số 1 đường Sư Liễu Quán, phường Thuận Hóa, quay mặt về hướng Nam trong khuôn viên khoảng 15.000 m². Ngôi chùa gắn với hai mốc lớn của Phật giáo Việt Nam: nơi nhà sư Liễu Quán học đạo trước khi mở dòng thiền của riêng người Việt ở Đàng Trong, và nơi 51 đại biểu Phật giáo ba miền họp năm 1951 để thống nhất Phật giáo Việt Nam.

Khởi đầu là thiền thất của nhà sư Minh Hoằng Tử Dung, người từ Quảng Đông sang Thuận Hóa ở thế kỷ 17, dựng trên đồi Hoàng Long. Năm 1703, chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển "Sắc tứ Ấn Tông Tự". Tại đây nhà sư Liễu Quán học đạo với thầy Minh Hoằng. Chùa hư hại thời Tây Sơn, được trùng tu đầu đời Gia Long, và năm 1841, năm đầu đời Thiệu Trị, đổi tên thành Từ Đàm.

Năm 1936, trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Hội Phật học An Nam vận động xây lại chùa theo đồ án cách tân của họa sĩ Nguyễn Khoa Toàn. Cũng năm ấy, cây bồ đề chiết cành từ nơi Đức Phật thành đạo ở Ấn Độ được trồng trong sân, do Hội trưởng Hội Phật học Pháp tặng. Từ năm 1960 chùa là trụ sở Giáo hội Phật giáo tỉnh, và trong cuộc vận động chống chế độ Ngô Đình Diệm là nơi tổ chức các hoạt động tranh đấu của Phật giáo ở Huế.

Qua cổng tam quan ba lối là cây bồ đề cổ thụ ngay bên phải. Tiền đường đặt trên nền cao khoảng 1,5 m, trên mái có các cặp rồng đắp khảm sành sứ, hai bên là lầu chuông và lầu trống. Chánh điện thờ Đức Thích Ca, hai bên là Bồ Tát Phổ Hiền và Văn Thù. Góc phía tây sân là tháp Ấn Tôn bát giác 7 tầng, cao khoảng 27 m, xây đầu thế kỷ 21, mỗi tầng thờ một pho tượng Phật bằng đồng. Trong vườn có tượng cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, người góp công cho phong trào chấn hưng.

Chùa còn giữ bức hoành "Sắc tứ Ấn Tông Tự" lạc khoản năm 1703, bức hoành "Từ Đàm Tự" năm Thiệu Trị nguyên niên (1841) và quả đại hồng chung khắc niên hiệu Gia Long. Tiền đường, chánh điện được xây lại theo mô thức chùa cũ nhưng lớn hơn, bảo tháp là công trình mới, nên ai tìm kiến trúc gỗ cổ nguyên bản sẽ thấy khác kỳ vọng.

Chùa không nằm trong hệ thống vé của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và chưa có công bố về giờ mở cửa hay phí tham quan; hỏi trực tiếp tại chùa. Huế mưa nhiều từ tháng 9 đến tháng 1, sân lát đá có thể trơn khi mưa.

Đây là chùa đang có chư tăng tu tập và là nơi làm việc của Giáo hội. Bạn ăn mặc kín đáo, nói khẽ, xin phép trước khi chụp ảnh chư tăng; nhà dài hai tầng phía đông là giảng đường và văn phòng, không phải khu tham quan.

Từ Đàm hợp với người muốn hiểu lịch sử Phật giáo Huế thế kỷ 20 và gốc tích dòng thiền Liễu Quán, trong một buổi ngắn ở nội đô. Nếu bạn muốn một ngôi chùa triều Nguyễn nằm giữa rừng thông để đi chậm, chùa Từ Hiếu ở phường Thủy Xuân là lựa chọn khác; Đàn Nam Giao cùng phường Thuận Hóa có thể ghép chung hành trình.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chánh điện và tiền đường
  • Xem tháp Ấn Tôn 7 tầng và cây bồ đề trồng năm 1936
  • Xem hoành phi 1703, 1841 và đại hồng chung triều Gia Long
  • Kết hợp tham quan Đàn Nam Giao cùng phường

Từ khóa

  • chùa
  • Phật giáo Huế
  • chấn hưng Phật giáo
  • dốc Nam Giao
  • Thuận Hóa
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Biển Thuận An

Bãi biển cách trung tâm Huế 12–15 km về phía đông, cạnh cửa biển nơi sông Hương qua phá Tam Giang ra biển; bờ đang được kè, xây đê ngầm chống sạt lở đến cuối năm 2027.

Thuận An, Huế

Câu chuyện

Cách trung tâm Huế khoảng 12–15 km về phía đông, bãi biển Thuận An nằm cạnh cửa biển Thuận An, nơi sông Hương đổ ra phá Tam Giang rồi thông ra biển. Bờ cát trắng thoai thoải trải dài; mùa hè nhiều người ra đây tắm biển, ăn hải sản nướng ngay trên bãi, và ai dậy sớm thì xem bình minh.

Cửa biển này có tuổi đời dài hơn cái tên. Sử chép từ đầu thế kỷ 15 thời nhà Hồ, nó mang tên cửa Eo; thời các chúa Nguyễn là thủy lộ chính của ba dòng Hương, Bồ, Ô Lâu vào thủ phủ, và năm 1813 vua Gia Long đổi tên thành Thuận An, nghĩa là cửa biển an toàn, thuận lợi. Vua Thiệu Trị xếp cảnh thuyền về cửa biển Thuận An là cảnh thứ 10 trong Thần kinh nhị thập cảnh. Để giữ cửa ngõ kinh đô, triều Nguyễn dựng Trấn Hải Thành và pháo đài Hòa Duân; nay Trấn Hải Đài là nơi đóng quân của đồn Biên phòng.

Một buổi ở Thuận An thường gồm: tắm biển trong khu vực có phao, ăn tôm, sò huyết, mực nướng than bên bãi, thử bánh lọc, bánh nậm, rượu nếp làng Chuồn; rồi ghé miếu Thai Dương Phu Nhân (người dân gọi miếu bà Giàng) và Trấn Hải Đài gần cửa biển. Từ ngày 30/4/2026, cầu vượt cửa biển Thuận An dài khoảng 2,3 km đã thông xe, nối sang phía Hải Dương. Nếu trùng tháng Giêng các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, làng Thai Dương cạnh biển có lễ hội cầu ngư.

Cần nói thẳng: theo VietnamPlus (9/2026), phường Thuận An là nơi bờ biển bị xâm thực thường xuyên và nghiêm trọng nhất Huế. Mùa mưa bão 2024–2025 phá hỏng kè, hạ tầng du lịch và nhiều hàng quán; ở bãi tắm Phú Thuận, bờ biển ăn sâu vào đất liền tới 70 m. Từ ngày 20/6/2026, thành phố thi công dự án 260 tỷ đồng gồm hai đoạn đê ngầm giảm sóng cách bờ 250–300 m, tuyến kè dài 670 m và mỏ hàn 250 m, dự kiến xong cuối năm 2027. Trong thời gian này, một phần bờ biển là công trường.

Về an toàn: bãi tắm Thuận An có đội cứu hộ, khu tắm được giới hạn bằng cọc tiêu, dây phao, chỗ có nước xoáy được cắm biển cảnh báo. Phường cấm tắm biển ban đêm. Theo đội trưởng đội cứu hộ, phần lớn vụ đuối nước xuất phát từ chủ quan, nhiều người xuống biển sau khi uống rượu bia. Từ tháng 9 đến tháng 12, biển Thuận An hay có sóng lớn, biển động mạnh. Bạn chỉ tắm trong vùng phao, nghe theo hướng dẫn của cứu hộ, không xuống nước khi sóng lớn hay sau khi uống rượu bia.

Bãi biển cũng là nơi ngư dân làm việc: đừng tự ý lên thuyền, động vào lưới. Khi vào miếu Thai Dương Phu Nhân hay các miếu thờ ven biển, ăn mặc kín đáo. Hỏi giá trước khi gọi hải sản.

Thuận An hợp với người ở trung tâm Huế muốn đi biển nửa ngày, gia đình muốn tắm biển mùa hè; tháng 6–8 là lúc nước biển xanh nhất. Không hợp với người tìm bãi vắng, yên tĩnh trong lúc bờ biển đang thi công. Nếu muốn bãi dài và dịch vụ nghỉ dưỡng hơn, vịnh Lăng Cô ở phía nam thành phố, bãi tắm dài khoảng 8 km, là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm biển trong vùng có phao và cứu hộ (không tắm ban đêm)
  • Ăn hải sản nướng tại bãi
  • Xem bình minh trên biển
  • Thăm miếu Thai Dương Phu Nhân, Trấn Hải Đài gần cửa biển

Từ khóa

  • bãi biển
  • tắm biển
  • cửa biển Thuận An
  • phá Tam Giang
  • hải sản
  • Huế

Không gian di sản

Nhà vườn An Hiên

Nhà vườn quý tộc ở Kim Long quay mặt ra sông Hương, qua nhiều đời chủ từ công chúa con vua Dục Đức đến bà Tuần Chi, nay do doanh nghiệp mở cửa đón khách.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Nhà vườn An Hiên nằm ở số 58 đường Nguyễn Phúc Nguyên, vùng Kim Long bên bờ bắc sông Hương, mặt nhà quay ra sông và cách chùa Thiên Mụ không xa. Cổng thông tin thành phố Huế gọi An Hiên là nhà vườn tiêu biểu nhất trong số các nhà vườn còn lại ở Huế. Từ tháng 7/2018 nơi này không còn là tư gia: một doanh nghiệp khách sạn quản lý và mở cửa bán vé cho khách từ ngày 15/5/2019.

Kim Long là đất thủ phủ của chúa Nguyễn từ giữa thế kỷ 17, về sau có nhiều phủ đệ của hoàng thân, quan lại. Theo tài liệu của gia đình được báo chí và cổng thông tin thành phố dẫn lại, chủ đầu tiên của An Hiên là công chúa thứ 18 của vua Dục Đức; năm 1895 cơ ngơi thuộc về ông Phạm Đăng Khanh, cháu gọi Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ bằng cô ruột. Năm 1936 Tuần phủ Hà Tĩnh Nguyễn Đình Chi mua lại. Ông mất năm 1940, vợ ông là bà Đào Thị Xuân Yến giữ và chăm vườn đến khi mất năm 1997, nên người Huế quen gọi đây là nhà vườn bà Tuần Chi. Bà từng làm hiệu trưởng trường Nữ trung học Đồng Khánh những năm 1950 và là đại biểu Quốc hội những năm 1980.

Khuôn viên rộng 4.608 m2, bố cục theo phong thủy nhà vườn Huế. Qua cổng gạch cuốn vòm có biển chữ Hán "An Hiên" khảm sành xanh trắng là lối đi dài 34 m giữa hai hàng cây đan tán, dẫn tới bức bình phong lớn, rồi hồ nước trồng hoa súng trước sân. Ngôi nhà rường 3 gian 2 chái rộng 135 m2, có 48 cột gỗ, bờ nóc đắp rồng. Gian giữa bài trí theo lối "tiền Phật hậu linh": bàn thờ Phật ở trước, thờ tổ tiên ở sau. Trong nhà treo bức hoành "Văn võ trung hiếu" vua Bảo Đại ban cho gia đình năm 1937. Bên trái nhà rường là gian nhà kiểu Pháp bà Tuần Chi dựng để ở.

Vườn trồng cây lưu niên đưa về từ ba miền. VnExpress ghi vườn có măng cụt và những cây hồng Tiên Điền do chắt của Nguyễn Du tặng bà Tuần Chi. Theo đơn vị khai thác, mỗi sáng từ 9:30 đến 11:00 có biểu diễn ca Huế.

Thông tin đơn vị khai thác đăng tháng 4/2026: mở 8:00–17:00 hằng ngày, kể cả lễ Tết; vé 50.000 đồng một lượt, trẻ dưới 1,2 m miễn phí; chụp ảnh, quay video theo dịch vụ phải trả thêm phí, nên hỏi trước nếu bạn đi cùng thợ chụp. Sau năm 1997 nhà từng xuống cấp, nhiều hiện vật thất lạc; một phần đồ đạc bạn thấy hôm nay là hiện vật chủ mới tìm lại khi trùng tu. Giá và giờ có thể đổi, nên hỏi lại trước khi đi.

Gian thờ của các chủ nhân cũ vẫn được giữ trong nhà rường. Ở gian giữa, bạn giữ yên lặng và không chạm vào hoành phi, đồ thờ.

An Hiên hợp với người muốn thấy trọn một nhà vườn quý tộc Huế, từ cổng, bình phong, hồ nước đến nhà rường, và có thể ghép với chùa Thiên Mụ gần đó trong một buổi. Lối vào vườn là đường đất, người đi lại khó nên tính trước. Nếu bạn muốn một nhà vườn gắn với bữa ăn theo lối cung đình, Tịnh Gia Viên trên đường Lê Thánh Tôn trong Kinh thành là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan nhà rường 3 gian 2 chái và gian thờ
  • Dạo vườn cây, hồ hoa súng, bình phong
  • Nghe ca Huế buổi sáng
  • Đặt bữa tối cho nhóm riêng (đặt trước)

Từ khóa

  • nhà vườn Huế
  • nhà rường
  • Kim Long
  • sông Hương
  • ca Huế
  • Huế

Không gian di sản

Chùa Thiên Mụ

Ngôi chùa trên đồi Hà Khê bên sông Hương do chúa Nguyễn Hoàng lập năm 1601, có tháp Phước Duyên 7 tầng và hai bảo vật quốc gia.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Cách Đại Nội khoảng 5 km về phía tây, trên đồi Hà Khê ở bờ bắc sông Hương, chùa Thiên Mụ (còn gọi chùa Linh Mụ) là ngôi quốc tự của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, và đến nay vẫn là một ngôi chùa Phật giáo đang hoạt động.

Chùa có trước cả nhà Nguyễn: sách Ô Châu cận lục năm 1555 đã chép có chùa trên đồi này. Năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng cho dựng lại và đặt tên Thiên Mụ, gắn với truyền thuyết về một bà lão báo rằng sẽ có chân chúa đến lập chùa. Năm 1862, vua Tự Đức kiêng chữ "Thiên" nên đổi thành Linh Mụ, từ đó chùa mang cả hai tên. Các mốc dựng lại quan trọng là đợt đại trùng tu của chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1714 và lần vua Gia Long cho dựng lại năm 1815.

Thứ bạn thấy đầu tiên là tháp Phước Duyên (còn gọi tháp Từ Nhân), do vua Thiệu Trị cho xây năm 1844: tháp bát giác 7 tầng, cao 21 m, mỗi tầng thờ tượng Phật. Chùa giữ hai bảo vật quốc gia thời chúa Nguyễn. Đại hồng chung đúc năm 1710, cao 2,4 m, nặng 3.285 cân (khoảng 1.986 kg). Bia "Ngự kiến Thiên Mụ tự" dựng năm 1715, cao 3,89 m, khắc bài văn 1.250 chữ Hán của chúa Nguyễn Phúc Chu, đặt trên lưng một con rùa đá hoa cương.

Đi từ bến sông hoặc từ đường Nguyễn Phúc Nguyên vào, bạn lên các bậc cấp tới nền đình Hương Nguyện trước tháp; hai bên là nhà bia thời Thiệu Trị, lui vào là hai nhà lục giác đặt bia rùa và chuông. Qua cổng tam quan là điện Đại Hùng, điện Địa Tạng, điện Quan Âm và vườn thông phía sau. Ở gian phía sau bên phải chánh điện có trưng bày chiếc ô tô Austin đã chở Hòa thượng Thích Quảng Đức đến ngã tư ở Sài Gòn nơi ngài tự thiêu ngày 11/6/1963 để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo.

Chùa không nằm trong hệ thống vé của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế; giờ mở cửa chưa có công bố chính thức. Chùa đông khách, nhất là dịp lễ và mùa Phật đản. Lối vào có nhiều bậc cấp, người đi lại khó nên tính trước. Đường xe chạy ngang giữa bến thuyền và cổng chùa, nên để ý khi qua đường. Năm 2019 từng có người bán hàng quanh chùa bị phạt vì bán giá quá cao cho khách nước ngoài, nên bạn hỏi giá trước khi mua.

Đây là nơi thờ tự: ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng trong khu điện. Đừng chạm tay, viết hay vẽ lên Đại hồng chung: Cục Di sản văn hóa ghi chữ và hoa văn trên chuông đã mòn nghiêm trọng vì khách sờ vào, và chuông từng bị viết bậy. Gian trưng bày chiếc xe Austin là nơi tưởng niệm, nên giữ thái độ trang nghiêm.

Thiên Mụ hợp với người quan tâm lịch sử chúa Nguyễn, đồ đồng và bia đá, hoặc lịch sử Phật giáo năm 1963. Văn Miếu và Võ Miếu triều Nguyễn chỉ cách vài trăm mét, có thể đi cùng buổi. Nếu bạn muốn một ngôi chùa nằm giữa rừng thông, có khe nước, chùa Từ Hiếu ở phường Thủy Xuân, nơi thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất gia, là lựa chọn khác trong thành phố.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan tháp Phước Duyên và điện Đại Hùng
  • Xem Đại hồng chung, bia rùa Ngự kiến Thiên Mụ tự
  • Dạo vườn thông
  • Đi thuyền sông Hương đến chùa

Từ khóa

  • chùa cổ
  • tháp Phước Duyên
  • bảo vật quốc gia
  • sông Hương
  • chúa Nguyễn
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Vườn quốc gia Bạch Mã

Vườn quốc gia hơn 37.400 ha thành lập năm 1991, có khu nghỉ mát thời Pháp trên đỉnh, thác Đỗ Quyên cao trên 300 m và các đường mòn Hải Vọng Đài, Ngũ Hồ.

Phú Lộc, Huế

Câu chuyện

Từ trung tâm Huế đi về phía nam chừng 40 đến 55 km (tùy đường), bạn đến cổng Vườn quốc gia Bạch Mã ở xã Phú Lộc. Vườn rộng 37.423,10 ha, trải trên thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng, với một con đường độc đạo từ quốc lộ lên vùng đỉnh cao khoảng 1.450 m.

Bạch Mã khác các khu rừng khác ở miền Trung nhờ lớp lịch sử trên đỉnh. Năm 1932 người Pháp đề xuất dựng khu nghỉ mát tại đây; đến năm 1942 đã có gần 139 biệt thự, chợ, bưu điện và đường ô tô tới khách sạn Morin. Dọc đường mòn nay còn những mảng tường đá granit đổ nát của thời ấy. Năm 1973 bộ đội chiếm điểm cao Bạch Mã và đào địa đạo, nay là di tích quốc gia. Vườn quốc gia thành lập ngày 15/7/1991, mở rộng năm 2008, và nhận chứng nhận Vườn Di sản ASEAN tháng 12/2025.

Khi đường thông, một ngày trên đỉnh thường gồm ba tuyến ngắn. Từ biệt thự Morin đi bộ 800 m đường đá lên Hải Vọng Đài, nhìn ra núi rừng, biển và đầm phá. Đường mòn Ngũ Hồ dài khoảng 1,5 km qua chuỗi thác và hồ, được bơi ở hồ số 4 và 5. Từ Km16, đi 1,5 km tới đỉnh thác Đỗ Quyên cao trên 300 m, đầu nguồn một nhánh sông Hương; ai đủ sức có thể xuống gần 700 bậc tới chân thác. Vườn đã ghi nhận 363 loài chim, theo vườn nên xem vào sáng sớm và chiều tối.

Điều bạn cần biết trước tiên: đường lên đỉnh bị đứt ở Km12 sau đợt mưa cuối tháng 10/2025, khi trạm trên đỉnh Bạch Mã đo được 1.739,6 mm mưa trong 24 giờ. Từ 01/01/2026 vườn mở cửa lại nhưng xe không qua được Km12; khách đi bộ qua đoạn sạt khoảng 500 m rồi đi bộ thêm khoảng 7 km lên Hải Vọng Đài. Đến tháng 6/2026 đoạn này vẫn chưa được sửa, nên chuyến lên đỉnh hiện là một ngày đi bộ dài.

Theo thông báo của vườn, bạn phải có mặt ở Trung tâm Du khách trước 9h để ghép đoàn có hướng dẫn viên, quay về trước 17h; muốn ngủ lại trên đỉnh thì đăng ký trước ít nhất 1 ngày. Vé người lớn 65.000 đồng; trẻ em, học sinh, sinh viên, người cao tuổi 25.000 đồng (bảng giá từ 01/5/2025). Gọi 083 635 6669 hỏi tình trạng đường trước khi đi. Tháng 11 đến tháng 1 trên núi mưa lạnh, sương mù; mùa khô vẫn có mưa giông buổi chiều. Mang áo ấm, giày đế thấp và thuốc chống côn trùng.

Vườn nhắc khách đừng mong đợi khách sạn sang trọng, karaoke hay món ăn từ thú rừng. Xả rác, nhổ cây, bẻ cành có thể bị phạt tiền; vườn đề nghị không mang đồ ăn, nước uống vào khu du lịch để bớt rác.

Bạch Mã hợp với người đi bộ khỏe, người xem chim, người thích cắm trại và nhóm muốn ngủ một đêm trong rừng. Gia đình có trẻ nhỏ, người lớn tuổi hoặc người khó đi bộ nên chờ đường thông, hoặc chỉ đi thác Trĩ Sao ở Km8, dưới điểm sạt. Nếu muốn cảnh nước và núi mà ít phải leo, bạn có thể đi thuyền trên hồ Truồi đến Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã, một điểm cũng có trong danh sách tham quan của vườn.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ đường mòn Hải Vọng Đài, Ngũ Hồ, Đỗ Quyên
  • Thuê hướng dẫn viên của vườn
  • Cắm trại, xem chim
  • Lưu trú trên đỉnh (đăng ký trước)

Từ khóa

  • vườn quốc gia
  • trekking
  • thác Đỗ Quyên
  • biệt thự Pháp
  • Hải Vọng Đài
  • Huế

Không gian di sản

Điện Hòn Chén

Điện thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na trên núi Ngọc Trản bên sông Hương, được vua Đồng Khánh đổi tên điện Huệ Nam, di tích quốc gia từ năm 1998.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Ngược sông Hương từ trung tâm Huế, trên núi Ngọc Trản sát mép nước, điện Hòn Chén (tên chính thức từ thời vua Đồng Khánh là điện Huệ Nam) là nơi thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Đây là di tích cấp quốc gia từ năm 1998 do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý, đồng thời là điện thờ đang hoạt động của cộng đồng tín đồ thờ Mẫu ở Huế.

Theo cổng thông tin của thành phố Huế, nơi này xưa là chỗ người Chăm-pa thờ nữ thần Po Nagar; người Việt về sau tiếp tục thờ bà dưới danh xưng Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Sách Đại Nam thực lục chép vua Đồng Khánh lúc chưa lên ngôi thường lên núi này cầu khấn; lên ngôi rồi, vua cho xây lại đền và đổi tên thành điện Huệ Nam, nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam.

Tên Hòn Chén có hai lời giải. Cổng thông tin thành phố Huế tả trên đỉnh núi có chỗ trũng quây vòng đá, mưa xuống nước đọng lại như cái chén. Dân gian kể vua Minh Mạng đánh rơi chén ngọc xuống sông và một con rùa lớn ngậm trả lại; cổng du lịch Huế ghi chuyện này không có trong chính sử.

Khoảng 10 công trình nằm lưng chừng sườn núi, hướng ra sông, nối với bến nước bằng hệ bậc cấp. Sát mép sông là am Thủy Phủ; điện chính Minh Kính Đài ở giữa; hai bên là nhà Quan Cư, Trinh Cát Viện, chùa Thánh, dinh thờ Ngũ Vị Thánh Bà, động thờ ông Hổ cùng nhiều am nhỏ dưới tán cây cổ thụ.

Mỗi năm vào tháng 3 và tháng 7 âm lịch, lễ hội điện Huệ Nam thu hút hàng vạn người, với đoàn thuyền rước Thánh Mẫu trên sông Hương sang đình làng Hải Cát rồi trở về điện. Lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ cuối năm 2024.

Vé do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế thu: người lớn 50.000 đồng, trẻ em 7–12 tuổi miễn phí (từ 02/6/2026); giờ mở cửa theo lịch chung của Trung tâm, nên hỏi lại trước. Đường đến không thuận: năm 2016 Báo Thanh Niên ghi di tích chưa có đường ô tô và bãi đỗ xe, khách đi đường thủy hoặc theo đường làng Hải Cát; hiện trạng nên hỏi lại. Từ bến lên điện là bậc cấp. Mùa lễ rất đông; hội thảo tháng 8/2026 nêu tình trạng xả rác, đốt vàng mã trên sông, chèo kéo và bán giá quá cao.

Đây là nơi thờ tự. Bạn ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không tự ý chạm vào bàn thờ, đồ lễ. Hầu đồng, hát văn là nghi lễ của người hành lễ, không phải buổi biểu diễn: đứng xem ở khoảng cách, không chen vào chỗ hầu, xin phép trước khi chụp người, không quay phim hay phát trực tiếp nghi lễ.

Điện Hòn Chén hợp với người muốn hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế và lớp văn hóa Chăm bên dưới, người thích đi thuyền trên sông Hương; không hợp với người khó leo bậc cấp hay chỉ muốn xem hầu đồng như một màn trình diễn. Nếu cần điểm đi đường bộ thuận hơn, chùa Thiên Mụ cùng phường Kim Long, nơi đoàn rước Thánh Mẫu làm lễ cáo trong lễ hội tháng 7 năm 2025, là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan điện Huệ Nam và các am thờ trên núi Ngọc Trản
  • Dâng hương theo hướng dẫn tại điện
  • Đến bằng thuyền trên sông Hương hoặc đường bộ qua Hải Cát
  • Xem lễ hội điện Huệ Nam (tháng 3, 7 âm lịch) từ xa

Từ khóa

  • điện thờ Mẫu
  • Thiên Y A Na
  • điện Huệ Nam
  • núi Ngọc Trản
  • sông Hương
  • Huế

Phòng tranh

Trung tâm Nghệ thuật Điềm Phùng Thị

Cơ sở trưng bày của Bảo tàng Mỹ thuật Huế ở 17 Lê Lợi, giữ 367 tác phẩm nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị tặng Huế, với ngôn ngữ 7 mô-đun lắp ghép.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Trung tâm Nghệ thuật Điềm Phùng Thị ở số 17 Lê Lợi, bên sông Hương gần cầu Trường Tiền, là nơi trưng bày tác phẩm của nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị (tên thật Phùng Thị Cúc, 1920–2002). Từ cuối năm 2018, trung tâm là một trong ba không gian trưng bày của Bảo tàng Mỹ thuật Huế, cạnh Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng ở số 15 Lê Lợi. Nếu bạn thấy địa chỉ số 1 Phan Bội Châu ở đâu đó, đó là chỗ cũ: trung tâm đã chuyển về Lê Lợi từ tháng 4/2018.

Bà sinh năm 1920 ở làng Châu Ê, ngoại thành Huế, học nha khoa ở Hà Nội rồi sang Pháp chữa bệnh và học tiếp nha khoa ở đó. Năm 1959 bà mới đến với điêu khắc, và có triển lãm đầu tiên năm 1966. Năm 1991 tên bà được đưa vào từ điển Larousse về những tài năng nghệ thuật thế kỷ 20; năm 1992 bà được bầu làm Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học, Văn học và Nghệ thuật châu Âu.

Ngôn ngữ riêng của bà là bộ 7 mô-đun hình học. Từ những mẩu gỗ thừa bị bỏ đi ở xưởng, bà chọn ra 10 ký hiệu rồi rút gọn còn 7, sau đó lắp ghép, đổi kích thước, màu sắc, chất liệu để tạo nên các tác phẩm. Nhà phê bình Raymond Cogniat gọi chúng là mẫu tự, giáo sư Trần Văn Khê ví như 7 nốt nhạc.

Năm 1993 bà cùng lãnh đạo thành phố Huế lập trung tâm ở số 1 Phan Bội Châu và tặng tác phẩm cho người Huế. Hiện trung tâm giữ 367 tác phẩm (491 hiện vật) trong một tòa nhà xây năm 1940, thuộc danh mục 27 công trình kiến trúc Pháp tiêu biểu ở Huế do tỉnh ban hành.

Bên trong, hai tầng nhà rộng hơn 400 m2 trưng bày gần 120 tác phẩm theo ba giai đoạn sáng tác: những tượng tả thực về thân thể phụ nữ, giai đoạn tìm tòi hình khối, rồi các tác phẩm lắp ghép mô-đun. Tầng một có ảnh tư liệu về cuộc đời bà; tầng hai là phòng tưởng niệm với đồ dùng và dụng cụ sáng tác. Sân vườn 1.500 m2 đặt 15 tác phẩm bằng đá, đồng, bê tông, composite, cùng những ghế đá mô phỏng mô-đun để ngồi nghỉ. Trung tâm thường tổ chức cho học sinh, sinh viên vẽ, xé dán giấy và lắp ghép theo mô-đun.

Trung tâm mở tất cả các ngày trừ thứ Hai, kể cả lễ Tết, sáng 7h30–11h30 và chiều 13h00–17h00; buổi trưa đóng cửa. Trang của Bảo tàng Mỹ thuật Huế ghi vé 30.000 đồng người lớn, 20.000 đồng trẻ 6–16 tuổi, còn cổng visithue ghi mức cao hơn nhiều, nên hỏi lại tại quầy.

Phòng tưởng niệm là nơi khách có thể thắp nén nhang tưởng nhớ bà; giữ yên lặng ở đây và không chạm vào tác phẩm trong nhà lẫn ngoài sân.

Nơi này hợp với người thích điêu khắc hiện đại, và với gia đình có trẻ nhỏ muốn thử lắp ghép mô-đun. Bạn có thể đi tiếp sang Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng ngay bên cạnh. Nếu bạn muốn xem tranh, tượng của nhiều nghệ sĩ gắn với Huế thay vì một tác giả, Không gian trưng bày Mỹ thuật Huế của cùng bảo tàng là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem trưng bày cố định gần 120 tác phẩm theo ba giai đoạn
  • Dạo sân tượng ngoài trời
  • Thắp nhang tại phòng tưởng niệm nghệ sĩ
  • Vẽ, xé dán, lắp ghép mô-đun cho học sinh, sinh viên

Từ khóa

  • điêu khắc
  • Điềm Phùng Thị
  • Bảo tàng Mỹ thuật Huế
  • đường Lê Lợi
  • kiến trúc Pháp
  • Huế

Không gian di sản

Lăng Tự Đức

Khiêm Lăng của vua Tự Đức, xây 1864–1867 trong thung lũng hẹp ở Thủy Xuân, gần 50 công trình mang chữ "Khiêm" quanh hồ Lưu Khiêm.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng) nằm trong một thung lũng hẹp giữa rừng thông ở thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân; Cổng thông tin thành phố Huế ghi lăng cách Huế 8 km. Đây là lăng của vua Tự Đức (trị vì 1848 đến 1883), thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế mà UNESCO ghi danh năm 1993.

Lăng xây từ năm 1864 đến 1867. Khi khởi công, vua đặt tên là Vạn Niên Cơ; sau cuộc khởi nghĩa Chày Vôi của anh em Đoàn Hữu Trưng, vua đổi thành Khiêm Cung, đến khi vua mất mới gọi là Khiêm Lăng. Vua dựng nơi này như một hành cung để nghỉ ngơi lúc còn sống, rồi làm chỗ yên nghỉ về sau. Gần 50 công trình trong lăng đều mang chữ "Khiêm" trong tên gọi.

Khác với lăng Minh Mạng đi thẳng một trục, ở đây con đường lát gạch Bát Tràng từ cửa Vụ Khiêm uốn lượn qua các cụm công trình trên những thế đất cao thấp khác nhau. Bạn đi qua Chí Khiêm Đường, lên Khiêm Cung Môn nhìn ra hồ Lưu Khiêm, nơi có Xung Khiêm Tạ và Dũ Khiêm Tạ, chỗ vua ngắm hoa, làm thơ. Bên trong là điện Hòa Khiêm thờ vua và hoàng hậu, điện Lương Khiêm thờ bà Từ Dũ (mẹ vua), và nhà hát Minh Khiêm, được coi là một trong những nhà hát cổ nhất Việt Nam còn lại.

Sang khu lăng mộ, sau hai hàng tượng quan văn võ là nhà bia với tấm bia Khiêm Cung Ký. Vua Tự Đức không có con nối dõi nên tự soạn bài văn bia này thay cho bài "Thánh đức thần công" mà vua kế vị thường viết. Bia khắc 4.935 chữ Hán trên hai mặt, theo Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế là tấm bia nhiều chữ nhất Việt Nam; trong đó vua tự thuật đời mình và tự nhận lỗi. Bia được công nhận bảo vật quốc gia năm 2015. Cuối cùng là hồ Tiểu Khiêm hình trăng non và Bửu Thành. Trong khuôn viên còn lăng hoàng hậu Lệ Thiên Anh và lăng vua Kiến Phúc.

Lăng rộng và đi theo lối quanh co, nên dành đủ thời gian và đi giày thoải mái. Vé người lớn 150.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi 30.000 đồng (áp dụng từ 02/06/2026); vé tuyến Tự Đức và Đồng Khánh 200.000 đồng. Giờ bán vé theo lịch chung của Trung tâm, mùa hè 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00; nên hỏi lại trước khi đi.

Lăng cũng chịu lũ: trong đợt lũ cuối tháng 10/2025, lăng ngập khoảng 1 m, một đoạn kè hồ dài khoảng 10 m bị sạt. Mùa mưa bão tháng 10, 11 nên xem thông báo trước.

Điện Hòa Khiêm và điện Lương Khiêm vẫn là nơi thờ tự: bỏ mũ nón, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng. Không chạm hay viết lên bia Khiêm Cung Ký và tượng đá.

Lăng Tự Đức hợp với người thích kiến trúc hòa vào cảnh quan, thích thơ văn và câu chuyện về một vị vua tự viết về lỗi của mình. Đường đến lăng đi qua làng hương Thủy Xuân. Nếu bạn muốn một bố cục đối xứng, nghiêm cẩn hơn, lăng Minh Mạng là lựa chọn khác; nếu muốn xem kiến trúc Đông Tây đầu thế kỷ 20, hãy đến lăng Khải Định.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan khu tẩm điện và khu lăng mộ
  • Dạo quanh hồ Lưu Khiêm, Xung Khiêm Tạ
  • Xem bia Khiêm Cung Ký
  • Mua vé tuyến ghép với lăng Đồng Khánh

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Khiêm Lăng
  • Tự Đức
  • bảo vật quốc gia
  • di sản thế giới
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Phá Tam Giang

Phần phía bắc của hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai rộng hơn 22.000 ha ven biển Huế, nơi có làng chài, chợ trên phá, rừng ngập mặn Rú Chá.

Huế

Câu chuyện

Từ trung tâm Huế đi về phía bắc chừng 15 đến 20 km, bạn chạm tới phá Tam Giang, dải nước lợ nằm giữa đất liền và dải cồn cát ven biển. Phá dài khoảng 25 km, từ cửa sông Ô Lâu tới cầu Thuận An, rộng từ 0,5 đến 4 km, mùa cạn phần lớn chỉ sâu 1 đến 1,5 m. Sông Hương và sông Bồ đều đổ vào phá trước khi ra biển qua cửa Thuận An.

Phá Tam Giang là phần phía bắc của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, gồm phá Tam Giang, đầm Thủy Tú và đầm Cầu Hai, dài khoảng 68 đến 70 km. Cơ quan nhà nước Việt Nam gọi đây là hệ đầm phá lớn nhất Đông Nam Á; danh hiệu này thuộc về cả hệ, không riêng phá Tam Giang. Năm 2020 tỉnh lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tam Giang - Cầu Hai rộng khoảng 2.071 ha, gồm vùng cửa sông Ô Lâu, vùng Cồn Tè - Rú Chá và 23 khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Mùa đông, chim nước tụ về vùng đầm phá có lúc tới khoảng 20.000 con.

Mặt phá là nơi làm ăn của nhiều làng chài. Ngư dân cắm nò, sáo đánh bắt; sáng sớm ở đầm Quảng Lợi có chợ trên mặt nước, tiểu thương chèo thuyền ra mua tôm cá vừa đánh bắt sau một đêm. Làng Ngư Mỹ Thạnh (xã Đan Điền) hình thành từ đầu thế kỷ 19, vốn là dân vạn đò sống trên thuyền, sau mới lên bờ định cư. Nay nhiều gia đình ở đây làm du lịch vì nguồn lợi thủy sản giảm: bạn có thể đi đò cùng người dân đổ nò, thả lừ, bủa lưới, chèo SUP, len vào hàng bần chua ven phá, rồi ăn bữa cá tôm do chính họ nấu.

Ở phía nam, rừng ngập mặn Rú Chá (phường Hóa Châu) có tên từ chữ "rú" là rừng và cây chá; mùa thu hoa chá nở vàng, và theo VnExpress thì tham quan không mất phí. Muốn ngắm bình minh trên phá, bạn nên rời trung tâm Huế khoảng 5h30; chiều muộn là lúc ngắm hoàng hôn.

Mặt hạn chế cần biết: phá không có cổng hay bảng giá chung; dịch vụ rải rác theo từng làng, giá đò, SUP, bữa ăn do người dân tự đặt, nên hỏi rõ trước khi lên đò. Cuối tuần nhiều chuyến đò ở Ngư Mỹ Thạnh kín chỗ. Ghe đò trên phá là phương tiện đường thủy: công an địa phương yêu cầu chủ đò trang bị áo phao và không chở quá số người. Bạn hãy mặc áo phao suốt chuyến, không lên đò đã chật khách, và tránh đi khi trời có giông hoặc trong mùa bão tháng 10, 11.

Nò, lưới trên phá là tài sản và sinh kế của ngư dân; đừng tự ý chạm vào, và hỏi trước khi chụp ảnh cận cảnh người đang làm việc. Mua cá, thuê đò trực tiếp từ người làng giúp tiền ở lại với họ.

Phá Tam Giang hợp với người thích chụp ảnh bình minh, hoàng hôn, người muốn hiểu đời sống làng chài và gia đình muốn nửa ngày trên nước. Người tìm bãi tắm hay dịch vụ nghỉ dưỡng đầy đủ sẽ thấy phá không phù hợp. Nếu muốn ở lại qua đêm bên mặt nước, đầm Chuồn trong cùng hệ đầm phá có lưu trú và ăn uống của người dân.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm bình minh, hoàng hôn trên phá
  • Thăm làng chài Ngư Mỹ Thạnh, Thái Dương Hạ
  • Dạo rừng ngập mặn Rú Chá
  • Chèo SUP
  • Ăn hải sản vùng phá

Từ khóa

  • đầm phá
  • Tam Giang – Cầu Hai
  • làng chài
  • rừng ngập mặn Rú Chá
  • bình minh
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Đầm Lập An

Đầm nước lợ phía sau bãi biển Lăng Cô, dưới chân đèo Phú Gia, nơi người dân nuôi hàu trên mặt nước và khách đến ngắm hoàng hôn sau dãy Bạch Mã.

Chân Mây - Lăng Cô, Huế

Câu chuyện

Đầm Lập An, còn gọi đầm An Cư hay đầm Lăng Cô, là vùng nước lợ nằm phía sau bãi tắm Lăng Cô, dưới chân đèo Phú Gia, thuộc xã Chân Mây - Lăng Cô, thành phố Huế. Một phía đầm là dãy Bạch Mã, phía kia là khu dân cư ven biển và vịnh Lăng Cô; quốc lộ 1A chạy gần đầm. Vịnh Lăng Cô cách trung tâm Huế khoảng 60 km, cách Đà Nẵng khoảng 20 km.

Nước đầm trao đổi với biển nhờ dòng triều. Báo chí ghi diện tích khác nhau: nhiều bài ghi khoảng 800 ha, có bài ghi hơn 1.600 ha. Trong đầm có cá mú, cá kình, cá bống thệ và hàu sữa.

Hàu là sinh kế chính quanh đầm. Nghề nuôi hàu xuất hiện ở đây khoảng năm 2000 và phát triển mạnh từ năm 2003: người nuôi đóng cọc, giăng dây, treo lốp xe cũ xẻ đôi dưới mặt nước cho hàu bám, rồi dựng chòi nổi để trông coi. Năm 2023, VTV ghi 60–70% người dân thị trấn Lăng Cô cũ tham gia nuôi hàu, và diện tích nuôi thực tế vượt khoảng bốn lần con số 100 ha được quy hoạch.

Cách tiếp cận mặt đầm dễ nhất là phố đi bộ đường Nguyễn Văn ven đầm, đưa vào khai thác tháng 5/2024 dịp kỷ niệm 15 năm vịnh Lăng Cô vào Câu lạc bộ Những vịnh đẹp nhất thế giới. Quanh đầm có đường nhỏ ven nước, có khách đi dạo hoặc đạp xe. Lúc chiều muộn, mặt trời xuống sau dãy Bạch Mã, và Tuổi Trẻ coi hoàng hôn là lúc đẹp nhất để ngắm đầm. Món nên thử là hàu: hàu hấp gừng, hàu xào chua ngọt, đậu phụ nhồi hàu.

Cần biết trước: mặt đầm hiện ken cọc tre, phao và lốp xe nuôi hàu; vỏ hàu, lốp cũ chất dọc bờ, có đoạn bốc mùi. Ở bờ tây còn bãi cọc bê tông dài khoảng một cây số và các nhà chồ bê tông của một dự án du lịch bị thu hồi năm 2018, nhiều trụ bê tông nằm dưới đáy nước. Dịch vụ vui chơi quanh đầm còn ít.

Cảnh này sẽ đổi trong vài năm tới. UBND thành phố Huế đã ban hành kế hoạch khơi thông, phục hồi hệ sinh thái đầm giai đoạn 2027–2030, kinh phí dự kiến 13,8 tỷ đồng: gom vùng nuôi về khoảng 100 ha, thay toàn bộ cọc, lốp xe bằng vật liệu thân thiện môi trường và lập khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Việc tháo dỡ cọc dự kiến làm trong hai năm 2027–2028.

Nếu muốn ra giữa đầm bằng thuyền, hãy đi cùng người địa phương, vì cọc hàu và trụ bê tông ngầm khó thấy. Muốn chụp ảnh thì dừng ở phố đi bộ, đừng dừng xe trên quốc lộ. Tháng 10–11 là mùa bão ở Huế. Chòi và bè hàu là nơi làm việc, là tài sản của người nuôi: đừng tự ý lên chòi hay lấy hàu, và hỏi trước khi chụp cận người đang làm.

Đầm Lập An hợp với người thích ngắm cảnh chiều, chụp ảnh và muốn ăn hàu tại chỗ, dễ ghép với tắm biển Lăng Cô trong cùng buổi. Nếu bạn muốn xem một hệ đầm phá lớn hơn của Huế, phá Tam Giang ở phía bắc thành phố là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm hoàng hôn từ phố đi bộ Nguyễn Văn
  • Dạo bộ, đạp xe ven đầm
  • Ăn hàu và hải sản đầm
  • Chụp ảnh chòi nuôi hàu trên mặt nước

Từ khóa

  • đầm nước lợ
  • hàu
  • Lăng Cô
  • hoàng hôn
  • Bạch Mã
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Sông Hương – cầu Trường Tiền

Dòng sông chảy qua trung tâm Huế và cây cầu thép 6 nhịp xây 1897–1899 nối hai bờ; buổi tối có thuyền rồng nghe ca Huế.

Huế

Câu chuyện

Ở trung tâm Huế, cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương, nối phường Phú Xuân ở bờ bắc (phía Kinh thành, chợ Đông Ba) với phường Thuận Hóa ở bờ nam (đường Lê Lợi). Từ đây bạn đi bộ trên cầu, dạo bờ sông và xuống thuyền ở bến Tòa Khâm bên đường Lê Lợi.

Sông Hương hình thành khi hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch gặp nhau ở ngã ba Bằng Lãng (ngã ba Tuần); thác Đỗ Quyên trong Vườn quốc gia Bạch Mã là đầu nguồn của một nhánh. Sông chảy qua Kim Long, Nguyệt Biều, Vĩ Dạ, Đông Ba, Gia Hội, Chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh, hợp với sông Bồ ở ngã ba Sình rồi đổ vào phá Tam Giang trước khi ra biển.

Cầu Trường Tiền xây năm 1897, hoàn thành năm 1899 thời vua Thành Thái, do hãng Eiffel của Pháp đảm nhận. Cầu gồm 6 nhịp dầm thép hình bán nguyệt, mỗi nhịp 67 m, dài khoảng 400 m, rộng 6,2 m, và là công trình đầu tiên bắc qua sông Hương phục vụ giao thông. Cầu từng mang tên Thành Thái, Clémenceau rồi Nguyễn Hoàng; người dân gọi Trường Tiền vì bờ bắc xưa có xưởng đúc tiền của triều Nguyễn. Năm 1937 cầu được mở hành lang hai bên cho người đi bộ, xe đạp; năm 2017 phục hồi 10 ban công ngắm cảnh hình nửa lục giác. Tấm bảng tên "Tràng Tiền" gắn nhầm năm 1995 vẫn còn, nên hai tên được dùng song song.

Từ tháng 6/2026 cầu được sửa kết cấu thép và sơn lại màu nhũ bạc như thời Nguyễn. Góc có cây phượng già ở chân cầu bờ nam cho toàn cảnh cầu. Buổi tối cầu lên đèn, ven sông có hàng quán ăn vặt. Bạn cũng có thể đi thuyền rồng nghe ca Huế, lối hát giao thoa giữa nhã nhạc cung đình và dân ca, thường một người hát cùng dàn năm cây đàn. Thuyền đi các điểm di tích xuất phát từ bến Tòa Khâm và bến số 5 đường Lê Lợi.

Điều cần biết: công trình sửa cầu dự kiến kéo dài 150 ngày từ 1/6/2026; trong thời gian đó cấm mọi phương tiện qua cầu từ 21h đến 5h sáng, một bên lề đi bộ bị rào. Hãy hỏi lại xem lệnh cấm còn hiệu lực không. Thuyền rồng là dịch vụ của chủ thuyền tư nhân; giá và giờ chạy không có bảng niêm yết chung, nên thỏa thuận rõ trước khi lên.

Trên sông, hãy mặc áo phao, không lên thuyền đã đông khách, và không chèo SUP ở các cơ sở chưa đăng ký: đầu tháng 5/2026 công an phường Phú Xuân phát hiện 5 hộ cho thuê SUP chưa đăng ký kinh doanh, không có dụng cụ cứu hộ. Tháng 10 và 11 là mùa bão ở Huế.

Ca Huế trên thuyền là buổi diễn của nghệ sĩ; hỏi trước nếu muốn quay cận mặt người hát. Đi bộ trên cầu nhớ nhường đường, không dừng chụp ảnh giữa lối xe.

Nơi này hợp với người đến Huế lần đầu, muốn một buổi tối đi bộ nhẹ và nghe ca Huế. Người tìm cảnh sông vắng hơn có thể đi xuôi về phá Tam Giang, nơi nước sông Hương đổ vào.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ trên cầu và dọc bờ sông
  • Ngắm cầu lên đèn buổi tối
  • Đi thuyền rồng nghe ca Huế (dịch vụ tư nhân)
  • Đi thuyền từ bến Tòa Khâm đến các di tích

Từ khóa

  • sông Hương
  • cầu Trường Tiền
  • thuyền rồng
  • ca Huế
  • Eiffel
  • Huế

Không gian di sản

Cung An Định

Cung điện riêng của vua Khải Định bên sông An Cựu, cải tạo 1917–1919 theo lối tân cổ điển; lầu Khải Tường còn 6 bức tranh tường vẽ các lăng vua Nguyễn.

Thuận Hóa, Huế

Câu chuyện

Cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu, phía nam sông Hương, cổng chính trên đường Phan Đình Phùng, phường Thuận Hóa, thành phố Huế. Đây là cung điện riêng của vua Khải Định, không phải cung trong Hoàng thành, và nổi bật ở Huế vì lối kiến trúc tân cổ điển đầu thế kỷ 20.

Năm 1902, Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định sau này) lập phủ An Định tại đây. Năm 1917 vua dùng tiền riêng cải tạo thành cung theo lối kiến trúc mới, đầu năm 1919 hoàn tất. Từ năm 1922, cung là nơi ở riêng của Đông cung Thái tử Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại sau này. Sau khi thoái vị ngày 30/8/1945, cựu hoàng Bảo Đại cùng gia đình rời Đại Nội về ở đây một thời gian ngắn.

Khuôn viên rộng hơn 2,3 ha, thời trước có khoảng 10 công trình, từ bến thuyền, cổng, đình Trung Lập, lầu Khải Tường đến nhà hát Cửu Tư Đài và hồ nước. Nay chỉ còn ba: cổng chính kiểu tam quan hai tầng đắp nổi sành sứ, đình Trung Lập hình bát giác, và lầu Khải Tường ba tầng kiểu lâu đài châu Âu.

Bạn vào từ cổng Phan Đình Phùng, qua đình Trung Lập rồi lên lầu Khải Tường. Sảnh chính tầng 1 có tượng đồng Thái tử Vĩnh Thụy và 6 bức tranh vẽ thẳng lên tường, tả lăng các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh và Kiến Phúc. Bức thứ sáu từng lâu chưa rõ vẽ lăng nào; năm 2023 báo Tuổi Trẻ đưa tin đã đối chiếu được đó là lăng vua Kiến Phúc. Phòng ngủ và một phòng khác ở tầng 2 dùng để trưng bày hiện vật; theo Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, hiện vật ở đây đều là hiện vật gốc, được thay đổi định kỳ.

Vé người lớn 50.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi miễn phí (bảng giá áp dụng từ 02/06/2026); có vé ghép với Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế 80.000 đồng. Giờ mở cửa theo lịch chung của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, mùa hè bán vé 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00. Giá, giờ có thể đổi, nên hỏi lại trước khi đi.

Cung nằm sát sông An Cựu và từng ngập nặng: trong đợt lũ cuối tháng 10 đầu tháng 11/2025, Trung tâm cho biết sân cung ngập khoảng 2 m, nước vào nội thất lầu Khải Tường khoảng 10 cm. Mùa mưa lũ nên xem thông báo trước khi đến.

Trong lầu, đừng chạm tay vào tranh tường và hiện vật; nội quy của Trung tâm cấm sờ, viết vẽ lên hiện vật, cấm bay flycam khi chưa được phép.

Cung An Định hợp với người thích kiến trúc thời Khải Định, mỹ thuật trang trí đầu thế kỷ 20 và giai đoạn cuối triều Nguyễn gắn với vua Bảo Đại. Ai chỉ có nửa ngày ở Huế nên ưu tiên Đại Nội. Nếu muốn xem cùng phong cách mà có quy mô lớn hơn, lăng Khải Định ở phường Thủy Xuân là lựa chọn khác; trong Đại Nội thì có điện Kiến Trung được phục dựng năm 2024.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan lầu Khải Tường
  • Xem 6 bức tranh tường vẽ lăng vua Nguyễn
  • Xem hiện vật gốc của Bảo tàng Cổ vật Cung đình
  • Mua vé tuyến ghép với Bảo tàng Cổ vật Cung đình

Từ khóa

  • cung điện
  • Khải Định
  • Bảo Đại
  • tân cổ điển
  • tranh tường
  • Huế

Không gian di sản

Hổ Quyền

Đấu trường lộ thiên hình vành khăn vua Minh Mạng cho xây năm 1830 ở Trường Đá để tổ chức các trận voi đấu với hổ; trận cuối cùng diễn ra năm 1904.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Hổ Quyền, còn gọi Hổ Khuyên, là đấu trường lộ thiên triều Nguyễn dùng cho các trận đấu giữa voi và hổ. Công trình nằm ở khu Trường Đá, phía tây nam Kinh thành, cách trung tâm Huế khoảng 3 km, nay thuộc phường Thủy Xuân; trước tháng 7/2025 nơi này thuộc phường Thủy Biều.

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Huế, các trận đấu voi và hổ đã có từ thời các chúa Nguyễn, tổ chức ở cồn Dã Viên trên sông Hương; thời Gia Long và đầu thời Minh Mạng thì tổ chức trên dải đất trước Kinh thành, sát bờ sông. Thấy như vậy quá nguy hiểm cho người xem, năm 1830 vua Minh Mạng cho xây Hổ Quyền. Trận đấu cuối cùng diễn ra năm 1904, dưới thời vua Thành Thái; sau đó đấu trường gần như bị bỏ hoang.

Trong quan niệm triều đình thời ấy, voi tượng trưng cho sức mạnh của nhà vua nên được sắp đặt để thắng, còn hổ bị xem là đại diện cho thế lực chống đối và bị giết trong trận đấu. Một số địa phương phải bắt hổ sống đưa về Huế cho các trận này. Vì vậy các trận đấu vừa là dịp triều đình phô diễn quyền lực, vừa gắn với việc huấn luyện voi chiến. Đây là tập tục của một thời đã qua, được kể lại như một phần lịch sử của di tích.

Đấu trường có hình tháp cụt, đường kính đáy 44 m, chu vi tường ngoài khoảng 140 m, xây bằng gạch vồ, đá thanh và vôi vữa. Khán đài của vua ở phía bắc, xây cao hơn các chỗ khác, nhìn thẳng xuống lòng đấu trường; bên trái khán đài là lối lên cho vua và hoàng thân, bên phải cho quan lại, binh lính. Dưới khán đài là cửa voi hình vòm rộng khoảng 1,9 m, cao gần 4 m. Phía đối diện, trong thân tường là 5 chuồng hổ có cửa gỗ kéo bằng dây từ trên xuống. Bạn có thể đi theo lối lát gạch chạy gần trọn vòng thành và để ý các miệng thoát nước tạo hình đầu cá.

Hổ Quyền không có trong bảng giá vé của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, và giờ mở cửa, phí tham quan chưa có công bố chính thức. Công trình nhỏ, không có điện thờ hay nội thất để xem, nên thường chỉ cần một lần ghé ngắn. Mặt thành cao khoảng 4,75–5,9 m, nên trông trẻ nhỏ khi đi trên đó.

Di tích nằm giữa khu dân cư: năm 2021 thành phố triển khai dự án chỉnh trang gần 5 ha, dự kiến di dời 42 hộ quanh cụm di tích. Hãy giữ yên tĩnh, không vào vườn nhà dân, không trèo lên tường ngoài lối đi và không viết, vẽ lên gạch cổ.

Hổ Quyền hợp với người quan tâm lịch sử triều Nguyễn và kiến trúc phòng thủ, có thể ghép với điện Voi Ré gần đó, nơi thờ voi dựng năm 1817. Nếu bạn muốn một di tích có vé, giờ mở cửa và thuyết minh rõ ràng, lăng Đồng Khánh hoặc lăng Tự Đức cùng phường Thủy Xuân là lựa chọn thuận hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi quanh lối đi trên thành đấu trường
  • Xem khán đài vua, cửa voi và 5 chuồng hổ
  • Kết hợp thăm điện Voi Ré gần đó

Từ khóa

  • đấu trường cổ
  • Hổ Quyền
  • Minh Mạng
  • triều Nguyễn
  • Thủy Xuân
  • Huế

Không gian di sản

Chùa Thánh Duyên (núi Túy Vân)

Quốc tự triều Nguyễn trên núi Túy Vân bên đầm Cầu Hai, có tháp Điều Ngự ba tầng trên đỉnh, di tích quốc gia từ năm 1996.

Vinh Lộc, Huế

Câu chuyện

Từ trung tâm Huế đi khoảng 40 km theo quốc lộ 49B qua biển Thuận An, bạn gặp núi Túy Vân, một ngọn núi nhỏ cao khoảng 60 m nhô lên bên đầm Cầu Hai, gần cửa biển Tư Hiền, thuộc xã Vinh Lộc (trước là xã Vinh Hiền). Trên núi là chùa Thánh Duyên, một trong bốn ngôi quốc tự của Huế cùng Thiên Mụ, Diệu Đế, Giác Hoàng, và là di tích cấp quốc gia từ năm 1996.

Tương truyền chúa Nguyễn Phúc Tần (1648–1687) đi qua vùng này, lập một am nhỏ trên sườn núi làm nơi cầu phúc cho dân. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu nâng am thành chùa; chùa bị phá hủy trong chiến tranh cuối thế kỷ 18. Năm 1825, vua Minh Mạng dựng lại, đặt tên Thúy Hoa. Năm 1836, nhân lễ mừng Thuận Thiên Hoàng Thái hậu 70 tuổi, vua cho xây thêm Đại Từ các và tháp Điều Ngự, đổi tên chùa thành Thánh Duyên và ban sắc phong quốc tự.

Tên núi cũng đổi theo triều đại. Vua Thiệu Trị kiêng tên húy của mẹ là Hồ Thị Hoa nên đổi núi Thúy Hoa thành Thúy Vân, dân đọc chệch thành Túy Vân. Qua bài thơ "Vân Sơn thắng tích", ông xếp cảnh núi thứ 9 trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh.

Chân núi có nhà bia đặt bia "Vân Sơn thắng tích" của vua Thiệu Trị. Leo 38 bậc cấp lên chùa, qua cổng tam quan hai tầng; góc trái sân có phương đình đặt bia ngự chế khắc bốn bài thơ của vua Minh Mạng. Chánh điện làm theo lối trùng thiềm điệp ốc (nhà trước nối liền nhà sau), thờ Tam thế Phật, hai bên là Thập điện Minh vương và Thập bát La Hán; giữa điện còn long vị đồng khắc chữ chúc thọ vua Minh Mạng. Theo cửa hậu lên tiếp là Đại Từ các thờ Phật, Quan Âm, Đại Thế Chí; trên đỉnh là tháp Điều Ngự vuông, ba tầng, cao khoảng 12–13 m, phía sau là đình Tiến Sảng.

Từ tầng trên của tháp nhìn ra đầm Cầu Hai, cửa Tư Hiền và dãy Bạch Mã; báo chí tả cảnh hoàng hôn trên đầm nhìn từ sườn núi. Khuôn viên có hơn 100 cây cổ thụ 200–300 năm tuổi.

Chùa xa trung tâm, chưa công bố giờ mở cửa hay phí tham quan, nên hỏi trước. Tam quan và chánh điện đã được trùng tu theo kiểu mới; lối lên tháp là bậc đá dưới tán cây, trong tháp là cầu thang gỗ. Khách có được lên tháp hay không tùy hiện trạng, hỏi tại chùa.

Chùa đang hoạt động, dịp Phật Đản và Vu Lan đón đông Phật tử. Bạn ăn mặc kín đáo, nói khẽ; bia đá, long vị là hiện vật di tích, không sờ, không tựa hay leo lên bia.

Thánh Duyên hợp với người đi tuyến phía nam Huế, muốn kết hợp di tích triều Nguyễn với cảnh đầm phá, người quan tâm thơ văn các vua Nguyễn; không hợp người ngại leo bậc hoặc chỉ có nửa ngày trong thành phố. Khi đó chùa Thiên Mụ ở phường Kim Long, cũng là quốc tự, gần hơn nhiều.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chánh điện và Đại Từ các
  • Xem bia thơ của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị
  • Lên tháp Điều Ngự nhìn đầm Cầu Hai (hỏi trước tại chùa)
  • Ngắm hoàng hôn trên đầm Cầu Hai từ sườn núi

Từ khóa

  • quốc tự
  • tháp Điều Ngự
  • núi Túy Vân
  • đầm Cầu Hai
  • Vinh Lộc
  • Huế

Làng nghề

Làng hương Thủy Xuân

Các cơ sở làm hương trầm dọc đường Huyền Trân Công Chúa, nổi tiếng với những bó chân hương nhuộm màu xếp thành hình hoa cho khách chụp ảnh.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Làng hương Thủy Xuân nằm dọc đường Huyền Trân Công Chúa, phường Thủy Xuân, cách trung tâm Huế khoảng 7 km về phía tây nam, dưới chân đồi Vọng Cảnh và trên đường tới lăng Tự Đức, chùa Từ Hiếu. Đây là nơi các gia đình làm hương trầm, thứ hương người Huế thắp hằng ngày trên bàn thờ gia tiên, trong chùa và miếu.

Nghề có từ bao giờ thì chính người làng cũng không nhớ chính xác; nhiều người cao tuổi kể nghề hình thành từ thời nhà Nguyễn, ban đầu làm hương cho việc thờ cúng của triều đình và dân chúng. Nghề làm hương trầm Thủy Xuân đã được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế công nhận là nghề truyền thống. Theo báo Nhân Dân cuối năm 2020, làng còn khoảng 50 hộ giữ nghề, trong đó 20 hộ kết hợp đón khách.

Một cây hương trầm cần gần 60 nguyên, phụ liệu như tùng, quế chi, hồi, cam thảo, bạch đàn, xay thành bột rồi nhào với mùn cưa và keo. Chân hương là tre chẻ nhỏ, nhuộm màu khoảng một nửa rồi phơi nắng chừng hai tháng cho thật khô, để khi cháy đến chân, tàn hương chỉ cong xuống chứ không gãy ngang. Theo một người làm hương kể năm 2020, khoảng mười năm trước đó máy đã bắt đầu hỗ trợ đánh bột, se hương; một số gia đình vẫn giữ cách làm tay.

Hình ảnh quen thuộc nhất là những bó chân hương đỏ, vàng, xanh, tím xòe tròn như bông hoa trước hiên nhà. Chân hương xưa chỉ có màu nâu, đỏ; các màu mới được nhuộm thêm để hấp dẫn khách. Khi đến, bạn có thể xem các công đoạn, thử se một cây hương và mua hương trầm, hương quế, nụ trầm, túi thơm.

Nói thẳng: Thủy Xuân ngày nay là điểm chụp ảnh được dàn dựng công phu. Các cơ sở không bán vé, cho chụp ảnh tự do; nguồn thu đến từ bán lưu niệm, cho thuê áo dài, cổ phục và khoản khách "tùy tâm" để lại. Nhiều quán sơn tường, treo lồng đèn, xếp hương thành từng khối làm phông nền. Ngày nắng, một cơ sở có thể đón 150 đến 200 người đến chụp, nên giờ đông khó có khung hình vắng. Những ngày mưa kéo dài, nhiều nhà không bày hương vì sợ ẩm.

Hương ở đây là đồ dâng cúng chứ không phải đạo cụ chụp ảnh. Nếu đã chụp nhiều ở một nhà, hãy mua một bó hương hoặc món quà nhỏ; xin phép trước khi chụp cận người đang se hương, không ngồi hay giẫm lên các khối hương đang phơi, và đừng đứng giữa lòng đường Huyền Trân Công Chúa để chụp.

Thủy Xuân hợp với người thích chụp ảnh, gia đình muốn cho trẻ thử se hương và khách đi tuyến lăng Tự Đức, đồi Vọng Cảnh muốn ghé thêm một điểm. Nếu bạn quan tâm quy trình sản xuất hơn là chụp ảnh, làng nghề đúc đồng Phường Đúc ở phường Thuận Hóa là nơi các lò vẫn nhận đúc chuông, tượng, đồ thờ theo đơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem các công đoạn làm hương
  • Thử se hương
  • Chụp ảnh với các bó chân hương
  • Thuê áo dài, cổ phục chụp ảnh (một số cơ sở)
  • Mua hương trầm, nụ trầm, túi thơm

Từ khóa

  • hương trầm
  • làng nghề
  • chụp ảnh
  • Thủy Xuân
  • Huế

Không gian di sản

Lăng Khải Định

Ứng Lăng trên triền núi Châu Chữ, xây 1920–1931 bằng bê tông cốt thép, trang trí ghép sành sứ, kết hợp kiến trúc Đông – Tây.

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Lăng Khải Định (Ứng Lăng) nằm trên triền núi Châu Chữ, còn gọi Châu Ê, cách trung tâm Huế khoảng 10 km, nay thuộc phường Thủy Xuân. Đây là lăng của vua Khải Định (trị vì 1916 đến 1925), vị vua thứ 12 triều Nguyễn và là vua cuối cùng xây lăng, thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế mà UNESCO ghi danh năm 1993.

Lăng khởi công ngày 4/9/1920; vua mất và được an táng năm 1925, còn công trình kéo dài tới năm 1931 mới xong. Điểm khác biệt lớn nhất là vật liệu: lăng làm bằng bê tông cốt thép, không dùng gỗ như các lăng trước. Vua cho người sang Pháp mua sắt thép, xi măng, ngói ác đoa, sang Trung Quốc, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh. Mặt bằng lăng chỉ 117 m x 48,5 m, nhỏ so với các lăng khác, nhưng tốn nhiều công sức và thời gian.

Lăng dựng trên sườn đồi, huyệt mộ ở gần đỉnh nên các công trình xếp thành nhiều tầng cấp, tổng cộng 127 bậc từ cổng tới khu lăng chính. Dù làm bằng bê tông, lăng vẫn đủ các thành phần như lăng xưa: sân chầu có hai hàng tượng đá quan văn võ tạc bằng người thật, nhà bia, trụ biểu; cung Thiên Định nằm ở tầng cao nhất.

Bên trong cung Thiên Định là phần đáng xem nhất: ba gian giữa phủ phù điêu ghép mảnh sành, sứ và thủy tinh màu, trên các cột là đề tài bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Trần ba gian giữa là bức "Cửu long ẩn vân" (chín rồng ẩn trong mây). Giữa cung là tượng đồng vua Khải Định bằng người thật, đúc tại Pháp năm 1922, phía trên là bửu tán nặng 1 tấn. Mộ vua nằm ngay dưới pho tượng, nên đây là lăng hiếm hoi mà ai cũng biết vị trí huyệt mộ.

Với 127 bậc cấp, bạn nên tránh giờ trưa mùa hè và cân nhắc nếu đi cùng người lớn tuổi hay người khó leo. UNESCO từng yêu cầu giảm tác động của tiếng ồn, ô nhiễm cảnh quan lên lăng Khải Định và lăng Minh Mạng, cùng tác động của một tuyến cao tốc mới.

Vé người lớn 150.000 đồng, trẻ em 7 đến 12 tuổi 30.000 đồng (áp dụng từ 02/06/2026); lăng có trong các vé tuyến 3 và 4 điểm cùng Đại Nội. Giờ bán vé theo lịch chung của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, mùa hè 6h30 đến 17h30, mùa đông 7h00 đến 17h00; nên hỏi lại trước khi đi.

Cung Thiên Định vừa là điện thờ vừa là nơi đặt mộ vua: bỏ mũ nón, ăn mặc kín đáo, giữ yên lặng; không chạm vào các mảng ghép sành sứ, tượng và hiện vật.

Lăng Khải Định hợp với người thích mỹ thuật trang trí, kiến trúc giao thoa Đông Tây đầu thế kỷ 20. Nếu bạn muốn một lăng rộng, nhiều cây xanh và mặt nước, lăng Tự Đức cùng phường Thủy Xuân sẽ hợp hơn. Muốn xem thêm công trình cùng thời Khải Định, hãy ghé cung An Định bên sông An Cựu.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan cung Thiên Định
  • Xem nghệ thuật ghép sành sứ
  • Leo 127 bậc ngắm cảnh
  • Mua vé tuyến ghép Đại Nội – lăng

Từ khóa

  • lăng vua Nguyễn
  • Ứng Lăng
  • khảm sành sứ
  • kiến trúc Đông – Tây
  • di sản thế giới
  • Huế

Không gian di sản

Tháp Chăm Phú Diên

Tháp gạch Champa khoảng đầu thế kỷ VIII, phát hiện năm 2001 dưới cồn cát ven biển, nằm thấp hơn mực nước biển và được che trong nhà kính.

Phú Vinh, Huế

Câu chuyện

Tháp Chăm Phú Diên nằm trong vùng cồn cát ven biển thôn Mỹ Khánh, xã Phú Diên cũ, nay thuộc xã Phú Vinh, thành phố Huế. Tháp chỉ cách mép nước biển khoảng 120 m, nằm thấp hơn mặt cát xung quanh 5 đến 7 m và thấp hơn mực nước biển 3 đến 4 m.

Ngày 18/4/2001, công nhân khai thác titan trên cồn cát bất ngờ đào trúng một khối gạch. Tháng 8 và 9/2001, Huế phối hợp Viện Khảo cổ học khai quật và làm lộ ra một ngôi tháp gạch còn khá đủ các phần móng, chân đế, thân và diềm mái. Các nhà khoa học xác định tháp có niên đại khoảng đầu thế kỷ VIII, thuộc nhóm kiến trúc Champa sớm nhất còn lại ở miền Trung. Ngày 28/12/2001, tháp được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Tháp hình chữ nhật, đáy dài 8,22 m, rộng 7,12 m, càng lên cao càng giật cấp thu nhỏ, thuộc dạng tháp lùn; phần còn lại cao khoảng 3,1 đến 3,26 m. Cửa chính quay về hướng đông, ba mặt kia là cửa giả. Trong lòng tháp tìm thấy một yoni bằng đá và bình gốm, những hiện vật gắn với việc thờ cúng của người Chăm. Trước cửa có một bệ gạch vuông cao 1,4 m, có thể từng đặt tượng thờ; bên phải còn móng một tháp nhỏ hơn.

Để giữ tháp, từ năm 2005 đến 2007 người ta gia cố móng bằng bê tông, làm taluy chống sạt và dựng nhà bao che. Vì vậy thứ bạn thấy khi đến là một nhà khung kính, mái composite, bên trong là ngôi tháp nằm dưới đáy một hố cát. Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế trực tiếp quản lý; theo báo Dân trí năm 2024, có hai người bảo vệ mở cửa cho khách, và nhà kính được hạn chế mở để tránh tác động trực tiếp lên gạch.

Nói thẳng về hạn chế: tháp xa trung tâm Huế, đi lại không thuận tiện, và chưa có dịch vụ nào được công bố tại khu di tích. Cuối năm 2025, mưa bão và nước biển dâng làm tháp ngập sâu, phải bơm hai ngày mới rút. Tháng 8/2026 khu di tích đã khô ráo, nhưng một số chỗ gạch nứt, mủn và phương án chống ngập lâu dài chưa được thống nhất. Giá vé, giờ mở cửa chưa có công bố chính thức; nên hỏi Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế trước khi đi, nhất là mùa mưa.

Đây là một công trình tôn giáo của người Chăm xưa. Hãy xem tháp qua vách kính hoặc từ lối đi, không bước vào vùng hố quanh tháp, không chạm hay cạy gạch, không leo lên bệ gạch trước cửa.

Tháp Phú Diên hợp với người quan tâm khảo cổ, kiến trúc Champa và những ai muốn thấy một di tích được bảo tồn theo cách khác thường. Nếu bạn chỉ có một buổi và muốn tìm hiểu dấu ấn Chăm gần trung tâm Huế hơn, điện Hòn Chén ở phường Kim Long, nơi người Chăm từng thờ nữ thần Po Nagar, là lựa chọn dễ đi hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem tháp từ lối đi quanh hố và qua vách kính nhà bao che
  • Tìm hiểu tháp Champa sớm và cách bảo tồn dưới cồn cát

Từ khóa

  • tháp Chăm
  • Champa
  • khảo cổ
  • Phú Diên
  • Phú Vinh
  • Huế

Không gian di sản

Chùa Huyền Không Sơn Thượng

Chùa Nam tông lập năm 1989 trong thung lũng rừng thông ở phía tây Huế, có thư pháp chữ Việt khắc đá, treo dọc lối đi.

Kim Long, Huế

Câu chuyện

Qua chùa Thiên Mụ, theo đường ven sông Hương qua Văn Thánh, Võ Thánh và cầu Xước Dũ, rồi rẽ vào thôn Đồng Chầm và đi thêm khoảng 3 km đường núi, bạn đến Huyền Không Sơn Thượng, một ngôi chùa Phật giáo Nam tông nằm trong thung lũng giữa rừng thông, nay thuộc phường Kim Long. VnExpress ghi chùa cách thành phố khoảng 15 km. Người ta còn gọi đây là Huyền Không 2, để phân biệt với chùa Huyền Không (Huyền Không 1, Huyền Không Sơn Trung) cách chùa Thiên Mụ gần 3 km về phía tây.

Chùa do nhà sư Giới Đức, pháp hiệu Minh Đức Triều Tâm Ảnh, khai sơn năm 1989, khởi đầu chỉ là một am tranh nhỏ. Theo tư liệu của Giáo hội Phật giáo thành phố Huế được Báo Thanh Niên dẫn, khi ấy vùng đồi cây cối thưa thớt, đất khô cằn; nhà nước giao hơn 54 ha đất để nhà chùa quản lý. Hơn ba thập niên, chư tăng khai hoang, đào giếng, trồng cây; rừng thông lớn lên từ đó được gọi là Vạn Tùng Sơn.

Điều làm nơi này khác các chùa khác ở Huế là thư pháp và thơ. Vị sư khai sơn là thi sĩ, nhà thư pháp; câu đối thư pháp Việt có trên cổng, trên cột chánh điện, ở am Mây Tía, và những dòng thư pháp khắc trên đá hay treo dọc lối đi. Ngay chỗ để giày dép có tấm biển: "Cảm ơn giày dép bụi đường / Đúng nơi đúng chỗ thơm hương đi về".

Khuôn viên chia làm hai. Ngoại viện mở cho khách viếng chùa, vãn cảnh, xem thư pháp: chánh điện, am Mây Tía, Nghinh Lương đình, nhà khách, Chúng Hòa đường, Tĩnh Trai đường. Chánh điện dựng theo cốt nhà rường Huế, chủ yếu bằng gỗ, lợp ngói vảy cá, không sơn son thếp vàng. Hồ nước trồng bèo, súng, có cầu giả gỗ dẫn ra đảo nhỏ và chòi tranh; theo bậc đá lên tháp chuông, bạn nhìn được toàn cảnh chùa. Nội viện là khu biệt lập dành cho thiền sư, hành giả, Phật tử hành thiền.

Đường vào quanh co, có đoạn dốc cao. Chùa chưa công bố giờ mở cửa hay quy định phí; nên hỏi trước. Các nguồn ghi quy mô khác nhau: chùa khoảng 10.000 m², rừng thông khoảng 50 ha, đất được giao hơn 54 ha.

Đây là nơi tu hành. Bạn giữ yên lặng, mặc kín đáo (tránh áo sát nách, quần soóc, váy ngắn), không vào các khu vực dành riêng cho tu tập, và xin phép trước khi chụp ảnh chư tăng đang thiền hành.

Huyền Không Sơn Thượng hợp với người muốn một buổi sáng đi chậm dưới rừng thông, người yêu thư pháp và thơ; không hợp nếu bạn tìm chùa cổ triều Nguyễn hay ngại đường dốc. Có thể ghép chùa Thiên Mụ và chùa Huyền Không 1 trên cùng tuyến. Nếu muốn chùa trong rừng thông mà gần nội đô, chùa Từ Hiếu ở phường Thủy Xuân là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chánh điện và dạo khu ngoại viện
  • Xem thư pháp chữ Việt khắc đá, treo dọc lối đi
  • Đi bộ quanh hồ nước, lên tháp chuông nhìn toàn cảnh
  • Kết hợp chùa Thiên Mụ, chùa Huyền Không 1 trên cùng tuyến

Từ khóa

  • chùa Nam tông
  • rừng thông
  • thư pháp
  • Vạn Tùng Sơn
  • Kim Long
  • Huế

Thiên nhiên & Mùa

Vịnh Lăng Cô

Vịnh biển dưới chân núi Hải Vân, bãi cát trắng dài 8–10 km, phía sau là đầm Lập An; thành viên Câu lạc bộ Những vịnh đẹp nhất thế giới từ tháng 5/2009.

Chân Mây - Lăng Cô, Huế

Câu chuyện

Vịnh Lăng Cô nằm ở cực nam thành phố Huế, cách trung tâm Huế khoảng 60 km và cách Đà Nẵng khoảng 20 đến 25 km, kẹp giữa đèo Hải Vân và đèo Phú Gia. Quốc lộ 1 chạy dọc bãi cát, nên ô tô hay xe khách đều tới sát bãi. Phía sau dải cát là đầm Lập An, vùng nước lợ rộng khoảng 800 ha.

Tên gọi Lăng Cô có hai cách giải thích dân gian: người Pháp đọc trại tên làng chài An Cư ở phía nam đầm, hoặc nơi này xưa nhiều cò nên gọi Làng Cò. Tháng 5/2009, tại hội nghị lần thứ V ở Setúbal (Bồ Đào Nha), Lăng Cô được bầu làm thành viên thứ 30 của Câu lạc bộ Những vịnh đẹp nhất thế giới. Đây là tư cách thành viên của một hiệp hội, được xét lại theo tiêu chí cảnh quan, môi trường, chứ không phải một bảng xếp hạng. Đến tháng 9/2026, trang của câu lạc bộ vẫn liệt kê Lăng Cô cùng Hạ Long, Lan Hạ và Nha Trang.

Bãi tắm dài khoảng 8 đến 10 km tùy nguồn, cát trắng, bờ thoải. Chiều tối, bạn có thể dạo phố đi bộ Nguyễn Văn ven đầm Lập An, mở từ tháng 5/2024, và ăn hải sản đầm như cá mú, cá kình, cá bống thệ, hàu sữa ở các quán ven đầm hoặc trên bè. Sáng sớm lúc nước ròng là lúc nên ra đầm. Hằng năm có chương trình "Lăng Cô - Vịnh đẹp thế giới"; năm 2026 diễn ra từ 5 đến 7/6 trên phố đi bộ này.

Mặt hạn chế: biển Lăng Cô có sóng vừa và lớn, và một số bãi chưa có biển cảnh báo hay đội cứu hộ thường trực. Dịp lễ 30/4 và 1/5/2023 đã có ba du khách bị sóng cuốn xa bờ, được cứu kịp. Buổi tối ở đây không có nhiều hoạt động giải trí vì xa thành phố.

Muốn tắm biển, bạn nên chọn tháng 6 đến tháng 8; tháng 9 đến tháng 12 là mùa mưa, nhiều nhất tháng 10 và 11. Hãy tắm gần bờ, ở nơi có người, tránh đoạn nước sâu và không xuống nước khi biển động. Nếu đi xe máy từ Đà Nẵng, lưu ý hầm Hải Vân chỉ dành cho ô tô, nên bạn phải đi đường đèo. Bãi biển là không gian mở; giá dịch vụ như ghế, thuyền, hải sản do từng cơ sở tự đặt, nên hỏi giá trước.

Quanh đầm Lập An là làng chài và bè nổi của người dân. Không tự ý lên bè, chạm vào ngư cụ, và hỏi trước khi chụp ảnh cận cảnh người đang làm việc. Mang rác về, nhất là đồ nhựa, vì đầm là nơi người dân đánh bắt hải sản.

Lăng Cô hợp với người muốn nghỉ biển yên, ăn hải sản đầm, hoặc dừng chân trên cung Huế - Đà Nẵng kết hợp đèo Hải Vân và Vườn quốc gia Bạch Mã. Người tìm giải trí về đêm sẽ thấy Lăng Cô khá vắng. Nếu muốn ngắm bình minh trên một bãi hình vòng cung, bãi Cảnh Dương gần đó là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm biển
  • Dạo phố đi bộ ven đầm Lập An
  • Ăn hải sản đầm Lập An
  • Ngắm vịnh từ đèo Hải Vân

Từ khóa

  • vịnh biển
  • Worldbays Club
  • đầm Lập An
  • Hải Vân
  • bãi biển
  • Huế

Làng nghề

Làng nón Tây Hồ

Làng bên sông Như Ý ở xã Phú Hồ, nơi tương truyền ra đời chiếc nón bài thơ xứ Huế; nay chỉ còn vài nhà giữ nghề chằm nón.

Phú Hồ, Huế

Câu chuyện

Tây Hồ là một làng thuần nông bên sông Như Ý, nay thuộc xã Phú Hồ, thành phố Huế, cách trung tâm Huế khoảng 12 km về hướng đông nam. Làng được biết đến nhờ nghề chằm nón lá, và người Tây Hồ nhận quê mình là nơi ra đời chiếc nón bài thơ.

Tương truyền, khoảng năm 1959–1960, một người thợ chằm nón yêu thơ trong làng ép câu "Ai ra xứ Huế mộng mơ / Mua về chiếc nón bài thơ làm quà" vào giữa hai lớp lá. Ban đầu người làng làm để tặng nhau, sau đó làm hàng loạt để bán. Mỗi nguồn ghi tên người khởi xướng một khác, và có báo cho rằng không có cứ liệu chắc chắn về người đầu tiên.

Cái hay của nón bài thơ nằm bên trong: một tờ giấy được đục lỗ thành chữ và hình, thường là tháp chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, câu thơ về Huế, kẹp giữa hai lớp lá. Nhìn bên ngoài chỉ thấy lá trắng; phải giơ nón lên trước ánh sáng thì hình và chữ mới hiện ra. Một chiếc nón qua khoảng 15 công đoạn, từ sấy, ủi lá, chuốt 16 nan vành đến chằm từng mũi cước; người thợ còn phân biệt lá đực, lá cái để xếp lớp trong, lớp ngoài.

Cần biết trước: nghề ở Tây Hồ đã thu hẹp nhiều. Năm 2007 báo chí ghi làng có hơn 300 hộ, gần 90% làm nón; đến đầu năm 2024, báo Người Lao Động viết làng chỉ còn vài nhà chằm nón vì thu nhập quá thấp, nhiều người chuyển sang làm công ty. Chưa có công bố chính thức nào về điểm đón khách, giờ hay giá trải nghiệm, nên đến mà không hẹn trước rất có thể không gặp ai đang chằm nón.

Nếu gặp người đang làm, hãy hỏi trước khi chụp và đừng chạm vào lá đang ủ hay đang xây trên khuôn. Theo báo năm 2022 và 2024, một chiếc nón bài thơ ở Tây Hồ có giá khoảng 70.000 đến hơn 100.000 đồng; mua trực tiếp từ người chằm là cách để nghề có thêm thu nhập.

Tây Hồ hợp với người muốn tìm về gốc tích nón bài thơ và sẵn lòng hẹn trước qua người quen hoặc chính quyền xã. Nếu bạn chỉ muốn xem và chọn nón, chợ Đông Ba ở trung tâm Huế có các quầy nón lâu năm và một quầy vật liệu làm nón, theo báo năm 2024 là nơi duy nhất ở Huế còn bán giấy bài thơ, tiện hơn nhiều so với đi 12 km mà không chắc gặp người làm.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem chằm nón tại nhà thợ (cần hẹn trước)
  • Mua nón bài thơ trực tiếp từ người làm
  • Tìm hiểu cấu tạo giấy bài thơ giữa hai lớp lá

Từ khóa

  • nón lá
  • nón bài thơ
  • chằm nón
  • làng nghề
  • Phú Hồ
  • Huế

Phòng tranh

Bội Trân Garden

Khu vườn nghệ thuật tư nhân rộng hơn 5.000m² trên đồi Thiên An do nghệ nhân ẩm thực Bội Trân xây dựng từ năm 1995, từng được đầu bếp Anthony Bourdain giới thiệu trong chương trình Parts Unknown (CNN, 2014).

Huế

Câu chuyện

Bội Trân Garden là khu vườn nghệ thuật tư nhân trên đồi Thiên An (khu vực Thủy Tiên), thị xã Hương Thủy, thành phố Huế, cách trung tâm Huế khoảng 10km. Không gian rộng hơn 5.000m² do bà Bội Trân nghệ nhân ẩm thực và người tâm huyết phục dựng văn hóa nhà vườn Huế xây dựng và làm chủ từ năm 1995, là một trong hai khu vườn của bà tại Huế (cùng với khu vườn trên đồi Kim Sơn). Kiến trúc gỗ được chạm khắc theo phong cách nhà vườn Huế truyền thống, kết hợp chi tiết cửa sổ kiểu Gothic mang hơi hướng châu Âu do chính nghệ nhân thiết kế. Không gian trưng bày tranh, điêu khắc, đồ cổ và ẩm thực Huế, từng đón đầu bếp Anthony Bourdain ghé thăm và giới thiệu trong chương trình truyền hình "Anthony Bourdain: Parts Unknown" của CNN năm 2014. Đây từ lâu đã là điểm quen thuộc của giới nghệ sĩ cố đô và du khách quốc tế khi tới Huế.

Có gì để trải nghiệm

  • Nhà hàng ẩm thực miền Trung
  • Tham quan và chụp ảnh nghệ thuật
  • Hồ bơi, sân tennis
  • Giữ xe máy miễn phí

Từ khóa

  • nhà vườn Huế
  • nghệ thuật đương đại
  • đồi Thiên An
  • ẩm thực Huế

Bảo tàng

Không gian Lưu niệm Lê Bá Đảng /Lebadang Memory Space

Bảo tàng nghệ thuật đương đại tư nhân đầu tiên của Huế, khánh thành ngày 21/4/2019 tại thôn Kim Sơn (xã Thủy Bằng), trưng bày tranh, điêu khắc và không gian nghệ thuật của họa sĩ gốc Quảng Trị Lê Bá Đảng (1921–2015).

Thủy Xuân, Huế

Câu chuyện

Không gian Lưu niệm Lê Bá Đảng (Lebadang Memory Space) là bảo tàng nghệ thuật đương đại tư nhân đầu tiên tại Huế, khánh thành ngày 21/4/2019 tại thôn Kim Sơn, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10km, gần lăng Khải Định. Công trình hiện thực hóa tâm nguyện của họa sĩ Lê Bá Đảng (sinh 27/6/1921 tại làng Bích La Đông, Quảng Trị; mất 7/3/2015 tại Paris; nhập quốc tịch Pháp năm 1980) về những "không gian nghệ thuật đúng kích thước thật" để dạo bước, mơ mộng và chiêm nghiệm. Khuôn viên rộng khoảng 16.000m² gồm 6 khu vực: không gian trưng bày tôn vinh sự nghiệp Lê Bá Đảng, đường hầm nghệ thuật dài 50m dưới lòng đất, khu vườn, khu nghỉ chân, khu ẩm thực và cửa hàng lưu niệm, cùng nhiều tác phẩm điêu khắc thép không gỉ mang phong cách đặc trưng của ông.

Có gì để trải nghiệm

  • Vé tham quan bảo tàng
  • Không gian chụp ảnh nghệ thuật
  • Khu vực ẩm thực và lưu niệm

Từ khóa

  • bảo tàng nghệ thuật
  • Lê Bá Đảng
  • nghệ thuật đương đại
  • Thủy Bằng Huế

Nghệ thuật & Sáng tạo

New Space Arts Foundation

Không gian nghệ thuật phi lợi nhuận do bộ đôi nghệ sĩ Lê Brothers (Lê Đức Hải, Lê Ngọc Thanh) sáng lập, chuyển về ngôi làng cổ Lại Thế (Phú Vang, Huế) từ năm 2017, tổ chức lưu trú nghệ sĩ và khoảng 12 sự kiện nghệ thuật mỗi năm.

Mỹ Thượng, Huế

Câu chuyện

New Space Arts Foundation (NSAF) là không gian nghệ thuật phi lợi nhuận do hai nghệ sĩ song sinh Lê Đức Hải và Lê Ngọc Thanh sáng lập tại Huế. Sau 7 năm hoạt động ở trung tâm thành phố, ngày 25/9/2017 tổ chức khai trương xưởng mới tại số nhà 9, xóm 3, thôn Lại Thế, xã Phú Thượng, huyện Phú Vang một ngôi làng cổ ven sông Hương cách trung tâm Huế khoảng 3km. Không gian rộng khoảng 600m² tổ chức chương trình lưu trú nghệ sĩ thường niên, mở cho nghệ sĩ Việt Nam và quốc tế tới sáng tác, cùng khoảng 12 sự kiện nghệ thuật và văn hóa mỗi năm gồm triển lãm, hội thảo, trình diễn video art.

Có gì để trải nghiệm

  • Chương trình lưu trú nghệ sĩ thường niên
  • Tổ chức triển lãm và hội thảo nghệ thuật

Từ khóa

  • nghệ thuật đương đại
  • lưu trú nghệ sĩ
  • Lê Brothers
  • làng Lại Thế Huế

Làng nghề

Làng hoa giấy Thanh Tiên

Làng ven hạ lưu sông Hương giữ nghề làm hoa giấy thờ cúng hơn 300 năm, mỗi cành 8 bông mang ý nghĩa Tam cương, Ngũ thường.

Dương Nỗ, Huế

Câu chuyện

Làng Thanh Tiên nằm bên bờ nam hạ lưu sông Hương, gần ngã ba Sình, cách cầu Trường Tiền khoảng 8 km. Làng thuộc xã Phú Mậu cũ, nay nằm trong phường Dương Nỗ, thành phố Huế. Người làng chủ yếu làm ruộng, và hơn 300 năm nay vẫn giữ nghề làm hoa giấy để thờ cúng. Năm 2013, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế công nhận Thanh Tiên là làng nghề truyền thống; năm 2019 tỉnh công nhận làng nghề hoa giấy Thanh Tiên cùng làng tranh Sình là điểm du lịch.

Hoa giấy ở đây sinh ra từ tín ngưỡng dân gian. Theo tục xưa, hoa được đặt ở Trang Ông, Trang Bà, am cảnh, bàn thờ ông Táo và chỉ thay mỗi năm một lần vào dịp Tết; hoa cũ được hạ xuống và đốt đi. Một cành hoa truyền thống có 8 bông chính: 3 bông ở giữa tượng trưng Tam cương, trong đó luôn có một bông vàng hoặc đỏ làm to nhất, 5 bông hai bên tượng trưng Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín. Trên cành còn gắn nụ đỏ và lá lúa xanh, gợi nghề nông của làng.

Mọi công đoạn đều làm tay. Từ khoảng tháng 8 âm lịch, người làm nghề đốn tre sau vườn, chẻ nhỏ, vót tròn, nhuộm màu, phơi khô rồi uốn thành cành và cuống. Giấy màu được đục trên khuôn gỗ bằng đục sắt, tạo nếp bằng dây cước, dán nhụy rồi ghép lên cuống. Xưa người làng tự nhuộm giấy, màu vàng từ trái dành dành, màu tím từ hạt mồng tơi; nay phần lớn mua giấy màu bán sẵn. Hoa sen giấy từng thất truyền, được một họa sĩ người làng phục dựng và cải tiến, nay là sản phẩm khách mua nhiều.

Khi đến, bạn vào nhà các hộ làm nghề xem chẻ tre, đục cánh, kết cành, và ở nhiều cơ sở có thể tự tay làm một bông hoa. Làng đông việc nhất vào tháng Chạp; sau rằm tháng Chạp, người làng vác cây hoa đi bán khắp chợ quê và phố thị. Theo báo năm 2024, một cặp hoa truyền thống giá khoảng 10.000 đồng; giá có thể thay đổi, nên hỏi lại.

Cần biết trước: làng nhỏ, báo năm 2024 ghi còn khoảng 10 hộ giữ nghề, và nhiều người chỉ làm hoa lúc nông nhàn, nên ngày thường có thể ít người đang làm. Chưa có trang chính thức công bố giờ đón khách, giá trải nghiệm hay đầu mối đặt lịch; vài cơ sở được giới thiệu trong các bài báo cũ có thể đã thay đổi, nên hỏi lại trước khi đi.

Hoa giấy là đồ thờ của người Huế. Đừng cầm, rút hay chụp cận cây hoa đang cắm trên bàn thờ trong nhà dân, hỏi trước khi vào nhà và trước khi chụp người đang làm. Mua trực tiếp từ hộ làm hoa để tiền đến tay người làm nghề.

Điểm này hợp với người quan tâm nghề thủ công, tín ngưỡng dân gian Huế, gia đình có trẻ muốn làm thử một bông hoa. Làng tranh Sình ở cùng phường, đi chung được trong một buổi. Nếu không có thời gian về làng, bạn có thể xem hoa giấy Thanh Tiên được giới thiệu tại các kỳ Festival nghề truyền thống Huế, dù sẽ không thấy không gian làng.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem các công đoạn làm hoa giấy tại hộ làm nghề
  • Tự tay làm một bông hoa giấy
  • Mua hoa giấy, sen giấy tại nơi làm
  • Tìm hiểu ý nghĩa cành hoa thờ của người Huế

Từ khóa

  • hoa giấy
  • sen giấy
  • làng nghề truyền thống
  • tín ngưỡng dân gian
  • Dương Nỗ
  • Huế

Làng nghề

Làng nghề dệt Zèng A Lưới

Nghề dệt Zèng của người Tà Ôi ở vùng A Lưới, đưa hạt cườm thẳng vào sợi khi dệt, được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Huế

Câu chuyện

Zèng (còn viết Dèng, Dzèng) là tên người Tà Ôi gọi tấm vải dệt tay của mình. Ở vùng A Lưới, cách trung tâm Huế khoảng 70 km theo quốc lộ 49, nghề dệt Zèng có ở nhiều thôn của người Tà Ôi, và người Pa Cô, Cơ Tu, Vân Kiều cũng dệt. Sau sắp xếp địa giới năm 2025, những nơi dệt được báo chí nêu nay thuộc các xã A Lưới 2, A Lưới 3 và A Lưới 4.

Điểm riêng của Zèng là hạt cườm được đưa thẳng vào sợi trong lúc dệt để tạo hoa văn, thay vì chỉ dệt hoa văn bằng sợi màu như thổ cẩm nhiều nơi khác. Nền vải thường đen hoặc xanh đen, điểm các màu đỏ, trắng, vàng, xanh lá; sợi nhuộm bằng lá, vỏ, củ, rễ cây rừng. Hoa văn chia ba chủ đề: động vật, thực vật thiên nhiên và đồ vật. Khung dệt ghép từ tre, gỗ rời, gọn nhẹ, nên người dệt có thể mang theo và dệt lúc rảnh.

Ngày 21/11/2016, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa nghề dệt Zèng của người Tà Ôi ở A Lưới vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 4036/QĐ-BVHTTDL; lễ đón bằng tổ chức ở A Lưới ngày 16/1/2017. Đây là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia thứ hai của Thừa Thiên Huế khi đó, sau ca Huế.

Muốn xem dệt và mua vải, bạn tìm đến các hợp tác xã dệt Zèng. Cơ sở lớn nhất vùng, theo báo Dân Việt năm 2025, là một hợp tác xã ở xã A Lưới 2, khu trung tâm thị trấn A Lưới cũ, có hơn 100 lao động; theo báo năm 2024 và 2025, một tấm vải có giá khoảng 300.000 đến 600.000 đồng, loại nhiều cườm đắt hơn, nên hỏi lại khi mua. Ở xã A Lưới 3, Làng văn hóa các dân tộc thiểu số A Lưới trưng bày tấm dệt Dèng trong nhà Gươl, và xã đã có nghị quyết mở lớp truyền dạy nghề, xây khu làng nghề.

Cần biết trước: chưa có cổng thông tin chính thức nào công bố giờ đón khách, giá trải nghiệm hay đầu mối đặt lịch cho các điểm dệt. Nhiều chị em chỉ dệt lúc nông nhàn sau giờ làm rẫy, nên đến không hẹn trước có thể không gặp người đang dệt. Quốc lộ 49 lên A Lưới là đường đèo, đi mất 2 đến 2,5 giờ, và từng sạt lở nhiều điểm sau mưa lũ cuối năm 2025.

Với người Tà Ôi, Zèng là của hồi môn cô gái mang về nhà chồng và là lễ vật trong lễ mừng lúa mới, lễ cưới. Tấm Zèng dâng cúng trong nhà được để riêng, không mặc, không đem cho. Vì vậy đừng hỏi mua hay chụp cận tấm vải đặt ở nơi thờ, hỏi trước khi chụp người đang dệt, và mua trực tiếp từ hợp tác xã hoặc người dệt.

Điểm này hợp với người quan tâm nghề thủ công, dệt thổ cẩm và sẵn sàng đi một chuyến trong ngày hoặc ở lại A Lưới. Nếu thời gian ở Huế ngắn, Festival nghề truyền thống Huế, nơi dệt Zèng A Lưới thường được giới thiệu, là cách xem Zèng mà không phải lên núi, dù bạn sẽ không thấy không gian làng.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem dệt Zèng tại hợp tác xã
  • Mua vải và sản phẩm may từ Zèng
  • Xem tấm dệt ở Làng văn hóa các dân tộc thiểu số A Lưới
  • Tìm hiểu kỹ thuật dệt cườm và hoa văn Tà Ôi

Từ khóa

  • dệt Zèng
  • Tà Ôi
  • thổ cẩm
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • A Lưới
  • Huế

Dữ liệu từ hệ thống Localis. Các địa điểm đang được biên tập dần thành bài viết và hồ sơ điểm đến.

Đọc thêm về Huế

  • Nhà bia trong khu lăng vua Gia Long ở Huế

    Hồ sơ điểm đến

    Huế

    Cố đô bên sông Hương, nơi dấu ấn cung đình, ẩm thực tinh tế và nhịp sống chậm rãi vẫn hiện hữu giữa đời sống.

Tỉnh thành khác ở Miền Trung