Bỏ qua, đến nội dung chính
Localis

Miền Trung · Tỉnh

Quảng Ngãi

Từ đảo Lý Sơn, biển Sa Huỳnh đến núi rừng Kon Tum với nhà rông Ba Na, Xơ Đăng.

46địa điểm đã kiểm chứng
13không gian di sản
12thiên nhiên & mùa

Có gì ở Quảng Ngãi

  • Không gian di sản13
  • Thiên nhiên & Mùa12
  • Làng cộng đồng5
  • Bảo tàng3
  • Chợ địa phương3
Xem 46 địa điểm trên sơ đồ

15,15°B · 108,89°Đ

vị trí trên bản đồ Việt Nam

Khám phá Quảng Ngãi

  • Khu chứng tích Sơn Mỹ

    Di tích quốc gia ghi dấu vụ thảm sát 504 thường dân ngày 16/3/1968, là nơi để tưởng niệm.

    Không gian di sản · Tịnh Khê

  • Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi

    Bảo tàng tỉnh ở 99 Lê Trung Đình, trưng bày văn hóa Sa Huỳnh, điêu khắc Chăm, các dân tộc Hrê, Ca Dong, Cor và lịch sử cách mạng.

    Bảo tàng · Cẩm Thành

  • Núi Thiên Ấn

    Ngọn núi cao 106 m bên bờ bắc sông Trà Khúc, có chùa Thiên Ấn dựng năm 1695 và mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng.

    Không gian di sản · Trương Quang Trọng

  • Biển Sa Huỳnh

    Bờ biển cát vàng cực nam Quảng Ngãi bên Quốc lộ 1A, đi cùng đồng muối và di tích văn hóa Sa Huỳnh.

    Thiên nhiên & Mùa · Sa Huỳnh

  • Thành cổ Châu Sa

    Tòa thành đất của người Chăm bên bờ bắc sông Trà Khúc, dấu vết lũy và hào nay nằm giữa ruộng vườn, nhà dân.

    Không gian di sản · Tịnh Khê

  • Cổ Lũy

    Làng ven cửa Đại, nơi sông Trà Khúc đổ ra biển, được biết đến với cảnh "Cổ Lũy cô thôn", một trong những thắng cảnh xưa của Quảng Ngãi.

    Không gian di sản · An Phú

  • Bảo tàng Kon Tum

    Nay là cơ sở 2 của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, đầu cầu sông Đăk Bla; nổi bật sưu tập khảo cổ Lung Leng.

    Bảo tàng · Kon Tum

  • Chợ Quảng Ngãi

    Chợ hạng 1 ở trung tâm Quảng Ngãi, gồm khu chợ chính và khu hàng tươi sống.

    Chợ địa phương · Cẩm Thành

  • Làng Teng

    Làng của người Hrê bên Quốc lộ 24, nơi giữ nghề dệt thổ cẩm Hrê, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ 2019.

    Làng nghề · Ba Động

  • Làng Kon K'Tu

    Làng Ba Na hơn 300 năm bên sông Đăk Bla, làng du lịch cộng đồng từ 2020, có nhà rông, nhà sàn và nhà thờ gỗ.

    Làng cộng đồng · Đăk Rơ Wa

  • Làng Kon Jơ Dri

    Làng Ba Na bên cầu treo Kon Klor, có nhà rông cao 16 m dựng năm 1997; điểm du lịch cộng đồng từ 2023.

    Làng cộng đồng · Đăk Rơ Wa

  • Làng Kon Trang Long Loi

    Làng du lịch cộng đồng của người Ba Na nhánh Rơ Ngao bên lòng hồ thủy điện Plei Krông, ra mắt năm 2021.

    Làng cộng đồng · Đăk Hà

  • Lễ hội đâm trâu Quảng Ngãi

    Lễ ăn trâu tạ ơn thần linh của người Cor, Hrê, Ca Dong ở miền núi Quảng Ngãi, có cây nêu và tiếng chiêng; nay chỉ còn một số gia đình tổ chức, không có lịch cố định.

    Lễ hội · Quảng Ngãi · Khoảng 11 ngày

  • Bệnh xá Đặng Thùy Trâm

    Công trình y tế tưởng niệm xây năm 2006 bên quốc lộ 1 ở thôn Nga Mân, có tượng đài và nhà trưng bày về liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

    Không gian di sản · Khánh Cường

  • Lễ hội đua thuyền Tứ Linh

    Hội đua thuyền trên biển của hai làng An Vĩnh, An Hải, mở từ mùng 4 đến mùng 7 Tết, thuyền mang tên Long, Lân, Quy, Phụng, di sản phi vật thể quốc gia.

    Lễ hội · Lý Sơn

  • Đình An Hải

    Ngôi đình làng dựng lại năm Minh Mạng nguyên niên 1820 dưới chân núi Thới Lới, quay mặt ra biển, nơi làng An Hải tế tiền hiền và mở hội đầu năm.

    Không gian di sản · Lý Sơn

  • Đồng muối Sa Huỳnh

    Cánh đồng muối hơn 100 ha ở phường Sa Huỳnh, nơi diêm dân vẫn phơi nước biển trên nền đất; nghề làm muối là di sản phi vật thể quốc gia từ 12/2024.

    Thiên nhiên & Mùa · Sa Huỳnh

  • Hồ Nước Trong

    Hồ thủy lợi dung tích 289 triệu m³ giữa núi Sơn Hà, vận hành từ năm 2016, nơi khách đi thuyền quanh hồ và ăn cá hồ cùng món của người Hrê.

    Thiên nhiên & Mùa · Sơn Hà

  • Mạch nha Mộ Đức

    Đường dẻo màu hổ phách nấu từ mộng lúa và xôi nếp, thức quà của vùng Mộ Đức gắn với câu "Kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ".

    Quà lưu niệm · Mộ Đức

  • Thác Cao Muôn

    Thác nước dưới núi Cao Muôn ở xã Ba Vinh, nơi Đội du kích Ba Tơ lập căn cứ năm 1945, được người Hrê coi là thác mẹ đưa nước về ruộng làng.

    Thiên nhiên & Mùa · Ba Vinh

  • Quế Trà Bồng

    Vỏ quế, bột quế và tinh dầu quế của vùng núi Trà Bồng, cây trồng lâu đời của người Cor, được bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Trà Bồng" từ tháng 11/2020.

    Quà lưu niệm

  • Làng gốm Mỹ Thiện

    Làng gốm hơn 200 năm bên sông Trà Bồng, nay còn một lò nung; nghề gốm Mỹ Thiện là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.

    Làng nghề · Bình Sơn

  • Hang Câu

    Vách đá trầm tích núi lửa bị biển khoét lõm dưới chân núi Thới Lới ở Lý Sơn, bên bãi cát lẫn vụn san hô và thềm đá phủ rêu đầu năm.

    Thiên nhiên & Mùa · Lý Sơn

  • Đình làng An Vĩnh

    Ngôi đình dựng từ cuối thế kỷ 18 sát cảng Lý Sơn, phục dựng năm 2009, nơi binh phu Hoàng Sa làm lễ cáo thần trước khi ra khơi; di tích quốc gia từ năm 2013.

    Không gian di sản · Lý Sơn

  • Cổng Tò Vò

    Vòm đá bazan dài khoảng 9 m ở bờ tây đảo Lớn Lý Sơn, do dung nham núi lửa và sóng biển tạo thành, là di tích quốc gia từ tháng 9/2025.

    Thiên nhiên & Mùa · Lý Sơn

  • Di tích văn hóa Sa Huỳnh

    Sáu điểm di tích quốc gia đặc biệt quanh đầm An Khê, nơi phát hiện mộ chum năm 1909 làm nên tên gọi Văn hóa Sa Huỳnh, có nhà trưng bày 700 hiện vật.

    Không gian di sản · Sa Huỳnh

  • Gành Yến

    Gành đá núi lửa xếp lớp bên làng chài Thanh Thủy, xã Vạn Tường, nơi rạn san hô ven bờ lộ khỏi mặt nước khi thủy triều rút sâu.

    Thiên nhiên & Mùa · Vạn Tường

  • Hồ núi lửa Thới Lới

    Hồ chứa nước ngọt duy nhất của đảo Lý Sơn, dung tích hơn 271.000 m3, nằm trong lòng miệng núi lửa Thới Lới và đưa vào sử dụng từ năm 2012.

    Thiên nhiên & Mùa · Lý Sơn

  • Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định

    Di tích quốc gia dưới chân núi Đầu Voi, xã Tịnh Khê, nơi thờ và trưng bày tư liệu về Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định tại quê nội của ông.

    Không gian di sản · Tịnh Khê

  • Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ

    Bảo tàng ở xã Ba Tơ lưu giữ hơn 260 hiện vật, hình ảnh, tư liệu và sa bàn về cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11/3/1945 và Đội du kích Ba Tơ.

    Bảo tàng · Ba Tơ

  • Đảo Bé

    Đảo nhỏ 0,69 km2 cách đảo Lớn Lý Sơn khoảng 3 hải lý, có bãi Sau cát trắng, đá trầm tích núi lửa đen và rạn san hô gần bờ.

    Thiên nhiên & Mùa · Lý Sơn, Quảng Ngãi · Nửa ngày đến 1 ngày

  • Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa Bắc Hải

    Nhà trưng bày ở trung tâm đảo Lý Sơn, giữ hơn 100 hiện vật, bản đồ, tư liệu về đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, phía trước là cụm tượng đài đá cao 4,5 m.

    Không gian di sản · Lý Sơn

  • Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

    Di tích quốc gia rộng hơn 47.000 m² tại quê nhà xã Mộ Đức, lưu giữ hơn 1.500 tài liệu, hiện vật, hình ảnh về cuộc đời Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

    Không gian di sản · Mộ Đức

  • Mũi Ba Làng An

    Mũi đá bazan ở xã Đông Sơn, có ngọn hải đăng cao hơn 36 m và dấu tích miệng núi lửa cổ rộng khoảng 30 m² nằm sát mép biển.

    Thiên nhiên & Mùa · Đông Sơn

  • Hội Dồi Bòng

    Hội vui đầu xuân của làng An Hải trên đảo Lý Sơn, gắn với đình làng và câu ca "Mùng bốn có hội đua ghe, cho đến mùng bảy bắt phe dồi bòng".

    Lễ hội · Lý Sơn

  • Núi Cà Đam

    Dãy núi cao hơn 1.400 m quanh năm mây phủ ở xã Cà Đam, sách xưa gọi núi Vân Phong, được người Cor coi là núi chúa sinh ra các ngọn núi khác.

    Thiên nhiên & Mùa · Cà Đam

  • Chùa Đục (Đỉnh Liêm Tự)

    Ngôi chùa khởi công năm 2008 trên sườn núi lửa Giếng Tiền, đảo Lý Sơn, có ba am thờ trong hang đá, 139 bậc đá và tượng Quan Thế Âm cao gần 30 m nhìn ra biển.

    Không gian di sản · Lý Sơn

  • Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa

    Nghi lễ tháng 2, tháng 3 âm lịch của các tộc họ Lý Sơn: cúng thế mạng và tưởng niệm lính Đội Hoàng Sa, thả thuyền hình nhân ra biển, di sản phi vật thể quốc gia.

    Phong tục & Nghi thức · Lý Sơn

  • Chợ hải sản Sa Huỳnh

    Bến cá ở cảng cá Sa Huỳnh, nơi đội tàu hơn 1.200 chiếc của phường Sa Huỳnh cập bờ bán hải sản cho thương lái và các cơ sở phơi, chế biến.

    Chợ địa phương · Sa Huỳnh

  • Chợ cá Sa Kỳ

    Bến cá ở cửa Sa Kỳ, xã Đông Sơn, nơi tàu đánh bắt từ Hoàng Sa, Trường Sa cập bến bán cá cho thương lái, cạnh cảng tàu đi Lý Sơn.

    Chợ địa phương · Đông Sơn

  • Chùa Hang (Thiên Khổng Thạch Tự)

    Ngôi chùa nằm trọn trong hang đá rộng 480 m2 dưới chân núi lửa Thới Lới, đảo Lý Sơn, nhiều thế kỷ không có sư trụ trì, do người dân đảo thay nhau chăm nom.

    Không gian di sản · Lý Sơn

  • Biển Mỹ Khê

    Bãi biển trên doi cát dài khoảng 7 km ở xã Tịnh Khê, phía sau là hàng phi lao và sông Kinh, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 12 km.

    Thiên nhiên & Mùa · Tịnh Khê

  • Làng hoa Nghĩa Hà

    Vùng trồng hoa lay ơn bên bờ nam sông Trà Khúc, xuống giống tháng 10 âm lịch, cắt hoa bán Tết vào tháng Chạp, có cánh đồng hoa đón khách.

    Làng nghề · An Phú

  • Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ

    Làng chài hơn 80 hộ trên đồi đá ven biển Sa Huỳnh, còn giếng đá và đường đá cổ, đạt OCOP 3 sao về du lịch cộng đồng từ tháng 12/2020.

    Làng cộng đồng · Sa Huỳnh

  • Làng Ba Na Kon Tum

    Các làng Ba Na hai bên sông Đăk Bla quanh trung tâm Kon Tum cũ, với nhà rông và nhà sàn giữa làng.

    Làng cộng đồng

  • Đặc sản Cá bống Sông Trà

    Cá bống nhỏ cỡ đầu ngón tay bắt trên sông Trà Khúc, kho tiêu với nước mắm và đường thắng cho khô ráo, đóng hũ làm quà mang về từ Quảng Ngãi.

    Quà lưu niệm

Không gian di sản

Khu chứng tích Sơn Mỹ

Di tích quốc gia ghi dấu vụ thảm sát 504 thường dân ngày 16/3/1968, là nơi để tưởng niệm.

Tịnh Khê, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Khu chứng tích Sơn Mỹ nằm ở xã Tịnh Khê, cách trung tâm Quảng Ngãi 12-13 km về phía đông bắc, cạnh Quốc lộ 24B. Khu được dựng ngay trên nơi xảy ra vụ thảm sát sáng 16/3/1968 (17 tháng Giêng năm Mậu Thân), khi lính Mỹ sát hại 504 thường dân xã Sơn Mỹ, trong đó có 182 phụ nữ, 173 trẻ em và 60 người già. 24 gia đình bị giết cả nhà, 247 ngôi nhà bị đốt. Thế giới biết đến sự kiện này với tên Mỹ Lai, tên một thôn của xã Sơn Mỹ.

Khu chứng tích xây dựng trong các năm 1976-1978 và được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích quốc gia ngày 29/4/1979. Một số trang ghi khu này là di tích "đặc biệt quan trọng" từ năm 2002, nhưng Sơn Mỹ không nằm trong danh sách di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng xếp hạng.

Khuôn viên rộng khoảng 2,4 ha, giữ lại các di tích gốc như nền nhà, con mương, gốc cây gắn với buổi sáng hôm ấy, cùng tượng đài và nhà trưng bày xây sau. Nhà trưng bày lưu giữ gần 670 hình ảnh, hiện vật, tư liệu, 274 hiện vật đang trưng bày. Ban quản lý chọn cách kể theo câu chuyện của từng nạn nhân, qua những đồ vật rất đời thường: chiếc áo, chiếc dép của một bé gái 4 tuổi, chiếc kẹp tóc, ống xoáy trầu. Bên ngoài khuôn viên có những tấm bia dựng tại các điểm đã xảy ra bắn giết. Nên nghe thuyết minh viên của ban quản lý, có thuyết minh tiếng Anh cho khách quốc tế.

Mỗi năm khu chứng tích đón khoảng 50.000 lượt khách, trong đó khoảng 7.000 khách nước ngoài. Dự án tôn tạo hơn 26 tỷ đồng gồm 12 gói thầu làm từ quý II/2025 đến quý IV/2026, nên một số khu vực có thể đang thi công. Nội dung ảnh và hiện vật nói trực tiếp về cái chết của thường dân, trong đó có trẻ em, cần cân nhắc khi đi cùng trẻ nhỏ.

Giờ mở cửa và giá vé hiện hành chưa có công bố chính thức; báo chí năm 2023 ghi mở từ 7h đến 17h mỗi ngày, vé 20.000 đồng, nên gọi Ban Quản lý Khu chứng tích Sơn Mỹ theo số 0255 3843 222 để hỏi lại.

Đây là nơi tưởng niệm 504 người đã mất. Ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không cười đùa, không tạo dáng vui vẻ để chụp ảnh ở nền nhà, con mương hay tượng đài, không ngồi hay trèo lên các di tích gốc. Nếu muốn thắp hương, hãy hỏi nhân viên nơi và cách thực hiện. Dịp tưởng niệm ngày 16/3 hằng năm có nhiều đoàn đến viếng, nên nhường không gian cho nghi thức.

Sơn Mỹ dành cho người muốn hiểu chiến tranh qua số phận thường dân: học sinh, sinh viên, cựu chiến binh, khách quốc tế, người nghiên cứu. Không nên xem đây là điểm dừng chân nhanh giữa các khu vui chơi. Nếu cần một không gian ít nặng nề hơn để tìm hiểu lịch sử kháng chiến của tỉnh, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi ở trung tâm có phần trưng bày riêng về lịch sử đấu tranh.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan nhà trưng bày
  • Nghe thuyết minh
  • Viếng khu tưởng niệm

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • chứng tích chiến tranh
  • Mỹ Lai
  • 1968
  • tưởng niệm
  • Quảng Ngãi

Bảo tàng

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi

Bảo tàng tỉnh ở 99 Lê Trung Đình, trưng bày văn hóa Sa Huỳnh, điêu khắc Chăm, các dân tộc Hrê, Ca Dong, Cor và lịch sử cách mạng.

Cẩm Thành, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi nằm ở số 99 Lê Trung Đình, phường Cẩm Thành, ngay khu trung tâm và cùng tuyến đường Lê Trung Đình với Chợ Quảng Ngãi. Đây là chỗ nên ghé trước tiên nếu bạn muốn hiểu vùng đất này qua nhiều lớp: văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, đời sống các dân tộc và lịch sử kháng chiến.

Bảo tàng thành lập năm 1989, khi tách ra từ Bảo tàng tỉnh Nghĩa Bình (gồm Bình Định và Quảng Ngãi ngày nay). Nhà trưng bày ở đường Lê Trung Đình khởi công năm 2000, xây xong năm 2003 nhưng đến ngày 3/2/2007 mới chính thức mở cửa đón khách, khuôn viên hơn 30.000 m². Từ khi Quảng Ngãi hợp nhất với Kon Tum năm 2025, đây là cơ sở 1; cơ sở 2 là Bảo tàng Kon Tum cũ ở 659 Nguyễn Huệ, phường Kon Tum.

Trong nhà trưng bày là văn hóa Sa Huỳnh, nền văn hóa được phát hiện đầu tiên ở Quảng Ngãi, cùng văn hóa các dân tộc Kinh, Hrê, Ca Dong, Cor và lịch sử đấu tranh của quân dân trong tỉnh. Ngoài sân là hiện vật kiến trúc, điêu khắc Chăm Pa có niên đại từ thế kỷ 2 đến thế kỷ 14, đặt gần những khẩu súng thần công thời Nguyễn đủ cỡ. Bạn có thể xem khu ngoài trời trước rồi vào nhà trưng bày; đi theo đoàn thì nên gọi trước để hỏi về thuyết minh.

Mặt hạn chế cần biết trước: công trình xuống cấp đã lâu. Theo TTXVN tháng 8/2025, mái tôn bị tốc, mưa là dột, tường trong bong tróc và ẩm mốc, nhân viên phải đặt đồ hứng nước và biển cảnh báo; khu trưng bày tầng 2 phải tạm dừng đón khách. HĐND tỉnh đã đưa dự án xây mới Bảo tàng và Thư viện tổng hợp tỉnh vào kế hoạch đầu tư công 2026-2030. Chưa thấy thông báo tầng 2 mở lại, nên gọi 0255 3823 849 trước khi đến, nhất là ngày mưa.

Từ ngày 18/8/2026, bảo tàng thu phí theo Nghị quyết 52/2026/NQ-HĐND: người lớn 20.000 đồng một lượt, trẻ em 10.000 đồng. Học sinh phổ thông, người khuyết tật, người có công, người thuộc hộ nghèo và cận nghèo được miễn; người cao tuổi, sinh viên được giảm 50%, và ngày 24/11 hằng năm mọi khách được giảm 50%. Người thuộc diện miễn, giảm cần mang giấy tờ chứng minh. Giờ mở cửa chưa có công bố chính thức.

Hiện vật Chăm và súng thần công đặt ngoài sân: đừng ngồi, trèo hay tì lên tượng đá, bệ đá để chụp ảnh. Trong khu trưng bày về các dân tộc, nên gọi đúng tên dân tộc Hrê, Ca Dong, Cor thay vì gộp chung là "người thiểu số".

Bảo tàng hợp với người lần đầu đến Quảng Ngãi cần một bức tranh chung trước khi đi Khu chứng tích Sơn Mỹ, thành cổ Châu Sa hay vùng núi phía tây, và với học sinh, sinh viên. Ai chỉ quan tâm văn hóa Sa Huỳnh có thể đến thẳng Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh ở vùng Đức Phổ, di tích quốc gia đặc biệt nằm ngay tại nơi phát hiện nền văn hóa này.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan trưng bày trong nhà và ngoài trời
  • Thuyết minh theo đoàn (liên hệ trước)

Từ khóa

  • bảo tàng
  • văn hóa Sa Huỳnh
  • điêu khắc Chăm
  • Hrê Ca Dong Cor
  • lịch sử
  • Quảng Ngãi

Không gian di sản

Núi Thiên Ấn

Ngọn núi cao 106 m bên bờ bắc sông Trà Khúc, có chùa Thiên Ấn dựng năm 1695 và mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Trương Quang Trọng, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Núi Thiên Ấn nằm bên tả ngạn (bờ bắc) sông Trà Khúc, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 3,5 km về hướng đông bắc, nay thuộc phường Trương Quang Trọng. Núi cao 106 m, đỉnh bằng, dáng hình thang cân; nhìn từ bờ nam sông Trà, núi giống chiếc ấn của trời đóng xuống dòng sông, nên người xưa gọi cảnh này là "Thiên Ấn niêm hà". Với người Quảng Ngãi, núi Ấn và sông Trà là cặp biểu tượng của quê hương; năm 1850 triều Nguyễn xếp Thiên Ấn vào hàng danh sơn.

Trên đỉnh là chùa Thiên Ấn, khởi công năm 1694 và xong cuối năm 1695. Tổ khai sơn là thiền sư Pháp Hóa (1670-1754), gốc Phúc Kiến, thuộc dòng thiền Lâm Tế; ban đầu chùa chỉ là một thảo am. Năm 1717, chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển "Sắc tứ Thiên Ấn tự". Chùa đã qua các lần trùng tu năm 1717, 1827, 1910, 1918, 1959, và giữ một đại hồng chung đúc năm 1845. Tăng ni, Phật tử trong tỉnh tôn chùa là tổ đình; dân gian lưu truyền các giai thoại về giếng Phật và chuông Thần. Phía đông chùa là vườn tháp mộ của tổ khai sơn và các vị trụ trì, tháp xây 5, 7 hoặc 9 tầng.

Phía tây nam chùa là mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), nhà báo sáng lập báo Tiếng Dân, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và là người giữ quyền Chủ tịch nước khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946. Cụ mất tại Quảng Ngãi ngày 21/4/1947 và được an táng trên núi theo tâm nguyện. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia "Thắng cảnh núi Thiên Ấn và Mộ Huỳnh Thúc Kháng" theo Quyết định 168-VH/QĐ ngày 02/3/1990.

Theo Báo Giác Ngộ, đường lên đỉnh men sườn núi từ phía nam, xoắn theo chiều kim đồng hồ, ô tô và xe máy lên được; người đi bộ có lối tắt bằng bậc đá. Trình tự hợp lý là viếng chùa, xem chuông và vườn tháp, rồi sang mộ cụ Huỳnh, cuối cùng ra mép đỉnh nhìn xuống sông Trà, đồng ruộng và làng mạc.

Vào các dịp lễ lớn, khách thập phương lên núi có thể tới hàng vạn người, đường lên và sân chùa khi đó rất đông. Giờ mở cửa và phí tham quan chưa có công bố chính thức; chưa có thông tin chính thức về dịch vụ ăn uống trên đỉnh, nên mang theo nước.

Chùa là tổ đình đang hoạt động: ăn mặc kín đáo, nói khẽ trong chánh điện, hỏi trước khi chụp ảnh bên trong. Vườn tháp là nơi an táng các thiền sư, không leo lên tháp hay ngồi lên bệ. Mộ cụ Huỳnh là nơi các đoàn đến dâng hương tưởng niệm, nên giữ thái độ trang nghiêm.

Thiên Ấn hợp với người muốn gộp một ngôi chùa cổ, một phần lịch sử cận đại và cảnh sông Trà trong một buổi. Nếu bạn thích cảnh cửa sông và dấu tích Chăm, ít người hơn nhưng cũng ít dịch vụ và đang xuống cấp, cửa Đại Cổ Lũy với núi Phú Thọ ở cuối sông Trà là lựa chọn khác.

Có gì để trải nghiệm

  • Viếng chùa Thiên Ấn
  • Thăm mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng
  • Ngắm toàn cảnh sông Trà

Từ khóa

  • danh thắng
  • chùa cổ
  • di tích quốc gia
  • sông Trà Khúc
  • Huỳnh Thúc Kháng
  • Quảng Ngãi

Thiên nhiên & Mùa

Biển Sa Huỳnh

Bờ biển cát vàng cực nam Quảng Ngãi bên Quốc lộ 1A, đi cùng đồng muối và di tích văn hóa Sa Huỳnh.

Sa Huỳnh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Sa Huỳnh là vùng biển ở cực nam Quảng Ngãi, cách trung tâm tỉnh khoảng 60 km, Quốc lộ 1A chạy dọc theo đồng muối và làng biển. Tên Hán Việt Sa Huỳnh nghĩa là "cát vàng". Nơi đây có ba thứ đi liền nhau: bãi biển, đồng muối và những cồn cát nơi khảo cổ học tìm ra nền văn hóa Sa Huỳnh.

Năm 1909, nhà khảo cổ người Pháp M. Vinet phát hiện khoảng 200 mộ chum trên cồn cát Thạnh Đức. Năm 1934, M. Colani công bố kết quả khai quật, và từ năm 1936 giới khảo cổ dùng thuật ngữ "văn hóa Sa Huỳnh". Các chum gốm hình trứng, hình trụ cao gần 1 m, bên trong có đồ tùy táng bằng sắt, hạt chuỗi mã não, thủy tinh, khuyên tai, niên đại khoảng 2.500 đến 3.000 năm. Ngày 29/12/2022, Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định 1649/QĐ-TTg.

Đồng muối Sa Huỳnh rộng khoảng 106 ha, nuôi sống hơn 560 hộ diêm dân. Nghề làm muối ở đây có từ thế kỷ 19 và được công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tháng 12/2024. Mùa muối thường kéo dài từ tháng Giêng đến tháng 7 âm lịch; diêm dân vẫn phơi nước biển bằng nắng và gió trên nền ruộng muối.

Một buổi hợp lý là ghé Nhà trưng bày Văn hóa Sa Huỳnh ở tổ dân phố Long Thạnh 2, cạnh đầm An Khê, xem khoảng 700 hiện vật, hình ảnh, tư liệu trước, rồi ra đồng muối xem diêm dân làm việc, sau đó mới xuống biển. Làng Gò Cỏ gần đó có hợp tác xã du lịch cộng đồng, homestay, và bãi đá ven biển nơi vài hộ còn làm muối trên hốc đá; khảo cổ học tìm thấy ở đây dấu tích trảng muối cổ khoảng 2.000 năm tuổi.

Bạn nên biết trước: dấu tích mộ chum nằm dưới cồn cát, ngoài thực địa không có gì nhiều để nhìn, hiện vật phần lớn ở nhà trưng bày và bảo tàng. Giờ mở cửa, giá vé nhà trưng bày chưa có công bố chính thức, nên hỏi lại trước khi đi. Ruộng muối là nơi làm việc, không phải lối đi dạo.

Về an toàn: chiều 12/7/2026, ba người dân bị sóng lớn cuốn khi tắm ở khu bờ kè Thạch By 2, phường Sa Huỳnh; hai người tử vong, một bé trai mất tích. Cơ quan chức năng khuyến cáo chỉ tắm ở bãi có cứu hộ, tuân thủ biển cảnh báo, tránh nơi sóng lớn, dòng chảy xa bờ. Theo VnExpress, khoảng tháng 4 đến tháng 8 là mùa khô ráo, ít mưa bão ở Quảng Ngãi.

Xin phép trước khi chụp ảnh diêm dân, ngư dân, và đừng bước lên ô muối đang kết tinh. Ở Gò Cỏ, giếng đá, miếu, tường đá cổ là của làng, đi nhẹ và hỏi người dẫn.

Sa Huỳnh hợp với người muốn ghép biển với khảo cổ và đời sống nghề muối, đi chậm một hai ngày. Nếu bạn chỉ cần một bãi tắm gần thành phố, biển Mỹ Khê cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 15 km, có xe buýt, tiện hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm biển
  • Dạo đồng muối
  • Ăn hải sản
  • Tham quan Nhà trưng bày Văn hóa Sa Huỳnh

Từ khóa

  • biển
  • văn hóa Sa Huỳnh
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • đồng muối
  • làng chài
  • Quảng Ngãi

Không gian di sản

Thành cổ Châu Sa

Tòa thành đất của người Chăm bên bờ bắc sông Trà Khúc, dấu vết lũy và hào nay nằm giữa ruộng vườn, nhà dân.

Tịnh Khê, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Qua cầu Trà Khúc sang bờ bắc, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 6 km, là vùng đất của thành cổ Châu Sa: một tòa thành đắp bằng đất của người Chăm, nay nằm trên địa bàn xã Tịnh Khê và phường Trương Quang Trọng. Đây không phải đền tháp gạch như bạn thường thấy ở miền Trung, mà là bờ lũy đất và hào nước, phần lớn đã lẫn vào ruộng vườn và nhà dân.

Năm 1924, nhà khảo cổ người Pháp H. Parmentier tìm thấy trong thành một tấm bia năm 903 nhắc đến vua Indravarman II, cho thấy thành đã tồn tại từ cuối thế kỷ 9. Sau cuộc hành quân năm 1471, vua Lê Thánh Tông lập Thừa tuyên Quảng Nam và đặt lỵ sở ở Châu Sa. Thành được công nhận di tích quốc gia năm 1994.

Châu Sa có hai vòng thành, thành nội và thành ngoại. Thành nội gần vuông, các cạnh khoảng 540 đến 580 m, mở 5 cửa; bờ thành cao khoảng 4 đến 6 m, chân rộng 20 đến 25 m, quanh thành có hào nước rộng 20 đến 40 m. Hai đoạn thành chạy từ góc đông nam và tây nam về phía sông Trà Khúc được gọi là hai "Càng Cua". Hào thành từng nối với sông, thông ra biển qua cửa Đại.

Năm 2026, một gia đình trong xóm Thành đào hố trồng cây thì đụng phải một lò nung cổ. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh khai quật khẩn cấp từ tháng 6 đến tháng 7/2026 và phát lộ một quần thể lò nung gốm, ngói, được xác định sơ bộ vào khoảng thế kỷ 2 đến 3, tức sớm hơn thời điểm đắp thành. Niên đại này còn chờ phân tích.

Đến nơi, bạn sẽ đi theo đường làng, nhìn những dải đất cao phủ tre chính là bờ thành, còn những vệt trũng trồng lúa, rau là hào cũ. Nhìn trên bản đồ vệ tinh thì dễ thấy bố cục thành nội hơn khi đứng dưới đất; năm 2022, một người dân quanh thành kể với VnExpress rằng có khách đến tìm thành rồi bỏ về vì "không thấy gì". Nên xem bản đồ trước và hỏi người trong xóm chỉ đoạn thành còn rõ.

Tại chỗ không có quầy vé, nhà trưng bày, nhà vệ sinh hay hàng quán dành cho khách. Đường vào là đường làng, đi xe máy tiện hơn ô tô. Theo VnExpress, khoảng tháng 4 đến tháng 8 là mùa khô ráo ở Quảng Ngãi; mùa mưa lũ, đường ruộng lầy và hào ngập nước.

Hầu hết đất trong thành là đất ở và đất canh tác của người dân. Bạn đừng tự ý đào bới hay nhặt mảnh gạch, gốm; đừng đi vào hố khai quật hay dẫm lên ruộng, vườn; muốn đi qua vườn nhà ai thì xin phép trước.

Châu Sa hợp với người mê khảo cổ, lịch sử Chăm Pa và thời Lê, chịu đọc tài liệu trước và đi bộ quanh làng. Nếu bạn chỉ muốn nhìn một công trình rõ hình khối để chụp ảnh thì nơi này dễ gây hụt hẫng. Cùng xã Tịnh Khê có Khu chứng tích Sơn Mỹ, có thể ghép vào cùng một buổi.

Có gì để trải nghiệm

  • Khám phá dấu tích thành lũy

Từ khóa

  • thành cổ
  • Chăm Pa
  • khảo cổ
  • di tích quốc gia
  • sông Trà Khúc
  • Quảng Ngãi

Không gian di sản

Cổ Lũy

Làng ven cửa Đại, nơi sông Trà Khúc đổ ra biển, được biết đến với cảnh "Cổ Lũy cô thôn", một trong những thắng cảnh xưa của Quảng Ngãi.

An Phú, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Cổ Lũy là tên vùng cửa Đại, nơi sông Trà Khúc đổ ra biển ở cuối dòng, và cũng là tên các thôn hai bên cửa sông. Bờ nam là thôn Cổ Lũy cũ của xã Nghĩa Phú, đến năm 2020 đã tách thành Cổ Lũy Bắc, Cổ Lũy Nam và Cổ Lũy Làng Cá, nay thuộc xã An Phú; bờ bắc là thôn Cổ Lũy của xã Tịnh Khê. Cầu Cổ Lũy nối hai bờ ngay gần cửa sông.

Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép thôn Cổ Lũy phía đông bắc dựa bờ biển, phía tây nam giáp chỗ sông Vệ và sông Trà giao nhau, cách xa làng xóm, "trông như ở trong khói nước lờ mờ", là một trong mười cảnh Quảng Ngãi với tên "Cổ Lũy cô thôn". Dân làng khi ấy làm nghề dệt chiếu và đánh cá. Nguyễn Cư Trinh, từng làm Tuần phủ Quảng Ngãi thế kỷ 18, có bài thơ Nôm về cảnh này. Theo Báo Quảng Ngãi, thắng cảnh gắn với thôn Cổ Lũy ở bờ nam, cách chân núi Phú Thọ một dòng sông nhỏ.

Chữ "lũy" có lý do. Núi Phú Thọ (còn gọi núi Đá, núi Thạch Sơn) cao hơn 60 m, đầy khối đá granit, còn phế tích thành Bàn Cờ do người Chăm xây khoảng thế kỷ 9-10. Thành Bàn Cờ cùng thành Hòn Yàng và lũy Cổ Lũy tạo thành hệ thống phòng thủ bảo vệ thành Châu Sa ở bờ bắc sông Trà. Thời Tự Đức, triều Nguyễn đặt pháo đài trên đỉnh núi. Khu vực này được xếp hạng di tích quốc gia với tên "Núi đá Phú Thọ và Cổ Lũy Cô Thôn".

Đây không phải khu du lịch có tổ chức. Bạn có thể dừng trên cầu Cổ Lũy nhìn cửa sông, cồn cát và thuyền ra biển, rồi lên núi Phú Thọ tìm hang đá thiên tạo gọi là chùa Hang và dấu tích thành Bàn Cờ.

Hãy chuẩn bị tâm lý: Báo Văn hóa tháng 5/2023 phản ánh núi Phú Thọ đang bị biến thành nghĩa địa, cây dại mọc um tùm, bia và dấu tích xưa hư hỏng; tháp Chăm trên mặt thành Bàn Cờ đã bị phá, chỉ còn gạch vỡ. Tỉnh có kế hoạch tu bổ di tích này trong giai đoạn 2026-2030. Chưa có đơn vị nào công bố giờ mở cửa, lối tham quan hay thuyết minh tại chỗ.

Trên núi có rất nhiều mộ của người dân đang được gia đình chăm sóc, thăm viếng: đi nhẹ, không giẫm lên mộ, không chụp ảnh khi có đám tang. Hai bờ là làng chài đang sinh sống, nên xin phép trước khi chụp người và thuyền.

Cổ Lũy hợp với người thích tìm địa danh trong sử sách, dấu tích Chăm và cảnh cửa sông, chấp nhận ít dịch vụ. Nếu bạn muốn tận mắt thấy một công trình Chăm còn hình dáng rõ hơn, thành cổ Châu Sa ở bờ bắc sông Trà, trung tâm mà hệ thống phòng thủ Cổ Lũy từng bảo vệ, là lựa chọn nên ghé cùng hoặc thay thế.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm cửa sông, cồn cát
  • Ăn hải sản làng chài
  • Tham quan núi Phú Thọ

Từ khóa

  • cửa biển
  • làng chài
  • sông Trà Khúc
  • thắng cảnh
  • Quảng Ngãi

Bảo tàng

Bảo tàng Kon Tum

Nay là cơ sở 2 của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, đầu cầu sông Đăk Bla; nổi bật sưu tập khảo cổ Lung Leng.

Kon Tum, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Bảo tàng Kon Tum nằm ở số 659 Nguyễn Huệ, phường Kon Tum, gần đầu cầu sông Đăk Bla. Sau khi Kon Tum hợp nhất vào Quảng Ngãi, nơi này là cơ sở 2 của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi; cơ sở 1 ở 99 Lê Trung Đình, phường Cẩm Thành, nên khi tra bản đồ hãy chú ý đúng cơ sở.

Tòa nhà khởi công năm 2007 trong khuôn viên khoảng 16.000 m² và mở cửa ngày 24/8/2012. Lúc khai trương, bảo tàng có hơn 1.500 m² trưng bày với hơn 1.800 hiện vật, tư liệu và gần 400 ảnh; đến năm 2025, kho lưu giữ khoảng 23.500 hiện vật, tư liệu. Hai mảng chính là khảo cổ học và lịch sử kháng chiến, bên cạnh đồ dùng, nhạc cụ của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Phần nên dành nhiều thời gian nhất là sưu tập di chỉ Lung Leng, với 594 hiện vật có niên đại từ thời đá cũ, khoảng 20.000 - 30.000 năm trước, đến hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí, khoảng 3.000 - 4.000 năm trước. Di chỉ được người đào vàng phát hiện cuối thập niên 1990; năm 2001, hơn 40 cán bộ chuyên môn và hơn 600 nhân công khai quật gấp trước khi lòng hồ thủy điện Ia Ly ngập vùng này, thu được 14.552 công cụ như rìu, bôn, cuốc, dao. Bảo tàng có hố khai quật mô phỏng để bạn hình dung hiện trường.

Từ ngày 18/8/2026, bảo tàng thu phí 20.000 đồng/lượt với người lớn và 10.000 đồng/lượt với trẻ em. Học sinh phổ thông, người khuyết tật, người có công, hộ nghèo và cận nghèo được miễn; người cao tuổi, sinh viên, nghệ nhân và mọi khách vào Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 được giảm 50%, cần mang giấy tờ chứng minh. Giờ mở cửa chưa có công bố chính thức mới, nên gọi hỏi trước.

Cần biết trước: năm 2024 bảo tàng đón 10.869 lượt khách, phần lớn đi theo đoàn, chỉ 283 lượt khách quốc tế. Chưa có công bố chính thức về thuyết minh tiếng nước ngoài, audio guide hay dịch vụ ăn uống tại chỗ, nên đi đoàn quốc tế thì hỏi trước.

Hiện vật dân tộc học là đồ vật của những cộng đồng vẫn đang sống quanh Kon Tum. Không chạm hiện vật, không gõ thử nhạc cụ trưng bày, và hỏi nhân viên trước khi chụp ảnh.

Bảo tàng hợp với người muốn hiểu bối cảnh Tây Nguyên trước khi vào các làng Ba Na ven sông Đăk Bla, người quan tâm khảo cổ và gia đình có học sinh. Nếu bạn quan tâm lịch sử kháng chiến hơn khảo cổ, Di tích Nhà ngục Kon Tum, xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt năm 2026 và áp dụng cùng mức phí, là điểm nên đi kèm.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan trưng bày
  • Xem sưu tập khảo cổ Lung Leng

Từ khóa

  • bảo tàng
  • khảo cổ Lung Leng
  • cồng chiêng
  • văn hóa Tây Nguyên
  • Kon Tum

Chợ địa phương

Chợ Quảng Ngãi

Chợ hạng 1 ở trung tâm Quảng Ngãi, gồm khu chợ chính và khu hàng tươi sống.

Cẩm Thành, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Chợ Quảng Ngãi nằm ở ngã tư Ngô Quyền - Lê Trung Đình - Nguyễn Bá Loan - Nguyễn Nghiêm, phường Cẩm Thành, giữa khu trung tâm. Đây là chợ truyền thống hạng 1, nơi người dân đi chợ hằng ngày, do Ban Quản lý chợ Quảng Ngãi trực thuộc UBND phường quản lý.

Chợ cũ trên khu đất này bị cháy năm 2012. Chợ mới được xây với vốn hơn 260 tỷ đồng trên diện tích gần 13.300 m², và tháng 12/2016 tiểu thương từ chợ tạm trên đường Phạm Văn Đồng chuyển về. Chợ chia hai khối riêng: Chợ Trung tâm 4 tầng (1 hầm, 3 lầu) thiết kế 946 lô, sạp, ki-ốt, và Chợ Tươi sống rộng hơn 7.400 m², 3 tầng (1 hầm, 2 lầu) thiết kế 681 lô, sạp.

Theo cổng Du lịch Quảng Ngãi của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ở chợ có hải sản như tôm, mực, cá, sò; nông sản như tỏi Lý Sơn, ớt, trái cây theo mùa; đồ gốm, chiếu, mây tre đan; quần áo, vải vóc và đồ gia dụng. Cổng này khuyên đi vào sáng sớm để thấy chợ đông nhất và chọn được đồ tươi.

Nói thẳng về tình trạng: báo cáo của ban quản lý chợ tháng 9/2025 ghi Chợ Trung tâm kinh doanh không hiệu quả, còn 774 lô sạp với 493 hộ đang buôn bán; Chợ Tươi sống tương đối hiệu quả với 766 lô sạp, 690 hộ. Ban quản lý nêu nguyên nhân là siêu thị, cửa hàng tiện lợi và bán hàng trực tuyến khiến chợ truyền thống kém sôi động hơn trước. Nếu muốn thấy nhịp chợ, bạn nên dành thời gian cho khối Tươi sống. Năm 2024 ban quản lý chợ từng bị tỉnh phạt 255 triệu đồng vì nước thải vượt quy chuẩn và buộc phải khắc phục.

Chợ không thu phí vào cửa, giờ họp chợ chưa có công bố chính thức. Cổng Du lịch Quảng Ngãi lưu ý nhiều tiểu thương chưa có máy quẹt thẻ hay nhận chuyển khoản, nên mang tiền lẻ; bạn có thể mặc cả nhẹ nhàng và mang túi riêng để bớt túi nilon.

Chợ là nơi làm ăn của hơn một nghìn hộ tiểu thương: hỏi trước khi chụp cận mặt người bán, đứng gọn khi xem hàng ở lối đi hẹp khu tươi sống, và hỏi kỹ nguồn gốc đặc sản trước khi mua số lượng lớn.

Chợ hợp với người muốn xem chợ dân sinh giữa thành phố và mua đồ khô, nông sản mang về, có thể ghép với Bảo tàng Tổng hợp tỉnh cùng đường Lê Trung Đình. Nếu muốn một chợ nhỏ hơn, chợ mới Hàng Rượu, cũng do ban quản lý chợ Quảng Ngãi quản lý, đưa vào hoạt động từ tháng 11/2023.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua sắm
  • Mua hàng tươi sống
  • Mua đặc sản

Từ khóa

  • chợ truyền thống
  • chợ hạng 1
  • hàng tươi sống
  • trung tâm Quảng Ngãi

Làng nghề

Làng Teng

Làng của người Hrê bên Quốc lộ 24, nơi giữ nghề dệt thổ cẩm Hrê, được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ 2019.

Ba Động, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng Teng là một thôn của người Hrê bên sông Liêng, dưới chân đèo Lâm, thuộc xã Ba Động (vùng Ba Tơ cũ) ở miền núi phía tây nam Quảng Ngãi. Làng có hơn 200 hộ, chủ yếu là người Hrê, và được biết đến vì nghề dệt thổ cẩm.

Năm 2019, "Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Hrê" ở xã Ba Thành cũ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 446/QĐ-BVHTTDL; lễ đón nhận tổ chức ngày 25/9/2019. VietNamNet (2019) và Nhân Dân (2024) đều ghi Làng Teng là nơi duy nhất người Hrê ở Quảng Ngãi còn giữ nghề này.

Thổ cẩm Hrê lấy đen, đỏ, trắng làm màu chủ đạo, hoa văn là các đường viền song song, tam giác cân, ô vuông xếp cạnh nhau, cùng hình cách điệu từ sông suối, cây lá, con vật. Điểm riêng nằm ở kỹ thuật: hoa văn được dệt cài vào ngay khi dệt, không thêu chỉ màu lên nền vải như một số dân tộc khác. Khung dệt làm từ lồ ô, tre và gỗ.

Nghề đang thu hẹp. Theo Nhân Dân (12/2024), cả làng còn chưa đến 100 người biết dệt; Thanh Niên (3/2026) ghi khoảng 40 gia đình còn dệt. Bên cạnh váy, áo, khố, khăn, người làng làm thêm cà vạt, khăn choàng, túi; cà vạt và khăn choàng thổ cẩm đạt OCOP 4 sao cấp tỉnh.

Khi đến, bạn chủ yếu xem phụ nữ Hrê ngồi dệt ở hiên nhà và mua sản phẩm tại gian trưng bày trong làng. Đây là nơi người ta sống và làm việc, không phải khu du lịch có lịch biểu diễn. Giờ đón khách, giá sản phẩm chưa có công bố chính thức, nên liên hệ trước qua UBND xã Ba Động hoặc người quen địa phương.

Một điều nên biết trước: Khu bảo tồn văn hóa Hrê thôn Làng Teng rộng 1,48 ha, bàn giao năm 2018, đã xuống cấp nhanh. Tháng 12/2025 xã phải tháo dỡ nhiều dãy nhà sàn vì mất an toàn, chỉ còn dãy nhà sửa năm 2024 dùng được. Đừng kỳ vọng một làng văn hóa dựng sẵn.

Hỏi trước khi chụp ảnh người đang dệt, nhất là người lớn tuổi. Mua trực tiếp từ người dệt để tiền về tay họ.

Làng Teng hợp với người quan tâm nghề thủ công, vải dệt và văn hóa Hrê, chấp nhận một chuyến đi đơn giản. Nếu bạn muốn kết hợp lịch sử, Di tích quốc gia đặc biệt Địa điểm về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ nằm trong cùng vùng Ba Tơ cũ.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem dệt thổ cẩm
  • Mua sản phẩm thổ cẩm

Từ khóa

  • Hrê
  • dệt thổ cẩm
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • làng nghề
  • OCOP
  • Quảng Ngãi

Làng cộng đồng

Làng Kon K'Tu

Làng Ba Na hơn 300 năm bên sông Đăk Bla, làng du lịch cộng đồng từ 2020, có nhà rông, nhà sàn và nhà thờ gỗ.

Đăk Rơ Wa, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Từ cầu treo Kon Klor ở trung tâm Kon Tum cũ, đi thêm khoảng 3 km dọc sông Đăk Bla là tới làng Kon K'Tu (còn viết Kon Kơ Tu) của người Ba Na, nay thuộc xã Đăk Rơ Wa, tỉnh Quảng Ngãi. Trong tiếng Ba Na, "kon" là làng, "k'tu" là cổ; báo chí ghi làng có lịch sử hơn 300 năm, và năm 1968 làng dời khoảng 3 km ra ven sông như bây giờ.

Làng có khoảng 140 hộ, gần 760 người, trong đó 138 hộ, 736 người là người Ba Na. Tỷ lệ nhà sàn truyền thống trên 50%, xếp quanh nhà rông cao hơn 13 m giữa làng. Làng còn có nhà thờ Kon Kơ Tu dựng hoàn toàn bằng gỗ, kết hợp dáng kiến trúc châu Âu với nét Ba Na. Quanh làng có sông Đăk Bla, suối Đăk Htô và suối Teng Tong.

Kon K'Tu ra mắt làng du lịch cộng đồng ngày 14/7/2020 và là điểm du lịch đầu tiên của tỉnh Kon Tum cũ có sản phẩm du lịch đạt OCOP 3 sao. Làng chia việc theo tổ: ẩm thực, cồng chiêng, múa xoang, dệt, đan. Trải nghiệm được giới thiệu gồm đi thuyền gỗ trên sông Đăk Bla, gội đầu bằng nước lá, giao lưu cồng chiêng và múa xoang, xem dệt thổ cẩm, đan lát, nấu rượu, làm món ăn Ba Na, và ngủ homestay nhà sàn. Một hộ làm homestay ở đây có hai nhà sàn, đón được 40 - 45 khách mỗi ngày.

Mặt hạn chế: năm 2023, chính quyền thành phố Kon Tum cũ nhận định du lịch cộng đồng ở các làng quanh thành phố còn đơn điệu, nhiều hộ chưa biết cách tổ chức, thiếu chỗ cho khách trải nghiệm nghề. Các hoạt động như thuyền, cồng chiêng, nấu ăn chưa có lịch cố định được công bố; hãy hẹn trước với hộ homestay.

Kon Tum có mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, chiều tối se lạnh. Giá homestay, thuyền và bữa ăn chưa có công bố chính thức, nên hỏi trước.

Nhà rông và nhà thờ là không gian của cộng đồng. Hỏi người trong làng trước khi lên nhà rông, giữ yên lặng và ăn mặc kín đáo khi vào nhà thờ, xin phép trước khi chụp ảnh cận cảnh người và nhà ở.

Kon K'Tu hợp với người muốn ngủ một đêm nhà sàn, đi thuyền trên sông và xem nghề của người Ba Na mà vẫn gần thành phố. Nếu bạn chủ yếu muốn xem một nhà rông lớn, làng Kon Jơ Dri cùng xã có nhà rông cao 16 m dựng năm 1997.

Có gì để trải nghiệm

  • Homestay nhà sàn
  • Chèo thuyền trên sông Đăk Bla
  • Xem dệt thổ cẩm, đan lát
  • Nghe cồng chiêng (đặt trước)

Từ khóa

  • Ba Na
  • du lịch cộng đồng
  • nhà rông
  • sông Đăk Bla
  • homestay
  • Kon Tum

Làng cộng đồng

Làng Kon Jơ Dri

Làng Ba Na bên cầu treo Kon Klor, có nhà rông cao 16 m dựng năm 1997; điểm du lịch cộng đồng từ 2023.

Đăk Rơ Wa, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng Kon Jơ Dri (còn viết Kon Jơ Ri) là làng người Ba Na bên sông Đăk Bla, thuộc xã Đăk Rơ Wa, tỉnh Quảng Ngãi (trước là Kon Tum). Khách thường vào làng qua cầu treo Kon Klor; Báo Chính phủ ghi làng cách trung tâm Kon Tum cũ khoảng 6 km. Tên làng gắn với vùng đất xưa rực vàng hoa mai, tiếng Ba Na gọi là jơdri.

Thứ bạn nhận ra đầu tiên là nhà rông. Nhà rông Kon Jơ Dri dựng năm 1997, cao 16 m, ngang 12 m, có 8 cột lớn bằng gỗ, mái tranh hình lưỡi rìu. Vật liệu là gỗ, tre, lồ ô, mây và tranh; đầu năm 2024 dân làng cùng nhau tân trang nhà rông để đón Tết.

Làng có hơn 170 hộ vào khoảng 2018 - 2020 và hơn 190 hộ năm 2024, phần lớn là người Ba Na. Theo số liệu năm 2023, tỷ lệ nhà sàn truyền thống của làng trên 20%. Làng có đội cồng chiêng, múa xoang, và phụ nữ vẫn dệt thổ cẩm.

Ngày 06/01/2023 UBND tỉnh Kon Tum công nhận Kon Jơ Dri là điểm du lịch cộng đồng; làng ra mắt ngày 06/02/2023, cùng Liên hoan Sắc màu thổ cẩm lần thứ II. Trải nghiệm chính là xem nhà rông, nghe cồng chiêng, xem múa xoang, xem dệt thổ cẩm và ở homestay nhà sàn; xã Đăk Rơ Wa cũng giới thiệu đi thuyền trên sông Đăk Bla và làm đồ thủ công.

Mặt hạn chế cần biết: Kon Jơ Dri mới làm du lịch từ 2023, dịch vụ do từng hộ tự tổ chức. Năm 2023, chính quyền thành phố Kon Tum cũ nhận định du lịch cộng đồng ở các làng quanh thành phố còn đơn điệu, nhiều hộ chưa biết cách tổ chức. Giá homestay, bữa ăn và biểu diễn chưa có công bố chính thức, nên hỏi và đặt trước.

Kon Tum có mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Ngoài cầu treo Kon Klor, có thể đến làng theo Tỉnh lộ 671.

Nhà rông là nơi làng họp, làm lễ và mở hội. Hỏi người trong làng trước khi lên nhà rông, không tự ý cầm vào đồ vật trong đó, và xin phép trước khi chụp ảnh cận cảnh người đang dệt hay nhà ở.

Kon Jơ Dri hợp với người muốn xem một nhà rông lớn và ngủ nhà sàn gần thành phố. Nếu muốn một làng đã làm du lịch lâu hơn, có thuyền trên sông và nhà thờ gỗ, làng Kon K'Tu cùng xã, ra mắt từ năm 2020, là lựa chọn so sánh.

Có gì để trải nghiệm

  • Homestay nhà sàn
  • Tham quan nhà rông
  • Xem dệt thổ cẩm
  • Xem cồng chiêng, múa xoang

Từ khóa

  • Ba Na
  • du lịch cộng đồng
  • nhà rông
  • cầu treo Kon Klor
  • cồng chiêng
  • Kon Tum

Làng cộng đồng

Làng Kon Trang Long Loi

Làng du lịch cộng đồng của người Ba Na nhánh Rơ Ngao bên lòng hồ thủy điện Plei Krông, ra mắt năm 2021.

Đăk Hà, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng Kon Trang Long Loi nằm cách trung tâm Đăk Hà cũ khoảng 2 km, bên sông Pô Kô và lòng hồ thủy điện Plei Krông. Đây là làng của người Ba Na nhánh Rơ Ngao, nay là thôn Long Loi, xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi (trước thuộc thị trấn Đăk Hà, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum).

Làng có khoảng 132 hộ, gần 800 người, theo các báo năm 2020 - 2021 thì khoảng 99% là người Ba Na Rơ Ngao. Giữa năm 2020 UBND tỉnh Kon Tum công nhận làng là điểm du lịch; ngày 09/01/2021 làng ra mắt làng du lịch cộng đồng, là làng du lịch cộng đồng đầu tiên của huyện Đăk Hà cũ và thứ ba của tỉnh Kon Tum cũ.

Đến năm 2023, làng có hơn 35 hộ tham gia làm du lịch, gồm 13 homestay, 2 hợp tác xã du lịch và 4 tổ nghề. Khách đến thường được giới thiệu ẩm thực Ba Na như cơm lam, rượu ghè, gà nướng, thịt hun khói, nghe cồng chiêng và xem múa xoang, ngắm cảnh ven sông. Nghề dệt thủ công truyền thống của người Ba Na ở huyện Đăk Hà cũ nằm trong danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2023.

Mặt hạn chế: nguồn công khai về làng chủ yếu từ các năm 2020 - 2023, chưa có số liệu khách hay bảng giá chính thức gần đây. Khu vườn hoa ven sông được báo năm 2020 mô tả là dự án của doanh nghiệp tư nhân; năm 2021 VOV5 ghi có người trong làng làm việc ở đó. Giá homestay, bữa ăn và biểu diễn chưa có công bố chính thức, nên hỏi và đặt trước.

Kon Tum có mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11. Làng nằm cạnh sông và hồ thủy điện, nên cẩn thận khi ra mép nước, nhất là mùa mưa.

Một số lễ của người Ba Na như Lễ nước giọt, Lễ trỉa lúa được người dân phục dựng cho khách xem, nhưng đó vẫn là lễ của cộng đồng; chỉ tham dự khi được mời và làm theo hướng dẫn của người trong làng. Hỏi người trong làng trước khi lên nhà rông và trước khi chụp ảnh cận cảnh người, nhà ở.

Kon Trang Long Loi hợp với người đã ở Kon Tum cũ vài ngày, muốn một làng Ba Na ven hồ ngoài vùng trung tâm. Nếu thời gian ít và muốn ở gần thành phố, làng Kon K'Tu ở xã Đăk Rơ Wa là lựa chọn gần tay hơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Homestay
  • Xem dệt thổ cẩm, đan lát
  • Tìm hiểu văn hóa Rơ Ngao

Từ khóa

  • Ba Na Rơ Ngao
  • du lịch cộng đồng
  • hồ Plei Krông
  • homestay
  • Đăk Hà
  • Kon Tum

Lễ hội

Lễ hội đâm trâu Quảng Ngãi

Lễ ăn trâu tạ ơn thần linh của người Cor, Hrê, Ca Dong ở miền núi Quảng Ngãi, có cây nêu và tiếng chiêng; nay chỉ còn một số gia đình tổ chức, không có lịch cố định.

Quảng Ngãi · Khoảng 11 ngày, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Lễ đâm trâu (hay còn gọi là lễ ăn trâu) là một nghi lễ tín ngưỡng truyền thống của các cộng đồng Cor, Hrê và Ca Dong ở miền núi phía tây tỉnh Quảng Ngãi. Đây không phải một lễ hội có lịch và nơi tổ chức cố định: lễ do từng gia đình đứng ra làm khi có việc cần tạ ơn, còn dòng họ, làng xóm cùng đến dự và giúp. Lễ được làm để tạ ơn thần linh đã phù hộ gia đình, dân làng bình yên, no ấm, và cầu sức khỏe, mùa màng cho năm mới. Với người Hrê, con trâu là vật hiến sinh có giá trị nhất, cũng là con vật gần gũi, có công lớn với đời sống con người.

Tâm điểm của lễ là cây nêu. Ở người Cor, trụ nêu làm bằng cây chò chỉ, được khắc vẽ hoa văn công phu; khi rước về, cột nêu được đặt trên đôi giá bắt chéo, không để nằm trên đất và không ai được bước qua. "Nghệ thuật trang trí cây nêu của người Co" ở Trà Bồng đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2323/QĐ-BVHTTDL ngày 9/8/2024. Phần hội của mỗi cộng đồng một khác: người Cor có đấu chiêng, múa cà đáo, hát cà lu; người Hrê đứng quanh cây nêu dự cúng, sau lễ thì đánh chiêng, hát ka lêu, ka choi; ở người Ca Dong, người lớn tuổi truyền cho lớp trẻ các bài chiêng cổ và điệu múa cacheo.

Ngày nay lễ ít được tổ chức. Năm 2019, ở vùng Sơn Tây cũ chỉ còn một số gia đình làm lễ, và chính quyền đã vận động người dân không tổ chức vì chi phí quá lớn. Tháng 8/2024, một hội thảo khoa học tại Quảng Ngãi có tham luận đặt câu hỏi nên duy trì hay loại bỏ lễ ăn trâu của người Ca Dong. Đây là nghi lễ của gia đình và làng, không phải chương trình dành cho du khách. Du khách muốn tìm hiểu có thể xem cây nêu, đấu chiêng, múa cà đáo ở các dịp trưng bày, tái hiện, như đợt trưng bày trang trí cây nêu ở Trà Bồng tháng 3/2025.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem cây nêu của người Cor ở các dịp trưng bày
  • Nghe đấu chiêng, xem múa cà đáo ở dịp tái hiện
  • Tìm hiểu ý nghĩa lễ ăn trâu qua người địa phương

Từ khóa

  • lễ ăn trâu
  • người Cor
  • người Hrê
  • người Ca Dong
  • cây nêu
  • cồng chiêng
  • miền núi Quảng Ngãi

Không gian di sản

Bệnh xá Đặng Thùy Trâm

Công trình y tế tưởng niệm xây năm 2006 bên quốc lộ 1 ở thôn Nga Mân, có tượng đài và nhà trưng bày về liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm.

Khánh Cường, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Di tích lưu niệm liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi gắn với cuộc đời và quá trình hoạt động của bà trong những năm chiến tranh. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, bà tình nguyện vào chiến trường miền Nam và công tác tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Di tích được xếp hạng cấp tỉnh năm 2011, gồm 5 điểm từng gắn với hoạt động của bà như trạm tiền phẫu ở hang Bộng Dầu, hầm bí mật ở thôn Nga Mân và các địa điểm từng là bệnh xá Đức Phổ trên vùng núi Ba Khâm, Ba Trang.

Điểm tham quan nằm ngay bên quốc lộ 1 là Bệnh xá Đặng Thùy Trâm ở thôn Nga Mân, xã Khánh Cường. Công trình được xây năm 2006 trên vùng đất Đức Phổ, nơi bà từng sống, làm việc và chiến đấu; đây không phải bệnh xá thời chiến, vì các bệnh xá ấy nằm trên núi, nay thuộc xã Đặng Thùy Trâm. Trong khuôn viên rộng 3.900 m² có tượng đài Đặng Thùy Trâm và khu trưng bày giới thiệu hình ảnh, tư liệu, hiện vật liên quan đến bà cùng truyền thống đấu tranh của người dân địa phương. Câu chuyện về hai cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, được một cựu sĩ quan quân báo Mỹ lưu giữ suốt 35 năm và trao lại cho gia đình vào cuối tháng 4/2005, là một phần quan trọng giúp du khách hiểu hơn về cuộc đời của nữ bác sĩ.

Đến đây, du khách có thể tìm hiểu về công việc khám chữa bệnh giữa chiến trường và những câu chuyện gắn với Đặng Thùy Trâm. Công trình hiện vẫn thực hiện chức năng khám chữa bệnh và có khu trưng bày phục vụ khách tham quan. Từ cuối tháng 12/2025, cơ sở này mang tên hành chính là Trạm y tế xã Khánh Cường (cơ sở 2); tên Bệnh xá Đặng Thùy Trâm vẫn là tên quen gọi và là tên khắc trên bia đá trước công trình. Sau 20 năm hoạt động, công trình đã xuống cấp và địa phương đang kêu gọi kinh phí sửa chữa.

Có gì để trải nghiệm

  • Thắp hương tại tượng đài Đặng Thùy Trâm
  • Xem nhà trưng bày hiện vật, hình ảnh về bà
  • Tìm hiểu câu chuyện hai cuốn nhật ký
  • Quét mã QR tra thông tin di tích

Từ khóa

  • di tích tưởng niệm
  • Đặng Thùy Trâm
  • Nhật ký Đặng Thùy Trâm
  • Khánh Cường
  • Đức Phổ
  • du lịch về nguồn

Lễ hội

Lễ hội đua thuyền Tứ Linh

Hội đua thuyền trên biển của hai làng An Vĩnh, An Hải, mở từ mùng 4 đến mùng 7 Tết, thuyền mang tên Long, Lân, Quy, Phụng, di sản phi vật thể quốc gia.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Lễ hội đua thuyền Tứ Linh là lễ hội truyền thống của cư dân hai làng An Vĩnh và An Hải trên đảo Lý Sơn, nay thuộc đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, mở từ mùng 4 đến mùng 7 tháng Giêng âm lịch hằng năm. Theo văn tế tiền hiền, hội đua được tổ chức lần đầu năm 1826. Lễ hội gồm phần lễ cúng thần linh, tiền hiền và phần đua thuyền trên vùng biển gần bờ trước đình làng, và đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020. Đến Lý Sơn những ngày đầu năm mới, du khách đứng trên bờ kè, bãi biển xem đua và cổ vũ cùng dân làng.

Tâm điểm của lễ hội là cuộc tranh tài giữa bốn thuyền của mỗi làng, mang tên và hình bốn linh vật Long, Lân, Quy, Phụng. Thuyền đua dáng thon, đầu và đuôi gắn hình rồng, lân, rùa, phượng chạm trên gỗ; ngày thường thuyền được đặt ở lăng, miếu, đình để thờ. Bốn thuyền của làng đua trong bốn ngày, mỗi ngày một cuộc, đến mùng 7 cộng kết quả để xếp giải chung cuộc. Tay đua là ngư dân giỏi nghề biển trong hai làng, chít khăn đỏ. Ở các kỳ đua toàn đảo do chính quyền tổ chức, cả hai làng góp 8 thuyền với gần 200 vận động viên, tranh tài trên cự ly hơn 6.000 m.

Vượt lên trên ý nghĩa của một cuộc đua, với người Lý Sơn đây trước hết là lễ: trên đường ra trường đua, thuyền quay đầu vào bờ lạy thần, gọi là "xin phép". Lễ hội là dịp tri ân tổ tiên, các vị tiền hiền buổi đầu khai khẩn đất đảo, tưởng nhớ Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải xưa ra Hoàng Sa, Trường Sa dựng bia, cắm mốc, và cầu mưa thuận gió hòa, nông ngư được mùa. Ngoài dịp Tết, hội đua còn mở ngay sau Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa và trong một số dịp lễ lớn, theo lịch của đặc khu.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem đua thuyền trên biển từ bờ kè
  • Xem nghi thức thuyền lạy thần trước và sau cuộc đua
  • Xem thuyền đua chạm hình Long, Lân, Quy, Phụng
  • Cổ vũ cùng dân hai làng An Vĩnh, An Hải

Từ khóa

  • lễ hội
  • đua thuyền
  • Lý Sơn
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • Tết Nguyên đán
  • Hoàng Sa

Không gian di sản

Đình An Hải

Ngôi đình làng dựng lại năm Minh Mạng nguyên niên 1820 dưới chân núi Thới Lới, quay mặt ra biển, nơi làng An Hải tế tiền hiền và mở hội đầu năm.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Đình làng An Hải nằm ở làng An Hải, phía đông đảo Lớn, thuộc đặc khu Lý Sơn, là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Theo lời truyền, đình dựng lần đầu năm 1815 bằng tre, tranh, gỗ; đến năm 1820 (năm Minh Mạng nguyên niên) được dựng lại quy mô hơn, niên đại này còn khắc trên thượng lương của đình Trung. Tạp chí Di sản văn hóa (2007) đánh giá đây là di tích kiến trúc tín ngưỡng tiêu biểu nhất trên đảo Lý Sơn, gắn với lịch sử lập làng và tín ngưỡng của cộng đồng cư dân xứ đảo.

Ngôi đình tựa lưng vào núi Thới Lới và quay mặt hướng đông nam ra biển. Đình dựng năm 1820 theo kiểu chữ Nhị, qua nhiều lần tu bổ và xây thêm nay có kết cấu chữ Tam gồm đình Hạ, đình Trung và đình Thượng. Đình Hạ có 18 cột gỗ; ở hàng hiên, hai cột ngoài cùng đặt trên lưng đôi nghê ghép sành sứ quay đầu vào nhau. Bờ mái đắp các đề tài lưỡng long triều nhật, long phụng triều quy, cá chép hóa rồng. Không gian thờ tự ghi nhớ công ơn các vị tiền hiền khai khẩn đất đai; ở hậu tẩm có ban thờ Thiên Y A Na, được xem là dấu vết tiếp biến văn hóa Chăm và Việt trên đảo.

Đến thăm đình An Hải, du khách có thể xem bộ khung gỗ, các mảng đắp nổi và ghép sành sứ của một ngôi đình làng thế kỷ 19. Đây cũng là nơi tổ chức các lễ hội truyền thống của làng: tế tiền hiền, đua thuyền Tứ linh, đô vật dịp Tết Nguyên đán và Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào tháng 2 âm lịch. Trước mỗi chuyến biển, ngư dân An Hải thường đến đình thắp hương. Du khách cũng nên biết đình đã xuống cấp: các năm 2019 và 2023 báo chí ghi nhận cột kèo bị mối mọt, mái ngói hư hỏng, và năm 2019 đình Trung đã được trùng tu.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem kiến trúc đình Hạ, đình Trung, đình Thượng
  • Xem đôi nghê ghép sành sứ đỡ cột hiên
  • Thắp hương tưởng niệm tiền hiền làng An Hải
  • Xem hội làng dịp Tết và tháng 2 âm lịch

Từ khóa

  • đình làng
  • di tích quốc gia
  • Lý Sơn
  • làng An Hải
  • kiến trúc gỗ
  • tiền hiền

Thiên nhiên & Mùa

Đồng muối Sa Huỳnh

Cánh đồng muối hơn 100 ha ở phường Sa Huỳnh, nơi diêm dân vẫn phơi nước biển trên nền đất; nghề làm muối là di sản phi vật thể quốc gia từ 12/2024.

Sa Huỳnh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Đồng muối Sa Huỳnh nằm cạnh quốc lộ 1, thuộc phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi, là vùng làm muối thủ công có từ thế kỷ 19 và vẫn đang hoạt động. Cánh đồng rộng khoảng 106–115 ha tùy nguồn, do hơn 500 hộ diêm dân của ba tổ dân phố Tân Diêm, Long Thạnh 1 và Thạnh Đức 1 làm nghề. Tháng 12/2024, nghề làm muối Sa Huỳnh được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là điểm dừng quen thuộc của người chụp ảnh và du khách muốn tìm hiểu văn hóa bản địa.

Dưới cái nắng gắt của miền duyên hải, mặt ruộng ngập nước hiện lên như một tấm gương khổng lồ phản chiếu bầu trời. Từng ô ruộng nối tiếp nhau, điểm xuyết là những đụn muối trắng hình chóp và bóng dáng các diêm dân đang cào muối, gánh muối. Hai thời điểm được người chụp ảnh tìm đến là buổi sớm, khi diêm dân bắt đầu việc, và buổi chiều, khi các ụ muối trắng nổi trên nền nắng vàng cam.

Đến với đồng muối Sa Huỳnh, du khách được nhìn tận nơi thứ muối mà theo Báo Văn hóa, người châu Âu thời Pháp thuộc từng gọi là "vàng trắng" xứ An Nam, và có cơ hội tìm hiểu trực tiếp các công đoạn làm muối truyền thống đầy nhọc nhằn. Diêm dân lèn nền ruộng cho thật chặt, dẫn nước biển vào phơi cho tăng độ mặn, chờ muối kết tinh trên nền đất rồi cào gom thành đống, chỉ dùng nắng và gió. Mỗi mẻ phơi mất khoảng 2 đến 3 ngày, gặp mưa là phải làm lại. Du khách có thể thử cào muối, gánh muối cùng diêm dân.

Mùa muối kéo dài từ tháng Giêng đến tháng 7 âm lịch; ngoài mùa và những ngày mưa, ruộng không có muối. Đây là nơi làm việc của diêm dân, nên du khách đi trên bờ, không bước xuống ô ruộng đang kết tinh.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem diêm dân cào muối, gánh muối
  • Chụp ảnh ruộng muối lúc sáng sớm, chiều muộn
  • Thử cào muối, gánh muối cùng diêm dân
  • Nghe giới thiệu quy trình làm muối trên nền đất

Từ khóa

  • đồng muối
  • nghề làm muối
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • diêm dân
  • nhiếp ảnh
  • Sa Huỳnh

Thiên nhiên & Mùa

Hồ Nước Trong

Hồ thủy lợi dung tích 289 triệu m³ giữa núi Sơn Hà, vận hành từ năm 2016, nơi khách đi thuyền quanh hồ và ăn cá hồ cùng món của người Hrê.

Sơn Hà, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Hồ Nước Trong nằm giữa vùng núi xã Sơn Hà, phía tây tỉnh Quảng Ngãi, là một hồ chứa thủy lợi nhân tạo có dung tích 289 triệu m³ và diện tích mặt hồ trên 1.100 ha. Công trình hoàn thành và đưa vào vận hành từ năm 2016, có nhiệm vụ bổ sung nước tưới cho hệ thống thủy lợi Thạch Nham, kết hợp phát điện và điều tiết, cắt lũ cho vùng hạ lưu sông Trà Khúc. Bên cạnh giá trị về nguồn nước, mặt hồ rộng nằm giữa các dãy núi cũng là nơi du khách tìm đến ngắm cảnh.

Điểm nhấn của nơi này là mặt hồ rộng với những đảo nhỏ nhô lên giữa lòng hồ, phía trên là mây vắt ngang núi. Hồ cũng là nơi mưu sinh của người dân trong vùng: hằng năm ngành nông nghiệp thả cá giống để tái tạo nguồn lợi thủy sản, người dân quanh hồ đánh bắt, và trên mặt nước có bè nuôi cá lồng của một hợp tác xã. Khu vực Sơn Hà là nơi tập trung đông đồng bào Hrê, với múa cồng chiêng và tri thức làm nhà sàn.

Trải nghiệm chính ở Hồ Nước Trong là ngồi thuyền du lịch khoảng 30 chỗ chạy chậm quanh mặt hồ giữa các dãy núi. Trên thuyền, du khách dùng bữa với các món chế biến từ cá đánh được dưới hồ và sản vật của đồng bào Hrê. Thuyền còn đưa khách đến khu vực phía tây nam hồ, nơi có một dòng thác mùa khô vẫn chảy, để tắm suối, hoặc ghé xem bè cá lồng.

Từ trung tâm Quảng Ngãi lên hồ khoảng 63 km, qua đèo Cà Đáo đến Di Lăng rồi đi thêm chừng 5 km. Du lịch trên hồ mới ở bước đầu: năm 2023 thường ngày chỉ có 2 thuyền phục vụ khách, nên du khách cần đăng ký tour sớm qua các công ty du lịch. Một chương trình thường kéo dài trọn một ngày, gồm đi thuyền, ăn trưa, nghỉ trưa và tắm suối buổi chiều.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi thuyền quanh lòng hồ
  • Ăn món cá hồ và món của người Hrê trên thuyền
  • Tắm suối ở dòng thác phía tây nam hồ
  • Xem bè nuôi cá lồng

Từ khóa

  • hồ thủy lợi
  • Sơn Hà
  • đi thuyền
  • Hrê
  • cá lồng
  • sông Trà Khúc

Quà lưu niệm

Mạch nha Mộ Đức

Đường dẻo màu hổ phách nấu từ mộng lúa và xôi nếp, thức quà của vùng Mộ Đức gắn với câu "Kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ".

Mộ Đức, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Mạch nha Mộ Đức, còn gọi là mạch nha Thi Phổ, từ lâu đã là thức quà quen của người Quảng Ngãi và đi vào câu ca "Kẹo gương Thu Xà, mạch nha Thi Phổ". Người Quảng Ngãi dùng mạch nha làm quà khi sui gia thăm viếng và gửi cho người đi xa. Trước đây nhiều nơi ở vùng Mộ Đức có làng làm mạch nha; nay nghề còn ở ít hộ, thường là nghề gia truyền ba, bốn đời. Du khách có thể mua mạch nha tại các hộ làm nghề và quầy đặc sản ở vùng Mộ Đức, hoặc tại các quầy bán ở trung tâm Quảng Ngãi.

Sự hấp dẫn của mạch nha đến từ quá trình chế biến thủ công tỉ mỉ, với nguyên liệu là mộng lúa (mầm lúa) và gạo nếp. Lúa hạt chắc được ngâm, ủ cho nứt mộng rồi lên mạ non, sau đó phơi khô và xay thành bột mầm. Nếp nấu thành xôi, trộn với bột mầm và giữ ấm nhiều giờ để tinh bột chuyển thành đường, rồi ép lấy nước. Nước ép được cô trên bếp củi nhiều giờ liền, người nấu phải khuấy và vớt bọt liên tục. Thành phẩm là mẻ mạch nha màu vàng hổ phách, đặc sánh, dẻo, vị ngọt thanh và thơm mùi nếp.

Cách thưởng thức mạch nha rất dân dã: dùng đũa vít mạch nha vàng ươm rồi quệt lên chiếc bánh tráng nướng giòn. Mạch nha cũng được dùng thay đường khi nấu ăn. Theo Địa chí Quảng Ngãi, trong những năm 1930–1935 mạch nha Quảng Ngãi đã được trưng bày tại hội chợ ở Huế, Hà Nội; gần đây mạch nha của vùng Mộ Đức được công nhận sản phẩm OCOP 3 sao. Mạch nha thường được đựng trong lon kim loại hoặc hũ có nắp, dễ mang theo làm quà. Nếu muốn xem nấu mạch nha, du khách nên hỏi trước chủ lò, vì lò nấu là bếp nhà và mỗi mẻ kéo dài nhiều giờ.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua mạch nha làm quà
  • Ăn thử mạch nha với bánh tráng nướng
  • Hỏi xem nấu mạch nha tại hộ làm nghề (hẹn trước)

Từ khóa

  • mạch nha
  • đặc sản
  • quà Quảng Ngãi
  • mộng lúa
  • Thi Phổ
  • OCOP
  • Mộ Đức

Thiên nhiên & Mùa

Thác Cao Muôn

Thác nước dưới núi Cao Muôn ở xã Ba Vinh, nơi Đội du kích Ba Tơ lập căn cứ năm 1945, được người Hrê coi là thác mẹ đưa nước về ruộng làng.

Ba Vinh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Thác Cao Muôn nằm ở thôn Cao Muôn, xã Ba Vinh, giữa vùng núi phía tây nam tỉnh Quảng Ngãi, dưới ngọn núi cùng tên. Từ quốc lộ 24, du khách rẽ vào qua làng Teng, qua cầu Bến Buông trên sông Liêng rồi đi thêm khoảng 10 km đường liên xã, liên thôn. Dọc đường vào là ruộng bậc thang và nhà sàn của người Hrê bên sườn núi, tháng ba âm lịch có hoa gạo nở đỏ.

Thác Cao Muôn dưới nằm ở cuối con đường của thôn, cao mấy chục mét; đi tiếp khoảng nửa cây số về phía thượng nguồn là thác Cao Muôn trên. Dưới chân thác, đá bị nước bào mòn thành nhiều hình thù, quanh thác là rừng tự nhiên với những cây rừng dáng cổ và dương xỉ bám trên vách đá rêu phong. Với đồng bào Hrê ở Ba Vinh, đây là dòng thác mẹ đem nước tưới cho cánh đồng làng, nên bà con bảo nhau không chặt cây rừng để thác còn chảy.

Nơi đây còn có giá trị lịch sử: sau cuộc khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11/3/1945, Đội du kích Ba Tơ lui về núi Cao Muôn lập căn cứ chiến đấu. Chiến khu núi Cao Muôn là một trong các địa điểm thuộc di tích quốc gia đặc biệt "Địa điểm về cuộc khởi nghĩa Ba Tơ", xếp hạng năm 2017, và khu vực chân thác nằm trong vùng bảo vệ của di tích.

Đến thác Cao Muôn, du khách ngắm thác, nghỉ trên các phiến đá bên suối, tắm suối dưới chân thác hoặc cắm trại. Du lịch ở đây do người dân trong thôn tự làm, quy mô nhỏ: thanh niên trong làng dựng vài căn nhà sàn truyền thống làm chỗ nghỉ chân và nấu cơm lam, muối mè, gà nướng cho khách, nên báo trước nếu muốn dùng bữa. Dịch vụ tại chỗ còn ít, du khách nên tự mang theo đồ dùng cần thiết.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm thác, nghỉ trên bãi đá bên suối
  • Tắm suối dưới chân thác
  • Ăn cơm lam, gà nướng do người trong thôn nấu
  • Cắm trại
  • Đi bộ lên thác Cao Muôn trên

Từ khóa

  • thác nước
  • Ba Vinh
  • núi Cao Muôn
  • Hrê
  • khởi nghĩa Ba Tơ
  • tắm suối
  • cắm trại

Quà lưu niệm

Quế Trà Bồng

Vỏ quế, bột quế và tinh dầu quế của vùng núi Trà Bồng, cây trồng lâu đời của người Cor, được bảo hộ chỉ dẫn địa lý "Trà Bồng" từ tháng 11/2020.

Quảng Ngãi

Câu chuyện

Quế Trà Bồng là sản vật lâu đời của vùng núi Trà Bồng ở phía tây bắc tỉnh Quảng Ngãi, một trong bốn vùng quế có tiếng của Việt Nam. Cây quế gắn với đời sống của đồng bào Cor từ hàng trăm năm: người Cor mang giống quế từ rừng về trồng sau làng, trong vườn, trên nương, ví cây quế là "kho gạo" giữa rừng và có nếp nghĩ trồng quế để dành cho con cháu.

Ngày 23/11/2020, Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý "Trà Bồng" cho sản phẩm quế của vùng này. Theo hồ sơ chỉ dẫn địa lý, vỏ quế Trà Bồng có mùi thơm nồng, vị cay ngọt pha đắng nhẹ, hàm lượng tinh dầu trong vỏ quế thân từ 2,82% đến 6,31%. Mỗi năm quế được thu hoạch hai đợt: đợt đầu từ cuối tháng 2 đến hết tháng 4, người Cor gọi là "mùa tiên", đợt sau vào tháng 7 đến tháng 8, gọi là "hậu mùa". Người thu hoạch dùng dao rạch và đầu móc tách vỏ khỏi thân cây rồi phơi khô, bó lại. Vào mùa, du khách đi qua các tuyến đường liên xã ở vùng Trà Bồng sẽ gặp người gùi quế về điểm tập kết và phơi quế bên đường.

Từ vỏ quế, người dân làm ra nhiều sản phẩm để du khách mua về làm quà: vỏ quế, bột quế, tinh dầu quế, nhang quế, tăm quế và đồ mỹ nghệ như bình, chén, hộp đựng trà. Trong bếp, quế được dùng làm gia vị và khử mùi tanh của thịt, cá. Sản phẩm quế có bán tại các điểm bán đặc sản ở trung tâm tỉnh và ở vùng Trà Bồng; khi mua, du khách nên hỏi kỹ người bán về nguồn gốc và nhãn chỉ dẫn địa lý "Trà Bồng". Rẫy quế là tài sản của từng gia đình, nên ai muốn xem bóc vỏ quế cần liên hệ trước với người địa phương.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua vỏ quế, bột quế, tinh dầu quế
  • Mua nhang, tăm, đồ mỹ nghệ làm từ vỏ quế
  • Xem phơi quế, gùi quế vào mùa thu hoạch
  • Hỏi nhãn chỉ dẫn địa lý "Trà Bồng"

Từ khóa

  • đặc sản Quảng Ngãi
  • quế Trà Bồng
  • chỉ dẫn địa lý
  • người Cor
  • tinh dầu quế
  • Trà Bồng

Làng nghề

Làng gốm Mỹ Thiện

Làng gốm hơn 200 năm bên sông Trà Bồng, nay còn một lò nung; nghề gốm Mỹ Thiện là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2025.

Bình Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng gốm Mỹ Thiện nằm bên sông Trà Bồng, thuộc khu vực Châu Ổ, Quảng Ngãi, là làng gốm có lịch sử hơn 200 năm. Nghề gốm được cho là hình thành từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, gắn với những người thợ từ Thanh Hóa vào định cư và truyền nghề. Gốm Mỹ Thiện nổi bật với các sản phẩm gia dụng và đồ trang trí như chum, ghè, vò, ché, bình hoa, ấm trà, tượng động vật. Đặc biệt, các sản phẩm tráng men có nhiều sắc màu và hoa văn riêng biệt. Năm 2025, nghề gốm Mỹ Thiện được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Điểm đặc biệt của gốm Mỹ Thiện nằm ở kỹ thuật chế tác thủ công được truyền qua nhiều thế hệ. Người thợ tạo hình sản phẩm trên bàn xoay, sử dụng đất sét được xử lý kỹ làm cốt gốm và các nguyên liệu địa phương để tạo men. Một số sản phẩm tráng men được nung qua hai lần lửa, tạo nên những biến đổi màu sắc đặc trưng sau quá trình nung. Du khách đến đây có thể tìm hiểu quy trình làm gốm, quan sát nghệ nhân tạo hình và thử tự tay làm hoặc trang trí sản phẩm gốm.

Trải qua nhiều biến động, nghề gốm Mỹ Thiện từng có nguy cơ mai một khi số hộ theo nghề giảm mạnh. Những năm gần đây, địa phương và các nghệ nhân tiếp tục tìm cách bảo tồn, phục hồi kỹ thuật và đưa nghề gốm gắn với hoạt động du lịch trải nghiệm. Ghé thăm Mỹ Thiện, du khách có thể tìm hiểu câu chuyện về một nghề thủ công lâu đời của Quảng Ngãi, đồng thời trực tiếp cảm nhận sự khác biệt giữa một sản phẩm gốm được tạo nên bằng bàn tay người thợ và những sản phẩm sản xuất công nghiệp.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem tạo hình gốm trên bàn xoay
  • Xem trang trí đắp nổi và tráng men
  • Thử làm gốm (nhóm học sinh, nên hẹn trước)
  • Mua gốm trực tiếp tại lò

Từ khóa

  • làng nghề
  • gốm
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • gốm men đắp nổi
  • Bình Sơn
  • sông Trà Bồng

Thiên nhiên & Mùa

Hang Câu

Vách đá trầm tích núi lửa bị biển khoét lõm dưới chân núi Thới Lới ở Lý Sơn, bên bãi cát lẫn vụn san hô và thềm đá phủ rêu đầu năm.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Hang Câu nằm ngay dưới chân núi lửa Thới Lới, phía đông bắc đảo Lớn, thuộc đặc khu Lý Sơn, liền kề khu chùa Hang. Đây không phải một hang động sâu để đi vào mà là đoạn vách núi bị biển khoét lõm thành hàm ếch. Đá ở đây sinh ra từ miệng núi lửa cổ phun nổ khoảng 9 đến 11 triệu năm trước; còn hàm ếch do nước biển ăn vào chân núi trong thời kỳ biển tiến, cách nay chừng 4.500 năm. Tên gọi được dân gian giải thích theo hai cách: vùng biển này nhiều rau câu, hoặc ghềnh đá ở đây là chỗ ngồi buông câu.

Điểm nhấn của Hang Câu là vách đá dựng đứng bên bờ biển. Bề mặt vách in rõ những lớp trầm tích núi lửa xếp tầng, cho thấy quá trình kiến tạo địa chất của đảo. Dưới chân vách là các mô đá bị sóng bào phẳng nhoài ra biển, làn nước biển trong cùng rạn san hô gần bờ. Bãi cát ở đây lẫn hạt phong hóa từ dung nham với vụn vỏ sò, ốc, san hô; trên vòm đá có từng đàn chim làm tổ.

Đến với Hang Câu, du khách có thể đi bộ trên bãi cát dưới chân vách, chụp ảnh các lớp trầm tích, câu cá, lặn ngắm san hô hay leo những ghềnh đá thấp ven bờ. Từ tháng Giêng đến cuối tháng 3 âm lịch là mùa rêu: khi triều rút, thảm rêu xanh lộ ra trên ghềnh đá và Hang Câu là một trong những bãi rêu được chụp ảnh nhiều của đảo. Mùa hè sóng êm; mùa đông mưa bão, sóng đánh vào vách đá nên du khách chỉ đứng xa mà nhìn, khó xuống sát mép nước. Từ cảng Lý Sơn đi xe máy chừng 15 phút là tới chân núi Thới Lới; phía trên vách là đường lên đỉnh núi, nơi có cột cờ và hồ chứa nước trong miệng núi lửa.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ trên bãi cát dưới chân vách đá
  • Ngắm và chụp ảnh các lớp trầm tích núi lửa
  • Xem thảm rêu khi triều rút, tháng Giêng đến tháng 3 âm lịch
  • Câu cá, lặn ngắm san hô gần bờ

Từ khóa

  • vách đá núi lửa
  • trầm tích
  • bãi rêu
  • núi Thới Lới
  • san hô
  • Lý Sơn

Không gian di sản

Đình làng An Vĩnh

Ngôi đình dựng từ cuối thế kỷ 18 sát cảng Lý Sơn, phục dựng năm 2009, nơi binh phu Hoàng Sa làm lễ cáo thần trước khi ra khơi; di tích quốc gia từ năm 2013.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Đình làng An Vĩnh nằm ngay cảng biển Lý Sơn, thuộc đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đình được dựng từ cuối thế kỷ 18, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng và thờ tiền hiền của các tộc họ làng An Vĩnh, được công nhận di tích lịch sử quốc gia tháng 4/2013. Đình hướng mặt về phía đất liền, phía cảng Sa Kỳ.

Trong hơn hai thế kỷ, đình nhiều lần hư hại: bị cướp biển đốt phá năm 1842, hư hại vì bão năm 1922, sập mái vì bom năm 1953. Công trình hiện nay là bản phục dựng năm 2009 theo kết cấu ngôi đình cũ, bàn giao tháng 1/2010. Đình có bố cục hình chữ Tam gồm đình hạ, đình trung và đình thượng nối nhau bằng máng xối dài, vì kèo kiểu nhà rường miền Trung, mái lợp ngói âm dương, trang trí theo mô thức tứ linh, ngũ phúc. Khuôn viên rộng khoảng 2.000 m², trong đó sân đình khoảng 1.000 m²; trước sân là bình phong và hai trụ biểu.

Giá trị chính của đình làng An Vĩnh là lịch sử, gắn với đội Hoàng Sa năm xưa. Đội gồm 70 người, lấy người An Vĩnh luân phiên sung vào; trước khi xuất quân, binh phu tập hợp ở sân đình làm lễ cáo thần linh rồi xuống ghe ở Bến Đình ra khơi. Trong đình có bàn thờ các họ có nhiều người đi lính Hoàng Sa. Hằng năm, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức tại đình vào tháng 3 âm lịch. Đến đây, du khách xem ngôi đình phục dựng và tìm hiểu nơi đội Hoàng Sa làm lễ trước lúc ra khơi. Đình không còn lưu giữ hiện vật của đội Hoàng Sa; du khách muốn xem hiện vật có thể đến Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải trên đảo.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan ngôi đình hình chữ Tam và sân đình
  • Thắp hương tưởng niệm tiền hiền, lính Hoàng Sa
  • Dự lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tháng 3 âm lịch
  • Xem đua thuyền Tứ linh ở Bến Đình dịp lễ

Từ khóa

  • đình làng
  • di tích quốc gia
  • đội Hoàng Sa
  • lễ khao lề thế lính
  • Lý Sơn

Thiên nhiên & Mùa

Cổng Tò Vò

Vòm đá bazan dài khoảng 9 m ở bờ tây đảo Lớn Lý Sơn, do dung nham núi lửa và sóng biển tạo thành, là di tích quốc gia từ tháng 9/2025.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Cổng Tò Vò là một trong những biểu tượng du lịch và điểm check-in nổi tiếng khi du khách đặt chân đến đặc khu Lý Sơn. Vòm đá nằm ở bờ biển phía tây đảo Lớn, gần núi Giếng Tiền và chùa Đục. Ngày 9/9/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xếp hạng danh lam thắng cảnh Cổng Tò Vò là di tích quốc gia, với khu vực bảo vệ khoảng 26.000 m², ghi nhận giá trị cảnh quan và di sản địa chất của vùng biển đảo tiền tiêu.

Cổng Tò Vò hình thành hoàn toàn tự nhiên, không có sự can thiệp của bàn tay con người. Dung nham từ núi lửa Giếng Tiền tạo nên một tầng đá bazan dày tại đây. Về sau tầng đá bị phá vỡ, sóng biển trong thời kỳ biển tiến mài mòn dần lớp đá ở giữa vốn gắn kết yếu hơn lớp trên, để lại một lỗ rỗng. Vòm đá ngày nay dài khoảng 9 m, cao khoảng 2,5 m; tên gọi bắt nguồn từ hình dáng lỗ rỗng giống tổ con tò vò.

Thời điểm được nhiều du khách chọn để ngắm Cổng Tò Vò là hoàng hôn. Cổng quay về hướng tây nên khi mặt trời lặn xuống biển, du khách đứng ở bãi phía trong có thể nhìn mặt trời qua vòm đá; đây cũng là giờ đông khách nhất. Từ tháng 1 đến đầu tháng 4, thềm đá bazan quanh cổng phủ rêu xanh. Từ khu vực này còn nhìn thấy đảo Bé và hòn Đụn ngoài khơi.

Du khách lưu ý: từ ngày 14/4/2026, UBND đặc khu Lý Sơn yêu cầu không leo trèo, không đứng trên vòm đá và đã cắm biển cảnh báo, vì mặt đá trơn trượt, gồ ghề dễ gây tai nạn và tải trọng lặp lại có thể làm yếu kết cấu đá. Cổng Tò Vò chỉ nên ngắm và chụp ảnh từ bãi đá, bãi cát bên dưới.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm và chụp ảnh vòm đá từ bãi biển
  • Ngắm hoàng hôn qua vòm đá
  • Xem thảm rêu trên thềm bazan mùa tháng 1 đến tháng 4
  • Tìm hiểu địa chất núi lửa Giếng Tiền

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • danh lam thắng cảnh
  • vòm đá bazan
  • núi lửa
  • hoàng hôn
  • Lý Sơn

Không gian di sản

Di tích văn hóa Sa Huỳnh

Sáu điểm di tích quốc gia đặc biệt quanh đầm An Khê, nơi phát hiện mộ chum năm 1909 làm nên tên gọi Văn hóa Sa Huỳnh, có nhà trưng bày 700 hiện vật.

Sa Huỳnh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Di tích văn hóa Sa Huỳnh nằm quanh đầm An Khê, nơi đón khách chính là Nhà trưng bày Văn hóa Sa Huỳnh ở phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là nơi lưu dấu một nền văn hóa khảo cổ thời đại kim khí: di tích Long Thạnh thuộc sơ kỳ đồng thau có niên đại trên 3.000 năm, các khu mộ chum khoảng 2.500 đến 3.000 năm trước. Năm 1909, nhà khảo cổ người Pháp M. Vinet phát hiện những khu mộ chum đầu tiên tại đây, mở đầu cho quá trình nghiên cứu về Văn hóa Sa Huỳnh. Quảng Ngãi được xem là cái nôi của nền văn hóa này.

Điểm nổi bật là những khu mộ chum cùng các hiện vật như đồ gốm, công cụ bằng sắt, đồ trang sức bằng đá, mã não và thủy tinh. Di tích gồm sáu điểm: Long Thạnh (Gò Ma Vương), Phú Khương, Thạnh Đức, quần thể di tích Chăm Pa, đầm An Khê, lạch An Khê và sông Cửa Lỗ. Phần lớn di tích là di chỉ nằm trong lòng đất, các tháp Chăm chỉ còn phế tích nền đế, nên thứ du khách nhìn thấy được chủ yếu là khoảng 700 hiện vật, hình ảnh, tài liệu trong nhà trưng bày và hố khai quật phục dựng 16 mộ táng ở Gò Ma Vương. Du khách có thể kết hợp tìm hiểu dấu tích khảo cổ với cảnh quan đầm nước và vùng cát ven biển.

Ngày 29/12/2022, Di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Khám phá nơi đây giúp du khách hình dung về đời sống, tín ngưỡng mai táng, nghề thủ công và hoạt động giao lưu của cư dân cổ miền Trung. Đây là điểm đến phù hợp để tìm hiểu một lớp văn hóa tiền sử quan trọng của khu vực.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan Nhà trưng bày Văn hóa Sa Huỳnh
  • Xem mộ chum và đồ tùy táng
  • Xem hố khai quật phục dựng ở Gò Ma Vương
  • Ngắm đầm An Khê

Từ khóa

  • di tích quốc gia đặc biệt
  • khảo cổ
  • Văn hóa Sa Huỳnh
  • mộ chum
  • đầm An Khê
  • Chăm Pa
  • Sa Huỳnh

Thiên nhiên & Mùa

Gành Yến

Gành đá núi lửa xếp lớp bên làng chài Thanh Thủy, xã Vạn Tường, nơi rạn san hô ven bờ lộ khỏi mặt nước khi thủy triều rút sâu.

Vạn Tường, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Gành Yến nằm bên làng chài thôn Thanh Thủy, xã Vạn Tường, là một gành đá núi lửa ven biển của Quảng Ngãi. Tương truyền trước đây các hốc đá ở gành là nơi trú của những loài chim như yến, én, sáo, nên có tên gọi này. Khung cảnh nơi đây gây ấn tượng bởi những phiến đá đen, nâu, xám xếp lớp thành vách và bãi đá vươn ra biển; phía nam gành có những lũy đá dựng đứng cao chừng 30 m.

Nét riêng của Gành Yến là rạn san hô nằm ngay sát bờ. Vào những ngày thủy triều rút sâu, một thềm san hô muôn hình vạn trạng sẽ từ từ lộ diện ngay trên mặt nước, trông như một thảm hoa lớn. Cảnh này thường xuất hiện vào các ngày đầu và giữa tháng âm lịch, trong khoảng tháng 3 đến tháng 7 âm lịch, và rõ nhất vào chiều muộn khi triều xuống sâu. Ngoài những ngày đó, du khách vẫn xem được vách đá và bãi đá.

Đến đây, du khách đứng trên bờ hoặc trên đá là ngắm và chụp ảnh được san hô, không cần lặn. Du khách cũng có thể dạo bước trên bãi đá hình thành từ hoạt động núi lửa hàng triệu năm trước, xem thuyền thúng của dân chài, ruộng hành tỏi sát biển và nhìn thấy đảo Lý Sơn vào ngày trời quang. Xin đừng giẫm lên hay chạm tay vào san hô: năm 2020 nhiều người đã giẫm đạp, bẻ san hô mang về, khiến chính quyền xã phải đặt biển báo, cử người hướng dẫn và thông báo mức phạt với hành vi hủy hoại rạn. Người dân địa phương đã lập tổ cộng đồng bảo vệ hệ sinh thái rạn san hô Gành Yến, năm 2024 khai trương điểm chụp ảnh có cầu gỗ ra biển, bè nổi và xích đu.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm rạn san hô từ trên bờ lúc thủy triều rút
  • Đi bộ trên bãi đá và dọc vách đá núi lửa
  • Ngắm đảo Lý Sơn và ruộng hành tỏi sát biển
  • Chụp ảnh tại tiểu cảnh của tổ cộng đồng

Từ khóa

  • gành đá
  • đá núi lửa
  • rạn san hô
  • thủy triều
  • làng chài
  • Vạn Tường

Thiên nhiên & Mùa

Hồ núi lửa Thới Lới

Hồ chứa nước ngọt duy nhất của đảo Lý Sơn, dung tích hơn 271.000 m3, nằm trong lòng miệng núi lửa Thới Lới và đưa vào sử dụng từ năm 2012.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Hồ núi lửa Thới Lới nằm trên núi Thới Lới, ngọn núi lửa lớn nhất và cao nhất của đảo Lớn, thuộc đặc khu Lý Sơn. Nơi đây vốn là miệng của một núi lửa đã tắt, theo Viện Địa chất phun nổ cách nay khoảng 1 triệu năm. Từ tháng 1/2020, núi Thới Lới được xếp hạng di tích quốc gia loại hình danh lam thắng cảnh.

Điểm độc đáo của địa danh này là lòng chảo miệng núi lửa đã được tận dụng, cải tạo thành một hồ chứa nước ngọt. Tỉnh Quảng Ngãi xây con đập dài 202 m, cao 11 m ở phía nam để giữ nước mưa; hồ đưa vào sử dụng từ tháng 5/2012, dung tích hơn 271.000 m³ và là hồ chứa nước duy nhất của đảo. Đi dọc bờ miệng núi lửa, du khách nhìn xuống lòng hồ hình phễu, mặt nước đổi màu theo giờ trong ngày; bờ đông có hòn Trâu, khối đá nghiêng hình con trâu nằm. Tuy vậy, hồ mới đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu nước của đảo: ruộng hành tỏi dưới chân núi chủ yếu vẫn tưới bằng nước từ hơn 2.100 giếng. Mực nước hồ thay đổi theo mùa, và năm 2026 hồ đang được sửa chữa, nâng cấp để khắc phục bồi lắng.

Đứng từ đỉnh Thới Lới, du khách có thể nhìn gần trọn đảo Lớn với làng mạc, ruộng hành tỏi và biển. Đường lên núi xuất phát từ cánh đồng tỏi phía đông, vòng qua sườn bắc tới trảng đất bằng ở lưng chừng núi, nơi có cột cờ Lý Sơn, rồi lên tới bờ hồ; du khách đi được bằng xe máy hoặc ô tô. Từ trảng cỏ phía bắc còn nhìn xuống được vách đá Hang Câu sát biển. Vách đá núi lửa, thảm cỏ, cột cờ và biển là những khung hình du khách thường chụp ở đây.

Có gì để trải nghiệm

  • Lên đỉnh núi Thới Lới bằng xe máy hoặc ô tô
  • Đi dọc bờ miệng núi lửa ngắm lòng hồ
  • Ngắm toàn cảnh đảo Lớn, ruộng hành tỏi và biển
  • Ghé cột cờ Lý Sơn ở lưng chừng núi

Từ khóa

  • miệng núi lửa
  • hồ chứa nước
  • di tích quốc gia
  • núi Thới Lới
  • toàn cảnh đảo
  • Lý Sơn

Không gian di sản

Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định

Di tích quốc gia dưới chân núi Đầu Voi, xã Tịnh Khê, nơi thờ và trưng bày tư liệu về Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định tại quê nội của ông.

Tịnh Khê, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định nằm dưới chân núi Đầu Voi, thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi, được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 27/2/2023. Đây là nơi phụng thờ Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định (1820–1864), người con của quê hương núi Ấn sông Trà, sinh ra tại làng Tư Cung và đã có công lớn dẫn dắt phong trào chống thực dân Pháp ở Nam Bộ vào thế kỷ 19.

Sau khi ông mất, triều đình Huế cho dựng đền thờ ở làng Tư Cung; ngôi đền ấy bị hư hại rồi mất hẳn do thời gian và chiến tranh. Đền hiện nay do tỉnh Quảng Ngãi xây lại vào đầu thế kỷ 21, trên khuôn viên 26.668 m², mặt quay về hướng bắc. Từ cổng tam quan, du khách lên các bậc cấp để tới sân và chánh điện. Đền có ba khu chính: chánh điện thờ linh vị Trương Định, khu tiếp khách và khu trưng bày với gần 50 ảnh tư liệu, hơn 40 hiện vật cùng hàng chục tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của ông, trong đó có súng và kiếm gắn với trận đánh năm 1862.

Viếng đền thờ Trương Định là dịp để du khách tìm hiểu về người đã ở lại kháng chiến sau hòa ước năm 1862 và tuẫn tiết ngày 20/8/1864. Hằng năm, lễ tưởng niệm ngày ông mất được tổ chức tại đền vào quanh ngày 20/8 dương lịch. Đây là một "địa chỉ đỏ" cho những ai yêu thích lịch sử, văn hóa muốn thắp nén hương tưởng nhớ ông tại quê nội. Đền ở Quảng Ngãi không có lăng mộ; mộ Trương Định nằm ở Gò Công, Nam Bộ. Khu chứng tích Sơn Mỹ nằm cùng xã Tịnh Khê, du khách có thể ghé trong cùng chuyến đi.

Có gì để trải nghiệm

  • Thắp hương tại chánh điện thờ Trương Định
  • Xem khu trưng bày ảnh tư liệu, hiện vật
  • Dự lễ tưởng niệm ngày 20/8
  • Ghép tuyến với Khu chứng tích Sơn Mỹ cùng xã

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • đền thờ
  • Trương Định
  • Bình Tây Đại nguyên soái
  • Tịnh Khê
  • làng Tư Cung

Bảo tàng

Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ

Bảo tàng ở xã Ba Tơ lưu giữ hơn 260 hiện vật, hình ảnh, tư liệu và sa bàn về cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11/3/1945 và Đội du kích Ba Tơ.

Ba Tơ, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ nằm tại khu vực Ba Tơ, Quảng Ngãi, được xây dựng năm 1984 nhằm lưu giữ và giới thiệu những tư liệu, hiện vật gắn với cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ và Đội du kích Ba Tơ. Cuộc khởi nghĩa diễn ra ngày 11/3/1945, là một sự kiện quan trọng trong phong trào cách mạng ở Quảng Ngãi trước Cách mạng tháng Tám. Quần thể các địa điểm liên quan đến Khởi nghĩa Ba Tơ và Đội du kích Ba Tơ được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa quốc gia năm 1980 và đến năm 2017, Di tích lịch sử Địa điểm về cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

Tham quan bảo tàng, du khách có thể tìm hiểu về bối cảnh lịch sử dẫn đến cuộc khởi nghĩa, quá trình hình thành và hoạt động của Đội du kích Ba Tơ cùng những dấu mốc quan trọng của phong trào cách mạng tại địa phương. Hệ thống tư liệu, hình ảnh và hiện vật giúp câu chuyện về cuộc khởi nghĩa được tái hiện trực quan hơn, từ đó hiểu thêm vai trò của Ba Tơ trong lịch sử đấu tranh của Quảng Ngãi.

Bảo tàng là điểm dừng phù hợp trong hành trình khám phá Ba Tơ, đặc biệt với du khách quan tâm đến lịch sử và văn hóa địa phương. Từ đây, có thể kết hợp tham quan các địa điểm thuộc quần thể di tích Khởi nghĩa Ba Tơ để tìm hiểu câu chuyện lịch sử trong chính không gian đã diễn ra sự kiện. Quần thể di tích hiện gồm 11 điểm, trải rộng trên địa bàn Ba Tơ và đang được quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị gắn với giáo dục truyền thống và du lịch.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem sa bàn diễn biến cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ
  • Xem hiện vật, hình ảnh, tư liệu về Đội du kích Ba Tơ
  • Nghe thuyết minh về cuộc khởi nghĩa
  • Thăm tượng đài và các điểm di tích quanh bảo tàng

Từ khóa

  • bảo tàng
  • Khởi nghĩa Ba Tơ
  • Đội du kích Ba Tơ
  • di tích quốc gia đặc biệt
  • du lịch về nguồn
  • Ba Tơ

Thiên nhiên & Mùa

Đảo Bé

Đảo nhỏ 0,69 km2 cách đảo Lớn Lý Sơn khoảng 3 hải lý, có bãi Sau cát trắng, đá trầm tích núi lửa đen và rạn san hô gần bờ.

Lý Sơn, Quảng Ngãi · Nửa ngày đến 1 ngày, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Đảo Bé, còn gọi là đảo An Bình, thuộc đặc khu Lý Sơn, nằm cách đảo Lớn khoảng 3 hải lý, đi ca nô mất khoảng 10 đến 15 phút tùy thời tiết. Đảo chỉ rộng 0,69 km², có hơn 100 hộ dân sống bằng nghề biển và trồng hành, tỏi. Nơi đây được du khách và báo chí ví là "Maldives của Việt Nam"; đó là cách ví von, không phải một danh hiệu.

Sức hấp dẫn lớn nhất của Đảo Bé là làn nước biển trong, vào ngày nắng có thể nhìn thấy đáy. Bãi Sau là bãi nhỏ với cát trắng, nằm giữa những khối đá trầm tích núi lửa màu đen; bãi Dừa có mặt nước xanh, sóng nhẹ. Dạo quanh hòn đảo nhỏ, du khách đi qua những ruộng hành tỏi và chụp ảnh cùng các bức bích họa về thiên nhiên, ngư dân mà người dân vẽ lên những bức tường cũ trong làng chài.

Đến với Đảo Bé, du khách có thể ngồi thuyền thúng, chèo kayak hoặc SUP và lặn ngắm rạn san hô ngay gần bờ; khách ở lại qua đêm có thêm câu mực đêm, cắm trại. Các dịch vụ này do chính hộ dân trên đảo tổ chức. Tháng 4 đến tháng 8 trời nắng, ít mưa, biển lặng, là mùa thuận lợi để ra đảo.

Du khách nên biết trước vài điều. Đảo có ít cơ sở lưu trú và dịch vụ hơn đảo Lớn, chủ yếu là homestay, nhà nghỉ nhỏ, buổi tối ít hoạt động. Đảo gần như không có nước ngầm, nước ngọt rất hiếm nên chủ nhà thường đề nghị khách dùng tiết kiệm. Đoạn biển giữa hai đảo sóng khá lớn, người dễ say sóng cần chuẩn bị trước. Từ tháng 9 đến tháng 12 là mùa mưa bão, biển động, nhiều chuyến tàu tạm dừng.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm biển ở bãi Sau, bãi Dừa
  • Lặn ngắm san hô
  • Chèo SUP, kayak, đi thuyền thúng quanh đảo
  • Đi bộ quanh làng xem bích họa, ruộng hành tỏi
  • Câu mực đêm, cắm trại, nghỉ homestay

Từ khóa

  • đảo
  • biển
  • san hô
  • đá núi lửa
  • làng chài
  • Lý Sơn

Không gian di sản

Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa Bắc Hải

Nhà trưng bày ở trung tâm đảo Lý Sơn, giữ hơn 100 hiện vật, bản đồ, tư liệu về đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, phía trước là cụm tượng đài đá cao 4,5 m.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Nhà trưng bày Đội Hoàng Sa Bắc Hải nằm trên đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi, được xây dựng năm 2010 để lưu giữ và giới thiệu những tư liệu, hiện vật gắn với Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, cư dân vùng biển Quảng Ngãi, đặc biệt là Lý Sơn, đã tham gia các đội thuyền được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ trên vùng biển Hoàng Sa và Bắc Hải. Những hoạt động này được ghi lại trong nhiều tư liệu lịch sử và trở thành một phần quan trọng trong ký ức văn hóa của cư dân đảo.

Không gian trưng bày gồm hơn 100 hiện vật, cùng bản đồ, tư liệu cổ và các vật dụng gắn với những chuyến hải trình của đội Hoàng Sa. Nội dung được tổ chức theo ba chủ đề chính: quê hương của đội hùng binh Hoàng Sa, hoạt động của đội và sự tưởng niệm của người dân Lý Sơn, cùng các tư liệu về quá trình người Việt thực hiện và ghi nhận chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa. Trước khu trưng bày là cụm tượng đài mô phỏng những người lính Hoàng Sa trong chuyến đi biển.

Tham quan nơi đây, du khách có thể tìm hiểu về những chuyến hải trình đầy gian khó, đời sống của cư dân biển và truyền thống tưởng niệm những người lính Hoàng Sa qua **Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa** được người dân Lý Sơn duy trì hằng năm. Nhà trưng bày cũng là một điểm đến phù hợp để kết hợp với hành trình khám phá các giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan đặc trưng của đảo Lý Sơn.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem hơn 100 hiện vật, bản đồ, tư liệu về đội Hoàng Sa
  • Xem cụm tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải
  • Tìm hiểu hành trang đi biển của binh phu Hoàng Sa
  • Kết hợp thăm đình làng An Vĩnh, Âm Linh Tự

Từ khóa

  • nhà trưng bày
  • đội Hoàng Sa
  • chủ quyền biển đảo
  • tượng đài
  • Lý Sơn

Không gian di sản

Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Di tích quốc gia rộng hơn 47.000 m² tại quê nhà xã Mộ Đức, lưu giữ hơn 1.500 tài liệu, hiện vật, hình ảnh về cuộc đời Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Mộ Đức, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng nằm tại xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, trên quê hương của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Khu lưu niệm có diện tích khoảng 4,7 ha, được xây dựng từ năm 2006 và mở rộng vào năm 2015. Nơi đây hiện lưu giữ hơn 1.500 tài liệu, hình ảnh và hiện vật về cuộc đời, gia đình và sự nghiệp của ông, đồng thời được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2006.

Không gian khu lưu niệm gồm nhà đón khách, phòng chiếu phim, khu trưng bày tranh ảnh và hiện vật, cùng nhà thờ họ Phạm, nhà ở và khu mộ thân sinh của cố Thủ tướng. Hệ thống hiện vật giúp du khách hình dung nhiều giai đoạn trong cuộc đời ông, từ những hình ảnh về gia đình, quá trình hoạt động cách mạng đến thời gian đảm nhiệm các trọng trách của Nhà nước. Một số kỷ vật đời thường như xe đạp, radio, bàn ghế làm việc, trang phục và vật dụng cá nhân cũng được lưu giữ.

Đến đây, du khách có thể tham quan không gian tưởng niệm, tìm hiểu tư liệu và nghe thuyết minh về cuộc đời, sự nghiệp của một nhân vật lịch sử gắn với quê hương Quảng Ngãi. Khu lưu niệm cũng là điểm đến dành cho hoạt động giáo dục lịch sử, tìm hiểu truyền thống và tham quan văn hóa. Không gian nhiều cây xanh, hồ nước và cánh đồng xung quanh tạo nên khung cảnh yên bình, phù hợp để kết hợp với hành trình khám phá các điểm đến lịch sử, văn hóa tại Mộ Đức và Quảng Ngãi.

Có gì để trải nghiệm

  • Dâng hương tại nhà tưởng niệm
  • Xem phòng trưng bày tranh ảnh, hiện vật
  • Xem phim tư liệu tại phòng chiếu
  • Thăm nhà thờ họ Phạm, nhà ở và khu mộ thân sinh
  • Nghe thuyết minh viên giới thiệu

Từ khóa

  • di tích quốc gia
  • khu lưu niệm
  • Phạm Văn Đồng
  • Mộ Đức
  • du lịch về nguồn
  • nhân vật lịch sử

Thiên nhiên & Mùa

Mũi Ba Làng An

Mũi đá bazan ở xã Đông Sơn, có ngọn hải đăng cao hơn 36 m và dấu tích miệng núi lửa cổ rộng khoảng 30 m² nằm sát mép biển.

Đông Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Mũi Ba Làng An thuộc xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, là một mũi đất nhô ra biển ở phía đông bắc tỉnh. Tên gọi này được giải thích là do xưa quanh mũi có ba làng cùng mang chữ "An": An Hải, An Vĩnh và An Kỳ. Nơi đây gắn với các làng chài ven biển và nổi bật với ngọn hải đăng trụ tròn cao hơn 36 m, tầm chiếu sáng 17 hải lý, dẫn lối cho tàu thuyền ra vào cảng Sa Kỳ.

Điểm đáng xem nhất của Mũi Ba Làng An là cảnh quan địa chất núi lửa. Những vách đá trầm tích nham thạch màu đen, hình cánh cung do sóng bào mòn, chạy dọc bờ biển. Sát mép biển có dấu tích một miệng núi lửa cổ rộng khoảng 30 m²; lúc nước rút, lòng miệng núi lửa thành một hồ nước nhỏ, quanh là các lớp đá bazan và nham thạch xếp thành vòng gần tròn. Theo các nhà khoa học được VnExpress dẫn, địa chất vùng biển này kiến tạo từ hoạt động núi lửa cách nay 6 đến 11 triệu năm, và báo Lao Động ví nơi đây như một "bảo tàng đá".

Đến Ba Làng An, du khách có thể thong dong tản bộ trên bờ đá, hoặc leo gần 80 bậc thang lên đỉnh hải đăng để nhìn các ghềnh đá núi lửa nối nhau và, khi trời quang, thấy đảo Lý Sơn. Muốn thấy rõ miệng núi lửa và các tầng đá thì nên đi lúc nước ròng, vì khi nước lên sóng phủ kín ghềnh. Dưới chân ghềnh đá, người dân lặn bắt nhum, ốc, và du khách có thể ăn hải sản tại các làng chài ven biển. Đây là bờ đá, không phải bãi cát để tắm biển.

Có gì để trải nghiệm

  • Leo gần 80 bậc lên đỉnh hải đăng ngắm biển
  • Xem dấu tích miệng núi lửa cổ lúc nước rút
  • Đi bộ dọc các ghềnh đá bazan
  • Ăn hải sản tại làng chài ven biển

Từ khóa

  • mũi đất
  • đá núi lửa
  • hải đăng
  • miệng núi lửa cổ
  • Đông Sơn
  • Bình Châu

Lễ hội

Hội Dồi Bòng

Hội vui đầu xuân của làng An Hải trên đảo Lý Sơn, gắn với đình làng và câu ca "Mùng bốn có hội đua ghe, cho đến mùng bảy bắt phe dồi bòng".

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Hội Dồi Bòng là lễ hội dân gian mang tính thể thao độc đáo và sôi động bậc nhất tại làng An Hải, huyện đảo Lý Sơn. Tổ chức vào dịp Tết Nguyên đán hàng năm, sự kiện thu hút đông đảo người dân địa phương và lữ khách thập phương đến chung vui. Bầu không khí tại bãi biển những ngày này luôn rộn vang tiếng trống giục và tiếng reo hò cổ vũ cuồng nhiệt, tạo nên một khởi đầu năm mới tràn đầy sinh lực trên hòn đảo tiền tiêu.

Điểm nhấn của lễ hội nằm ở trái bòng thi đấu được đẽo gọt tỉ mỉ từ gốc rễ cây dứa dại, to cỡ quả bưởi và cực kỳ dẻo dai. Thanh niên trai tráng trong làng sẽ cởi trần, chia làm hai phe thi đấu trực tiếp trên bãi cát mịn. Họ phải vận dụng sức mạnh, sự linh hoạt cùng chiến thuật đồng đội để tranh cướp bòng, sau đó tìm cách ném trúng vào hố cát của phe đối phương. Những pha bứt tốc, giằng co nảy lửa giữa các đội chơi luôn mang đến sự phấn khích tột độ cho người xem.

Hội Dồi Bòng không đơn thuần là một trò chơi giải trí đầu xuân mà còn ẩn chứa ý nghĩa lịch sử vô cùng sâu sắc. Lễ hội này mô phỏng lại quá trình rèn luyện thể lực khắc nghiệt của đội hùng binh Hoàng Sa thuở xưa trước khi rẽ sóng ra khơi. Hòa mình vào lễ hội, du khách sẽ cảm nhận trọn vẹn tinh thần thượng võ kiên cường của cư dân miền biển, đồng thời cùng cầu chúc cho một năm mới mưa thuận gió hòa, lưới nặng trĩu cá tôm.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem hội dồi bòng đầu xuân của làng An Hải
  • Xem chuỗi hội Tết quanh đình làng An Hải
  • Hỏi chuyện hội làng với ban khánh tiết đình

Từ khóa

  • lễ hội
  • trò chơi dân gian
  • Lý Sơn
  • làng An Hải
  • Tết Nguyên đán

Thiên nhiên & Mùa

Núi Cà Đam

Dãy núi cao hơn 1.400 m quanh năm mây phủ ở xã Cà Đam, sách xưa gọi núi Vân Phong, được người Cor coi là núi chúa sinh ra các ngọn núi khác.

Cà Đam, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Núi Cà Đam thuộc xã Cà Đam, phía tây tỉnh Quảng Ngãi, là dãy núi cao hơn 1.400 m mà sách xưa gọi là núi Vân Phong. Cảnh "Vân Phong túc vũ", nghĩa là mưa đêm ở núi Vân, có trong chùm thơ vịnh mười cảnh đẹp Quảng Ngãi của danh sĩ Nguyễn Cư Trinh. Khí hậu trên núi mát, nhiệt độ trung bình khoảng 20°C, ban đêm ở thôn Quế dưới sườn núi khoảng 17 đến 18°C. Chóp núi thường lẫn trong mây, buổi chiều sương giăng kín, nên Cà Đam được cơ quan du lịch tỉnh nhắc đến như một điểm săn mây.

Đường lên Cà Đam đi qua nhiều đèo dốc quanh co, giữa rừng tự nhiên, rẫy quế, đồi chè và các xóm nhà của người Cor. Với đồng bào Cor, Cà Đam là núi "chúa", là núi ông, núi bà sinh ra các ngọn núi khác, và phần lớn truyền thuyết, chuyện kể của người Cor đều nhắc đến ngọn núi này. Theo lãnh đạo địa phương, rừng Cà Đam còn giữ được là nhờ địa hình núi cao và luật tục giữ rừng thiêng, núi cấm của người Cor. Trên núi có thác Ba Tầng chảy quanh năm.

Đến với núi Cà Đam, du khách ngắm mây và rừng từ sườn núi, đi đường núi qua rẫy quế, đồi chè, ghé thác Ba Tầng. Rừng nơi đây có lá gấm, sâm bảy lá, chè cổ thụ, quế và nhiều cây thuốc. Hiện chưa có tuyến đi bộ lên đỉnh nào được công bố, cũng chưa có cơ sở lưu trú trên núi được công bố chính thức. Mùa mưa đường vào thường sạt lở, lầy lội, nên chuyến đi hợp với mùa khô.

Có gì để trải nghiệm

  • Ngắm mây và rừng trên dãy Cà Đam
  • Đi đường núi qua rẫy quế, đồi chè
  • Ghé thác Ba Tầng
  • Thăm làng người Cor ở thôn Quế

Từ khóa

  • núi
  • săn mây
  • Cà Đam
  • Vân Phong
  • người Cor
  • quế Trà Bồng
  • rừng tự nhiên

Không gian di sản

Chùa Đục (Đỉnh Liêm Tự)

Ngôi chùa khởi công năm 2008 trên sườn núi lửa Giếng Tiền, đảo Lý Sơn, có ba am thờ trong hang đá, 139 bậc đá và tượng Quan Thế Âm cao gần 30 m nhìn ra biển.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Chùa Đục, còn gọi là Đỉnh Liêm Tự hay “Chùa Không Sư”, nằm trên sườn núi Giếng Tiền, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Tựa lưng vào núi, hướng ra biển, chùa được người dân địa phương chăm nom và hương khói từ khi xây dựng năm 2008. Tên gọi “Chùa Không Sư” bắt nguồn từ việc nơi đây không có sư trụ trì thường xuyên, các hoạt động tín ngưỡng chủ yếu do cư dân đảo đảm nhận, còn những nghi lễ lớn có chư tăng từ các ngôi chùa khác đến tổ chức.

Điểm đặc biệt của Chùa Đục nằm ở sự kết hợp giữa không gian thờ tự và địa hình núi lửa tự nhiên. Con đường lên chùa gồm 139 bậc đá men theo sườn núi, dẫn đến ba am thờ nằm trong các hang đá tự nhiên. Động chính thờ Phật Tổ Như Lai, Địa Tạng Bồ Tát và vị tổ khai sơn. Phía trước chùa là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cao gần 30 m, hướng mặt ra biển, gắn với quan niệm của cư dân đảo về sự che chở và bình an cho người đi biển.

Đến Chùa Đục, du khách có thể tham quan các không gian thờ tự trong hang đá, dâng hương và tìm hiểu đời sống tín ngưỡng của cư dân Lý Sơn. Từ khu vực chùa và đỉnh Liêm Tự, có thể phóng tầm mắt ra biển, đảo Bé, những cánh đồng trên đảo và miệng núi lửa Giếng Tiền. Năm 2015, Chùa Đục được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh; năm 2020, thắng cảnh miệng núi lửa Giếng Tiền được xếp hạng di tích quốc gia.

Có gì để trải nghiệm

  • Leo 139 bậc đá lên các am thờ trong hang
  • Dâng hương ở động chính và tượng Quan Thế Âm
  • Ngắm biển, đảo Bé từ sân tượng
  • Xem vách đá nham thạch núi Giếng Tiền

Từ khóa

  • chùa trong hang đá
  • núi lửa Giếng Tiền
  • tượng Quan Thế Âm
  • di tích cấp tỉnh
  • Lý Sơn

Phong tục & Nghi thức

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa

Nghi lễ tháng 2, tháng 3 âm lịch của các tộc họ Lý Sơn: cúng thế mạng và tưởng niệm lính Đội Hoàng Sa, thả thuyền hình nhân ra biển, di sản phi vật thể quốc gia.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là nghi lễ tín ngưỡng thiêng liêng và mang đậm dấu ấn lịch sử bậc nhất trên huyện đảo Lý Sơn. Được tổ chức vào tháng Hai và tháng Ba Âm lịch hàng năm, lễ hội này tựa như một bản hùng ca bi tráng tưởng nhớ công ơn của đội hùng binh năm xưa. Không gian buổi lễ luôn bao trùm sự thành kính, đưa du khách ngược dòng thời gian để sống lại những trang sử hào hùng của dân tộc nơi đầu sóng ngọn gió.

Điểm nhấn độc đáo và xúc động nhất của lễ hội chính là nghi thức "thế lính" mang đậm màu sắc huyền bí. Xưa kia, biển cả chốn Hoàng Sa vô cùng dữ dội, người đi muôn vàn gian nan. Do đó, người dân Lý Sơn đã sáng tạo ra nghi lễ làm hình nhân bằng cốt tre, giấy dán, đặt lên chiếc thuyền mộc mạc cùng các vật tế phẩm. Thầy pháp sẽ làm phép để những hình nhân này gánh vác tai ương, thế mạng cho các hùng binh trước khi thả trôi ra đại dương, cầu mong sự bình an trở về.

Tham dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, du khách sẽ được chìm đắm trong một không gian di sản văn hóa phi vật thể vô giá. Tiếng ốc u trầm hùng và tiếng trống giục giã hòa cùng khói nhang nghi ngút chắc chắn sẽ làm thổn thức mọi trái tim. Đây là dịp tuyệt vời để thấu hiểu tinh thần bám biển kiên cường và ý chí bảo vệ chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của bà con vùng đảo.

Có gì để trải nghiệm

  • Dự lễ tế và nghe văn tế tại đình làng An Vĩnh
  • Xem nghi thức rước, thả thuyền hình nhân ra biển
  • Dâng hương tưởng niệm lính Đội Hoàng Sa
  • Xem hội đua thuyền tứ linh sau phần lễ

Từ khóa

  • nghi lễ
  • Hoàng Sa
  • Lý Sơn
  • di sản phi vật thể quốc gia
  • đình làng An Vĩnh
  • tín ngưỡng biển

Chợ địa phương

Chợ hải sản Sa Huỳnh

Bến cá ở cảng cá Sa Huỳnh, nơi đội tàu hơn 1.200 chiếc của phường Sa Huỳnh cập bờ bán hải sản cho thương lái và các cơ sở phơi, chế biến.

Sa Huỳnh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Chợ hải sản Sa Huỳnh là cách gọi nơi mua bán hải sản tại cảng cá Sa Huỳnh, bên cửa biển Sa Huỳnh thuộc phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là bến cá bán buôn giữa chủ tàu với thương lái, đại lý thu mua, khác với chợ dân sinh bán lẻ. Phường Sa Huỳnh có 1.237 tàu cá, sản lượng khai thác năm 2025 hơn 62.000 tấn. Cảng nằm cùng phường với biển Sa Huỳnh, đồng muối và Nhà trưng bày Văn hóa Sa Huỳnh.

Đến với chợ hải sản Sa Huỳnh, du khách xem tàu cá ra vào cửa biển, cập bến, rồi xem cảnh bốc dỡ, phân loại, cân bán hải sản. Khu vực nhiều tàu cập bến bán hải sản kéo dài hơn 500 m từ cầu Thạnh Đức đến cảng cá. Tàu về theo con nước và chuyến biển nên giờ mua bán không cố định. Theo báo chí các năm trước, đầu năm tàu về thường có cá cơm và ruốc, còn mùa cá ngừ đại dương từ tháng 3 đến tháng 8.

Hải sản từ cảng còn là nguyên liệu của làng phơi thủy sản Sa Huỳnh, nơi cá, mực được sơ chế rồi phơi trên giàn thành mực một nắng, cá khô, mực khô; mùa phơi từ tháng 5 đến tháng 12 âm lịch. Mùng 3 Tết hằng năm, phường tổ chức Lễ hội ra quân nghề cá tại cửa biển. Việc bán lẻ cho khách vãng lai tùy thỏa thuận với người bán. Đây là cảng cá đang hoạt động, nền ướt, có mùi cá, có xe và người bốc dỡ, chưa có quầy hàng hay hàng ăn dành cho du khách.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem tàu cá cập bến, bốc dỡ và mua bán hải sản
  • Xem giàn phơi mực, phơi cá
  • Xem lễ hội ra quân nghề cá mùng 3 Tết

Từ khóa

  • cảng cá
  • chợ hải sản
  • nghề biển
  • mực một nắng
  • Sa Huỳnh

Chợ địa phương

Chợ cá Sa Kỳ

Bến cá ở cửa Sa Kỳ, xã Đông Sơn, nơi tàu đánh bắt từ Hoàng Sa, Trường Sa cập bến bán cá cho thương lái, cạnh cảng tàu đi Lý Sơn.

Đông Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Chợ cá Sa Kỳ là cách gọi cảnh mua bán hải sản ngay trên bến của cảng cá Sa Kỳ, ở cửa Sa Kỳ thuộc xã Đông Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đây không phải một ngôi chợ có nhà lồng, sạp hàng mà là bến cá đầu mối, nơi tàu đánh bắt xa bờ từ ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa cập bến bán cá cho thương lái. Sát bên là cảng Sa Kỳ, nơi tàu khách xuất bến đi đảo Lý Sơn.

Bến không họp theo giờ cố định mà theo giờ tàu về. Các bài báo ghi cảnh mua bán vào buổi sáng, riêng những ngày cận Tết Nguyên đán tàu ra vào tấp nập từ sáng sớm đến chiều muộn. Khi tàu cập bến, các sọt cá được chuyển từ khoang tàu lên bờ để phân loại, cân, ướp đá, đóng thùng rồi chất lên xe tải, xe đông lạnh chờ sẵn. Các loại cá thường thấy là cá nục, cá chuồn, cá ngừ, cá thu, cá đỏ củ, cá mú, cá dũa. Sau mỗi chuyến biển kéo dài khoảng ba tuần đến một tháng, tàu lại nhận nước đá, lương thực, nhiên liệu cho chuyến sau.

Đến với chợ cá Sa Kỳ, du khách được xem nhịp làm việc của ngư dân, thương lái và những người bốc cá, phân loại, ướp đá trên bến. Mua bán ở đây chủ yếu là thương lái thu mua theo sọt, theo tấn; du khách muốn mua lẻ nên hỏi trực tiếp người bán. Vì là nơi mưu sinh, du khách đứng gọn một bên, không chắn lối khiêng sọt và hỏi trước khi chụp ảnh cận cảnh.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem tàu cá cập bến, chuyển cá lên bờ
  • Xem phân loại, cân, ướp đá hải sản
  • Hỏi mua hải sản vừa cập bến
  • Ghé trước hoặc sau chuyến tàu đi Lý Sơn

Từ khóa

  • bến cá
  • cảng cá
  • hải sản
  • nghề cá xa bờ
  • Sa Kỳ
  • Đông Sơn

Không gian di sản

Chùa Hang (Thiên Khổng Thạch Tự)

Ngôi chùa nằm trọn trong hang đá rộng 480 m2 dưới chân núi lửa Thới Lới, đảo Lý Sơn, nhiều thế kỷ không có sư trụ trì, do người dân đảo thay nhau chăm nom.

Lý Sơn, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Chùa Hang Lý Sơn, còn gọi là Thiên Khổng Thạch Tự, nằm trong một hang đá núi lửa trên núi Thới Lới, đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Với lịch sử hơn 400 năm, nơi đây từng là không gian thờ tự của cư dân Chăm trước khi trở thành một ngôi chùa Phật giáo của người Việt. Hang có diện tích khoảng 480 m², sâu 24 m, rộng 20 m và trần cao khoảng 3,2 m, tạo nên không gian thờ tự đặc biệt giữa lòng núi lửa.

Bên trong chùa thờ Phật A Di Đà, Như Lai, Di Lặc, tổ sư Đạt Ma cùng các bậc tiền hiền khai lập làng An Hải. Sân chùa hướng ra biển, có hồ sen, tượng Phật và những cây bàng vuông lâu năm. Không gian trong hang kết hợp giữa địa hình núi lửa tự nhiên với dấu ấn tín ngưỡng của cư dân đảo, tạo nên một điểm đến có giá trị cả về cảnh quan và văn hóa. Năm 1994, Chùa Hang được công nhận là thắng cảnh cấp quốc gia.

Đến Chùa Hang, du khách có thể men theo lối đá xuống lòng hang, tham quan không gian thờ tự, chiêm bái và ngắm cảnh biển từ sân chùa. Hằng năm, nơi đây diễn ra các lễ như Tết Nguyên đán, Vu Lan, Phật Đản và lễ giỗ các bậc tiền hiền, thu hút người dân địa phương đến hành lễ. Chùa Hang cũng có thể kết hợp trong hành trình khám phá các điểm đặc trưng của Lý Sơn như núi Thới Lới, Hang Câu, Cổng Tò Vò và Chùa Đục.

Có gì để trải nghiệm

  • Theo bậc đá xuống hang, tham quan không gian thờ
  • Dâng hương, chiêm bái
  • Ngắm biển, hàng bàng cổ thụ ở sân chùa
  • Xem vách đá trầm tích núi lửa Thới Lới

Từ khóa

  • chùa trong hang đá
  • núi lửa Thới Lới
  • di tích quốc gia
  • dấu tích Chăm
  • Lý Sơn

Thiên nhiên & Mùa

Biển Mỹ Khê

Bãi biển trên doi cát dài khoảng 7 km ở xã Tịnh Khê, phía sau là hàng phi lao và sông Kinh, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 12 km.

Tịnh Khê, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Biển Mỹ Khê thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi, cách trung tâm Quảng Ngãi khoảng 12 km. Đây không phải bãi biển cùng tên ở Đà Nẵng. Mỹ Khê Quảng Ngãi trải trên một doi cát hẹp dài khoảng 7 km, một bên là biển, một bên là sông Kinh, và chủ yếu phục vụ nhu cầu tắm biển, vui chơi của người dân địa phương.

Đặt chân đến đây, du khách gặp dải cát trắng thoai thoải, nước nông gần bờ và rặng phi lao chạy dọc phía trong bãi. Du lịch ở Mỹ Khê chưa phát triển mạnh, nhưng bãi không vắng: khung giờ đông người tắm nhất là 16 đến 18 giờ hằng ngày, và dịp lễ có hàng nghìn người cùng tắm.

Đến với biển Mỹ Khê, du khách có thể tắm biển, đi dạo trên bờ cát dưới hàng dương, xem ngư dân làng chài Cổ Lũy kéo lưới, đưa thuyền thúng ra vào, rồi ăn các món địa phương ở hàng quán quanh bãi. Mùa phù hợp là từ tháng 5 đến tháng 8, khi trời trong, biển êm.

Đáy biển thoải nhưng bãi vẫn có dòng chảy xoáy cuốn ra xa bờ; trong hai ngày 30/4 và 1/5/2025, tổ quản lý bãi biển đã cứu 11 người bị sóng cuốn. Theo khuyến cáo của lực lượng chức năng được Báo Văn Hóa dẫn, du khách chỉ tắm trong vùng có phao, nơi có người cứu hộ trực, không tắm khi có biển cấm lúc biển động, không tắm ban đêm và theo sát trẻ nhỏ.

Có gì để trải nghiệm

  • Tắm biển trong vùng phao an toàn
  • Đi dạo trên bãi cát dưới hàng dương
  • Xem ngư dân Cổ Lũy kéo lưới gần bờ
  • Ăn món địa phương ở hàng quán quanh bãi

Từ khóa

  • bãi biển
  • tắm biển
  • phi lao
  • sông Kinh
  • làng chài Cổ Lũy
  • Tịnh Khê

Làng nghề

Làng hoa Nghĩa Hà

Vùng trồng hoa lay ơn bên bờ nam sông Trà Khúc, xuống giống tháng 10 âm lịch, cắt hoa bán Tết vào tháng Chạp, có cánh đồng hoa đón khách.

An Phú, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng hoa Nghĩa Hà nằm tại khu vực Nghĩa Hà, Quảng Ngãi, là vùng trồng hoa có truyền thống lâu đời của địa phương. Toàn khu vực có hơn 40 ha trồng hoa, trong đó khoảng 10 ha được quy hoạch thành vùng chuyên canh. Các loại hoa phổ biến gồm lay ơn, huệ, đồng tiền, hoàng anh, cúc và một số giống hoa hồng ngoại. Nghề trồng hoa đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng của nhiều hộ dân nơi đây.

Đến làng hoa, du khách có thể dạo giữa những khu trồng hoa, tìm hiểu công việc chăm sóc và thu hoạch của người dân, đồng thời chụp ảnh giữa không gian nhiều màu sắc. Vào dịp Tết, làng hoa trở nên nhộn nhịp hơn khi người dân chuẩn bị các loại hoa phục vụ thị trường. Một số khu vực được đầu tư nhà lồng, tiểu cảnh và mở cửa đón khách tham quan, tạo thêm trải nghiệm gắn với đời sống sản xuất nông nghiệp địa phương.

Làng hoa Nghĩa Hà đang được định hướng phát triển gắn với du lịch cộng đồng và du lịch nông nghiệp. Điểm đến phù hợp với những du khách yêu thích không gian làng quê, muốn tìm hiểu nghề trồng hoa và trải nghiệm nhịp sống sản xuất của người dân Quảng Ngãi. Thời điểm tham quan nên được cân nhắc theo mùa vụ, đặc biệt nếu muốn ngắm những cánh đồng hoa rực rỡ vào dịp Tết.

Có gì để trải nghiệm

  • Xem ruộng lay ơn vào vụ Tết
  • Chụp ảnh tại cánh đồng hoa thôn Bình Đông
  • Mua hoa trực tiếp của người trồng
  • Tìm hiểu cách trồng và canh ngày hoa nở

Từ khóa

  • làng hoa
  • hoa lay ơn
  • hoa Tết
  • du lịch nông nghiệp
  • An Phú
  • sông Trà Khúc

Làng cộng đồng

Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Làng chài hơn 80 hộ trên đồi đá ven biển Sa Huỳnh, còn giếng đá và đường đá cổ, đạt OCOP 3 sao về du lịch cộng đồng từ tháng 12/2020.

Sa Huỳnh, Quảng Ngãi

Câu chuyện

Làng du lịch cộng đồng Gò Cỏ nằm tại phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi, trong không gian văn hóa Sa Huỳnh ven biển. Ngôi làng có diện tích khoảng 105 ha, lưu giữ nhiều dấu tích gắn với các lớp văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa và Đại Việt. Những con đường đá, giếng cổ, tường đá cùng những ngôi nhà mộc mạc tạo nên không gian làng quê ven biển đặc trưng.

Đến Gò Cỏ, du khách có thể đi bộ khám phá đường làng, tìm hiểu những dấu tích văn hóa cổ và trải nghiệm đời sống cùng cộng đồng địa phương. Các hoạt động trải nghiệm gồm đan lát, nấu ăn, làm nông, thưởng thức ẩm thực, giao lưu bài chòi, hát hố và tham quan biển bằng thuyền nan. Du khách cũng có thể lưu trú tại các homestay do người dân địa phương vận hành để cảm nhận rõ hơn nhịp sống của làng.

Điểm đặc biệt của Gò Cỏ nằm ở cách cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia bảo tồn và phát triển du lịch. Năm 2020, làng được công nhận là điểm du lịch cộng đồng đầu tiên của Quảng Ngãi đạt OCOP 3 sao. Với sự kết hợp giữa cảnh quan ven biển, dấu tích văn hóa lâu đời và trải nghiệm cùng người dân, Gò Cỏ phù hợp với du khách muốn tìm hiểu sâu hơn về không gian văn hóa Sa Huỳnh qua một ngôi làng còn giữ được nét mộc mạc.

Có gì để trải nghiệm

  • Đi bộ xem đường đá, tường đá, giếng cổ
  • Theo người làng đi biển, trồng khoai, đan lưới
  • Chèo thuyền tre ven biển
  • Nghe hát bài chòi buổi tối
  • Nghỉ đêm ở homestay nhà dân

Từ khóa

  • du lịch cộng đồng
  • làng chài
  • Văn hóa Sa Huỳnh
  • giếng Chăm
  • OCOP 3 sao
  • Sa Huỳnh

Làng cộng đồng

Làng Ba Na Kon Tum

Các làng Ba Na hai bên sông Đăk Bla quanh trung tâm Kon Tum cũ, với nhà rông và nhà sàn giữa làng.

Quảng Ngãi

Câu chuyện

Qua cầu treo Kon Klor bắc ngang sông Đăk Bla ở trung tâm Kon Tum cũ, nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi, bạn đã ở giữa vùng làng của người Ba Na. "Làng Ba Na Kon Tum" không phải tên một làng: đây là cách gọi chung các làng Ba Na hai bên sông quanh phường Kon Tum và xã Đăk Rơ Wa, mỗi làng có tên, nhà rông và nếp sinh hoạt riêng.

Người Ba Na nói tiếng thuộc nhóm Môn - Khơ Me, gồm các nhóm địa phương như Rơ Ngao, Rơ Lơng, Tơ Lô, Gơ Lar Krem; điều tra năm 2019 ghi 286.910 người, sống ở Kon Tum cũ, Gia Lai và vùng núi phía tây Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Họ ở nhà sàn; giữa làng là nhà rông mái cao, nơi làng họp bàn, xử việc, làm lễ, mở hội và dạy dỗ thanh thiếu niên. Xã hội Ba Na còn dấu vết mẫu hệ, thấy rõ ở tục luân cư: sau cưới, vợ chồng ở luân phiên bên nhà vợ và nhà chồng rồi mới ra ở riêng.

Quanh trung tâm Kon Tum cũ, năm 2023 có ba làng làm du lịch cộng đồng: Kon Klor bên cầu treo, Kon K'Tu và Kon Jơ Dri ở xã Đăk Rơ Wa. Kon K'Tu ra mắt làng du lịch cộng đồng tháng 7/2020, Kon Jơ Dri tháng 2/2023; hai làng này có mục riêng trong Localis. Nhà rông Kon Klor nằm trên đường Trần Hưng Đạo, ngay cạnh đầu cầu treo.

Việc bạn làm được ở các làng này: đi bộ trên cầu treo nhìn làng, ruộng lúa, ruộng ngô hai bên sông; xem nhà rông; xem phụ nữ dệt thổ cẩm; nghe cồng chiêng, xem múa xoang của đội văn nghệ làng; ngủ homestay nhà sàn. Nghề dệt thủ công truyền thống của người Ba Na ở thành phố Kon Tum cũ và các huyện Đăk Hà, Sa Thầy, Kon Rẫy được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2023.

Nói thẳng về mặt hạn chế: năm 2023, lãnh đạo thành phố Kon Tum cũ thừa nhận du lịch cộng đồng ở đây chưa tương xứng tiềm năng, nhiều hộ chưa biết cách tổ chức, sản phẩm còn đơn điệu, thiếu chỗ cho khách trải nghiệm nghề. Đừng mặc định lúc nào đến cũng có biểu diễn; muốn xem cồng chiêng hay học dệt, hãy hỏi trước hộ làm homestay.

Kon Tum có mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, chiều tối thường se lạnh. Sân bay gần nhất là Pleiku, cách khoảng 45 km, đi ô tô chừng một giờ.

Làng là nơi người Ba Na đang sống, nhà rông là không gian chung của làng. Hỏi người trong làng trước khi lên nhà rông, trước khi chụp ảnh cận cảnh người và nhà, và đừng tự ý cầm vào đồ vật trong nhà rông.

Nếu chỉ có vài giờ, đi bộ qua cầu treo Kon Klor rồi ghé nhà rông là đủ để hình dung. Nếu muốn ngủ một đêm trong nhà sàn và xem dệt, hãy chọn Kon K'Tu hoặc Kon Jơ Dri. Bảo tàng Kon Tum trên đường Nguyễn Huệ là chỗ nên ghé trước để có bối cảnh về các dân tộc bản địa và di chỉ Lung Leng.

Có gì để trải nghiệm

  • Tham quan làng
  • Tìm hiểu nhà rông, nhà sàn
  • Giao lưu với cộng đồng Ba Na

Từ khóa

  • Ba Na
  • nhà rông
  • nhà sàn
  • sông Đăk Bla
  • Kon Tum
  • Tây Nguyên

Quà lưu niệm

Đặc sản Cá bống Sông Trà

Cá bống nhỏ cỡ đầu ngón tay bắt trên sông Trà Khúc, kho tiêu với nước mắm và đường thắng cho khô ráo, đóng hũ làm quà mang về từ Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi

Câu chuyện

Cá bống sông Trà từ lâu đã trở thành niềm tự hào to lớn và là mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh ẩm thực trứ danh của vùng đất Quảng Ngãi. Dòng sông Trà Khúc êm đềm với nguồn nước lợ giao thoa đã nuôi dưỡng nên một loài cá bống tuy có kích thước nhỏ bé nhưng lại mang hương vị ngọt thơm, thịt chắc và dai ngon hiếm nơi nào có được. Đối với những người con xa xứ hay lữ khách phương xa, món cá bống rim tiêu luôn là thức quà dân dã mang đậm hơi thở mộc mạc của miền Trung nắng gió.

Để làm nên một nồi cá bống chuẩn vị, người dân địa phương thường đi đánh bắt bằng những chiếc ống tre thả dọc theo hai bên bờ sông vào mùa hè. Cá tươi rói sau khi làm sạch được ướp kỹ cùng nước mắm cá cơm truyền thống, đường, hành tỏi và đặc biệt là rất nhiều tiêu đen. Từng mẻ cá sẽ được kho rim liu riu trên bếp lửa hồng bằng chiếc niêu đất cho đến khi nước sốt keo lại. Thành phẩm ra lò là niêu cá mang màu nâu cánh gián bóng bẩy, thịt cá săn chắc, thấm đẫm gia vị mặn ngọt đậm đà và cay nồng đầy quyến rũ.

Không gì tuyệt vời hơn khi được thưởng thức bát cơm trắng nóng hổi ăn kèm với cá bống sông Trà trong những ngày tiết trời se lạnh. Vị mặn mòi, béo ngậy tan nơi đầu lưỡi chắc chắn sẽ đánh thức mọi giác quan của thực khách. Đặc sản này hiện được đóng gói cẩn thận trong các hũ kín, trở thành món quà biếu tặng vô cùng ý nghĩa và tiện lợi sau mỗi chuyến đi.

Có gì để trải nghiệm

  • Mua cá bống kho tiêu đóng hũ làm quà
  • Ăn cá bống kho tiêu với cơm trắng, cháo trắng
  • Hỏi người bán về nguồn cá và hạn dùng

Từ khóa

  • đặc sản Quảng Ngãi
  • cá bống sông Trà
  • cá bống kho tiêu
  • sông Trà Khúc
  • quà mang về

Dữ liệu từ hệ thống Localis. Các địa điểm đang được biên tập dần thành bài viết và hồ sơ điểm đến.